ĐI TÌM LỊCH SỬ MÓN NƯỚC MẮM

logo-bay-gio-ke

cuoi-1NƯỚC MẮM VIỆT NAM :

BIỂU TRƯNG SẺ CHIA…

Điều gì làm nên sự khác biệt giữa ẩm thực Việt Nam với ẩm thực còn lại của thế giới ? Đó chính là nước mắm, cho dù Việt Nam không phải là nơi duy nhất “ăn” nước mắm, càng không phải là nơi khai sinh ra thứ “nước cốt thần thánh” này.

Ngàn xưa đã là đặc sản

Sử liệu và chứng tích khảo cổ học được các nhà sử học châu Âu công bố cho biết nước mắm ra đời từ Carthage, một nước cộng hòa cổ ở Bắc Phi, nay là một phần của Tunisia. Từ thế kỷ II trước Công nguyên, cư dân Carthage đã phát minh ra kỹ thuật ướp cá biển với muối, kết hợp với sức nóng của ánh mặt trời vùng Địa Trung Hải để tạo ra thứ nước mắm Carthage, không chỉ để dùng mà còn để bán sang các nước láng giềng ở bờ bên kia Địa Trung Hải.

Năm 146 trước Công nguyên, người La Mã thôn tính Carthage và chiếm đoạt luôn bí quyết chế biến nước mắm của người Carthage. Từ Bắc Phi, kỹ nghệ làm nước mắm được du nhập vào La Mã, rồi lan tỏa đến các xứ Cartagena và Baelo Claudia (nay thuộc Tây Ban Nha) và Bretagne (nay thuộc Pháp), được dân châu Âu cổ xưa gọi bằng một cái tên chung là garum.

Dấu tích của garum trong nền ẩm thực châu Âu hiện hữu trong cổ sử La Mã 9-nuoc-mam-1avà trong những chiếc bình gốm cổ cao gọi là amphora, từng là bình đựng garum, nay đang trưng bày trong Bảo tàng Pompei (Ý) và trong một phế tích khảo cổ ở vùng Bretagne thuộc Pháp.

Vào thế kỷ V sau Công nguyên, từ châu Âu, garum và kỹ thuật chế biến ra thứ nước cốt này đã theo “con đường tơ lụa trên biển” thâm nhập vào châu Á, trở thành yulu (魚露) của người Trung Hoa, ishiri (nước mắm làm từ mực) và ishiru (nước mắm làm từ cá) của người Nhật Bản, nam pla của người Thái, kecap ikan của người Indonesia, patis của người Philippines, hay nước mắm của người Việt…

Trong gần 1.000 năm, từ thế kỷ V đến thế kỷ XIV, nước mắm đã được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực Trung Hoa và ẩm thực Nhật Bản, cho đến khi người Tàu tìm ra cách thức ủ men đậu nành để làm ra nước tương và dùng thứ nước này làm gia vị thay cho nước mắm, thì nước mắm mới bị lãng quên dần và rời khỏi nền ẩm thực của cả Trung Hoa lẫn Nhật Bản.

Không có nguồn sử liệu nào ghi lại thời gian và nơi khai sinh ra nước mắm ở Việt Nam, ngoại trừ một số tư liệu truyền khẩu. Tuy nhiên, những phát hiện khảo cổ học và một số sử liệu liên quan đã góp phần xác nhận điều này. Theo đó, về vương quốc Champa ở vùng Nam 9-nuoc-mam-1Trung bộ Việt Nam hiện nay từng là một “cường quốc biển”.

Thuyền buôn của người Chăm từng vượt biển đi buôn bán với các nước Arab, sang tới Địa Trung Hải. Các nhà khảo cổ học ở Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á và Thái Bình Dương của Đại học Sydney (Úc) đã tìm thấy một con tàu đắm chở các thùng gỗ chứa nước mắm trên một thương thuyền Champa sang buôn bán với La Mã cổ đại (khoảng thế kỷ IV sau Công nguyên).

Cuốn Việt sử đầu tiên có đề cập nước mắm là “Đại Việt sử ký toàn thư”, bản khắc in vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697), khi viết về sự việc vua Tống Chân Tông của nhà Tống ở Trung Hoa vào năm 997 đã ban chiếu phong vương cho vua Lê Đại Hành của Đại Việt và bãi bỏ lệnh đòi Đại Việt cống nước mắm mà triều đình Trung Hoa đã đặt ra trước đó. Như vậy thì muộn nhất là vào thế kỷ X, người Việt đã biết làm và dùng nước mắm.

Là gia vị, là món ăn chính

Vậy là nước mắm Việt đã có một lịch sử lâu đời, chí ít cũng hơn 1.000 năm tuổi. 9-nuoc-mam-2Và, cho dù nước mắm được phát minh ở châu Phi, được người châu Âu tiếp nhận rồi lan truyền sang châu Á; cho dù người Tàu và người Nhật biết đến và sử dụng nước mắm trước người Việt Nam cả 500 năm; cho dù người Hàn Quốc, người Thái Lan, người Philippines ngày nay vẫn còn dùng nước mắm trong nền ẩm thực của họ. Thì, nước mắm vẫn là tinh hoa của ẩm thực Việt, là tiêu chí để nhận diện ẩm thực Việt. Vì sao ?

Trước tiên là vì cái cách mà người Việt dùng nước mắm trong nền ẩm thực của mình. Nếu người các xứ khác coi nước mắm chỉ là thứ dung môi để bảo quản thực phẩm như người Hàn Quốc dùng nước mắm trong chế biến kim chi, hay coi nước mắm là một thứ gia vị nêm nếm để làm cho món ăn ngon hơn như người Thái dùng nước mắm trong các món gỏi…, thì nước mắm vừa là nguyên liệu, vừa là gia vị, vừa là món ăn chính, vừa là dược liệu trong nền ẩm thực Việt Nam.

Là nguyên liệu bởi hầu như tất cả món ăn của người Việt đều phải dùng đến nước mắm, đặc biệt là các món luộc, món gỏi. Nếu không có nước mắm được chế biến thành nước chấm thì các món này sẽ bất thành, vì tự thân chúng không thể trở thành một món ăn mà phải “sống”9-nuoc-mam-3 nhờ vào nước mắm và các loại nước chấm có sử dụng nước mắm (hay nước tương) để chế biến.

Là gia vị bởi ngoài thực phẩm chay, thì hầu như món ăn nào của người Việt cũng đều dùng nước mắm để nêm nếm nhằm tăng thêm hương, thêm vị và thêm chất, khiến cho món ăn trở nên ngon hơn, đậm đà hơn và quyến rũ hơn. Mà cái sự nêm nếm bằng nước mắm của người Việt mới phong phú, tinh tế và vi diệu làm sao: Có món phải ướp nước mắm trước khi nấu mới ngon – như các món kho; có món vừa nêm vừa nấu thì nước mắm mới làm dậy mùi thức ăn – như các món xào; có món nấu chín rồi mới nêm thêm chút nước mắm để cho “vừa miệng” – như món canh; có món vừa ăn vừa nêm tùy theo khẩu vị của từng người – như món cháo…

9-nuoc-mam-4

Là món ăn chính là bởi vì tự thân nước mắm đã là một món ăn. Chỉ cần chan chút nước mắm lên chén cơm trắng hay những sợi bún tươi làm từ gạo là người Việt đã có được một bữa no. Nếu có thêm chút chanh, ớt, tỏi, đường nêm vào chén nước mắm nguyên chất; hoặc là rim nước mắm cùng với những thứ gia vị miền quê trên bếp lửa riu riu để trở thành món kho quẹt của người Nam Bộ thì món nước mắm đơn sơ ấy đã được “lên đời” thành một món ngon, nhất là đối với những người cần lao.

Là dược liệu hữu ích khi nước mắm cung cấp độ đạm cao cho người ăn. Đó là thứ đạm từ cá, vốn lành tính, tốt và an toàn cho sức khỏe của con người hơn so với đạm từ thịt động vật. Với người dân miền biển, nước mắm là một thứ dưỡng chất bồi bổ sức khỏe và tăng cường sinh lực. Vì thế trước khi lặn xuống biển sâu để đánh bắt hải sản, họ thường uống hay ngậm một ngụm nước mắm để chống lạnh và đề kháng với sức nước ép của nước biển. Nước mắm có công dụng kỳ diệu vậy đó.

9-nuoc-mam-7Thứ đến, nước mắm chính là linh hồn của ẩm thực Việt, là thứ làm cho ẩm thực Việt khác với ẩm thực của các nước khác, thậm chí, có người còn cho rằng nước mắm là thứ có thể làm biến đổi món ăn của tha nhân thành món ăn Việt. Vì thế mà có chuyên gia ẩm thực đã nhận xét: “Bất cứ món ăn nào của Trung Hoa hoặc Pháp có sự góp mặt của nước mắm trong đó, đã trở thành món ăn Việt Nam. Giá trị của nước mắm vì thế trở nên độc nhất vô nhị trong nghệ thuật ẩm thực nói riêng, trong sức sống mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam nói chung”.

Sau cùng, nước mắm biểu trưng cho sự đoàn kết và chia sẻ trong bữa cơm của người Việt. Ở đó, chén nước mắm đặt chính giữa mâm cơm, tuy ít, lại không phải là cao lương mỹ vị, nhưng là món mà mọi người đều hướng đến, đều dùng và dùng vừa đủ mà không hề có ý độc chiếm, hay dùng nhiều hơn như đối với những món ăn khác. Có thể nói, trong bữa cơm Việt, mọi người đều dân chủ và bình đẳng như nhau trước chén nước mắm. Liệu có món ăn nào tải được giá trị nhân văn lớn lao như vậy hay khôn ? (theo Dân Việt – 26/1/2017)

bang-hoangH1: Chiết nước mắm vào tĩn ở Phú Quốc những năm 1950  1960. H2: Những chiếc hũ dùng để đựng nước mắm chất thành đống cao tại một tỉnh Nam Kỳ – Fabrique de nuoc-mam à Phuoc Haï 1931-54.

H3: Khằn nắp cho tĩn nước mắm. H4: Nước mắm được chuyên chở bằng ghe đi khắp Nam Kỳ Lục tỉnh.

H5: Một chành (đại lý) nước mắm ở Sài gòn. H6: Tĩn nước mắm. H7: Tĩn nước mắm đồ cổ trong thời nay còn giữ được.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

logo-ts-cung-nhau

hng-ng-van-danh-2Thưa Thầy Cô và các anh chị trên Diễn Đàn

Cách nay khá lâu, từ năm 2003 tôi có trao đổi với Thạch Bích về đề tài nguồn gốc Nước Mắm ở Việt Nam và trên thế giới có từ khi nào ?

Câu hỏi được đặt ra và việc tìm tòi kéo dài mãi đến hôm nay. Gởi đến Diễn Đàn các thông tin mà Thạch Bích đã tìm được gần 14 năm trước và những thông tin trên báo chí gần đây, tuy nhiên chưa có câu trả lời dứt khoát về đề tài này. Mong có thêm ỳ kiến và đóng góp của mọi người. Thân

Nguyễn Văn Danh

thieu-nu-2Trích thư : ngày 7/10/2003 của Thạch Bích

Hi anh Danh !

Không ngờ đề tài nước mắm lại hóa ra lý thú và phong phú đến thế ! Mấy ngày rồi TBích trích ra khoảng bốn, năm chục trang tài liệu, tạm tóm tắt lại như sau :

Nước mắm có khoảng 800 năm trước Công nguyên (BC) từ vùng biển miền Nam nước Tây Ban Nha (Spain), Bồ Đào Nha (Portugal) và vùng Biển Đen (Black sea), tới thế kỷ thứ 4 BC người Hy Lạp (Greece) bắt đầu làm nước mắm, rồi mới tới người  La Mã  (Roman). Nước mắm cũng làm bằng cách ngâm cá và muối vào trong hũ, chờ phân hóa. Nhưng người xưa vùng Địa  Trung Hải có vẻ “háu ăn”, nên đem phơi nắng, vì thế qúa trình làm mắm chỉ hai, ba tuần thôi.

Điều thú vị là họ cũng đã làm mắm bằng cá Cơm hay loại cá Gavros (vì vậy nước mắm có tên theo tiếng Hy lạp là Garum, tếng La tinh là Liquamen). Garum có cả ở thể lỏng lẫn đông đặc (paste). Người  La Mã  đã biết pha nước mắm với rượu nho, dấm, hay đơn giản với nước và cho thêm vào đó cả cỏ thơm. Theo sử sách năm 968 Hoàng Đế Nikophoros đệ nhị còn khoản đãi Sứ gỉa của Đức Giáo hoàng Otto đệ nhất món cừu tẩm Garum quay.

Từ thế kỷ XI người ta quay trở lại dùng muối làm gia vị mặn, có lẽ vì ngán mùi vị hơi nặng của Garum, hay vì sự sụp đổ của Đế quốc  La Mã, đồng thời là sự lớn mạnh của các giống dân, nền văn hóa khác không biết ăn nước mắm. Ngày nay chỉ còn rải rác ở một số nhà hàng ở Tây Ban Nha, 9-nuoc-mam-5Bồ Đào Nha, Ý còn có bán vài món với Garum. (TBích kiếm được vài thực đơn).

Đọc các bài về “món ăn 3 miền” ở Việt Nam thấy nói đến tương phố Bần/ Hải Phòng, tương Nam Đàn/ Nghệ An … trong khi có nước mắm  Phan Thiết, Phú Quốc, Huế và gần như tỉnh ở vùng biển “miến Nam” nào cũng làm mắm, tuy không nổi tiếng hay ở quy mô lớn. Có bài viết về đặc sản Việt Nam cũng khẳng định là : Tương là món chấm của miền Bắc và mắm, nước mắm là đặc sản của “miền Nam”.

Miền Nam ở đây đưọc hiểu là vùng do Chúa Nguyễn mở mang, cai quản. Như thế nước mắm ở Việt Nam phải có sau thế kỷ 15. Rất tiếc chưa kiếm được tài liệu nào nói rõ năm, tháng và ai đã bày ra làm nước mắm! Hãng nước mắm Thanh Hà ở Phú Quốc hãnh diện là cơ sở “dày truyền thống”, làm nước mắm qua nhiều đời … có từ 200 năm nay. Cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 chắc chưa có nước mắm, nếu không Trạng Quỳnh đã mời Vua dùng và đã không có câu chuyện “Đại phong”.

Trong bài về “thịt bò thư Tây Sơn” cho biết cách làm như sau : Thịt bò tẩm đường, ớt, tỏi, sả và nước mắm, để lửa riu riu, chiên dầu lạc khoảng hai, ba tiếng, rồi đem hong gío cho khô. Thịt bò làm như vậy giữ được vài tuần không thiu. Người ta kể rằng nữ tướng Bùi thị Xuân đã bày ra cách làm bánh tráng. Trong cuộc bắc tiến của Quang Trung, ngoài cách chia tổ ba người, thay nhau hai võng một, lương thực mang theo là bánh đa, thịt bò thưn, túi nước mắm … nghĩa là những món “ăn liền”, vì thế cuộc tiến binh rất nhanh lẹ, gây ra yếu tố bất ngờ cho quân Thanh và đưa tới chiến thắng năm Kỷ dậu 1789. Từ những dữ kiện trên ta có thể đi tới kết luận nước mắm có ở Viêt Nam dưới 300 năm nay.

Ở Á châu 3 nước có nước mắm là Việt Nam, Phi luật tân (Patis) và Thái Lan (Nam Pla, Nam là nước và Pla là cá).

9-nuoc-mam-6

Có lẽ không phải là sự ngẫu nhiên dân Việt nam và Phi Luật tân ăn nưóc mắm. Như đã viết ở trên nước mắm khởi thủy từ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Phi Luật Tân là thuộc địa của Tây Ban Nha từ giữa thế kỷ 16 tới giữa thế kỷ 20 (năm 1946). Còn ở Việt Nam những thương gia Bồ Đào Nha tới Hội an từ thế kỷ 16. Đức cha Alexander de Rhodes, người đã soạn ra tiếng quốc ngữ, là người Bồ Đào Nha và đã tới Việt Nam năm 1624.

Thời Tự Đức khoảng 100.000 người theo đạo Công gíao đã bị chém đầu  Năm 1988 Đức Gíao Hoàng Paul II đã phong thánh cho 96 vị tử đạo Việt Nam, trong đó có 11 người gốc Tây Ban Nha. Như thế các tu sĩ, thương gia người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã tiếp xúc với người Việt Nam, đúng hơn là miền Nam từ đầu thế kỷ 17. Liên hệ của nhà Nguyễn với Tây Phương, trong đó có Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, lâu dài và chặt chẽ hơn.

Điển hỉnh là vụ Nguyễn Ánh (Vua Gia Long) khi bị Quang Trung đánh, chạy về Hà Tiên, đã giao Hoàng Tử Cảnh cho Giám mục Bá đa Lộc, nhờ đưa qua Pháp cầu viện ! Về sau các vị thừa sai ra ngoài Bắc giảng đạo, nhưng những vùng các vị hoạt động mạnh là Bùi chu (sau này Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn cai quản), Phát diệm, Thái Bình … không nằm ngay bờ biển (bắt cá làm nước mắm).

9-nuoc-mam-9Tóm lại TBích nêu ra một gỉa thuyết táo bạo : Các tu sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha không những đã đưa chữ Quốc ngữ, mà còn du nhập nước mắm vào Việt Nam nữa !

Thái Lan được thành lập ở cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai, khi một sắc tộc ở miền Nam Trung Hoa  bị đánh đuổi, lui dần về hướng Nam (có lẽ vì vậy ở miền cao nguyên vùng Tây bắc của Việt nam còn dân tộc thiểu số Thái Trắng, Thái Đen …). Sau này Thái Lan lại chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Ở thế kỷ 20 Thái Lan tiếp xúc với Anh, Nhật và sau Thế chiến thứ hai với Mỹ. Như thế đáng nhẽ dân Thái không ăn nước mắm. Nhưng ở Thái, nhất là vùng miền Bắc Thái Lan người Việt Nam sinh sống khá đông, nên có lẽ nước mắm do những người Việt Nam ở đó làm ra.

Trên những chai nước mắm của Thái Lan luôn luôn có đề chữ Việt, thậm chí có nhiều sản phẩm còn tự cho là “nước mắm Phú Quốc” nữa. Cũng có thể họ làm thế để nhắm vào giới tiêu thụ người Việt Nam. Nhưng dù sao đi nữa qua đó cũng thấy ảnh hưởng của Việt Nam vào nước mắm Thái Lan. Cũng như câu hỏi được đặt ra, tại sao họ không đề tiếng Phi Luật Tân ?

9-nuoc-mam-8Từ việc tìm hiểu về nước mắm, dẫn đến những câu hỏi, vấn đề khác, thí dụ về muối, bột ngọt … và những nghiên cứu khoa học về các gia vị này … rất lý thú và hữu ích, vì có nhiều ý kiến rất thực dụng và liên quan trực tiếp tới sức khỏe của mình. Nhưng nói quàng ra như vậy, nói mãi chẳng hết!

Suy nghĩ của TBích là vậy đó. Nếu anh có tài liệu nào mới, lạ gửi cho TBích đọc với. TBích cần một thời gian để tìm tài liệu, đọc thêm trong lãnh vực văn chương, thí dụ ca dao, thơ, truyện … và lịch sử… có liên quan tới nước mắm. TBích dự định sau đó sẽ viết lên D/Đ và có thể sẽ phổ biến trên những phương tiện rông rãi hơn. Anh nghĩ sao? Mong tin. Thân chào,

Thạch Bích

Trích thư : ngày 17/11/2003 của Thạch Bích

Thời gian qua TBích thu thập thêm được một số tài liệu rất thú vị liên quan tới nước mắm, từ ca dao, thơ văn, tới nhạc … 9-nuoc-mam-10Có một điều TBích thấy không ổn vì Chile là nước có hạm đội đánh cá Cơm lớn nhất thế giới và cũng như các nước vùng Châu Mỹ La tinh, Chile chịu ảnh hưởng của Tây ban Nha (Spain) khá nhiều. Vậy mà ở Chile tuy có dùng và làm nước mắm, nhưng không phổ biến rộng rãi như ở Việt Nam ?!

Điều này khiến ta khó biện hộ cho gỉa thuyết của mình ! (VN, nhất là vùng biển miền Nam có cá Cơm và tiếp xúc, gần gũi với các vị Thừa sai, truyền giáo người Tây ban Nha). TBích đang suy nghĩ, kiếm thêm tài liệu về phong thổ, tập quán của dân miền Nam Mỹ. Không ngờ đề tài nước mắm trở thành rắc rối và rông rãi quá ! Hơn nữa thời gian này TBích hơi bận trong hãng một chút, nhưng sẽ cố gắng thu xếp thì gìờ, để víết những loạt bài về đề tài này, dĩ nhiên sẽ hội ý với anh trước đó.

TBích tạm dừng ở đây và chúc anh một tuần mới vui mạnh và có nhiều thành qủa tốt. Thân chào,

Thạch Bích

Lời bàn của Cao Bồi Già : đọc lại bài viết của Thạch Bích từ năm 2003, tìm hiểu sưu tầm về nguồn gốc nước mắm, và bài trên mạng năm 2017 của trang mạng Dân Việt đều gần như trùng khớp. Như thế phải hiểu : Thạch Bích người đi đầu tìm hiểu về lịch sử nước mắm hơn mười mấy năm về trước. Xin được hoan hô !

logo-phiem

hng-huynh-v-yen-2CÁ CHÉP VÌ SAO NGÀN NĂM

VẪN KHÔNG THỂ ‘HOÁ RỒNG’?

Tương truyền, tại vùng đất Thần Châu có một dòng sông linh thiêng được gọi là Hoàng Hà. Nếu nhìn từ trên cao, sông Hoàng Hà trải dài từ tây sang đông tựa như một con rồng đang uốn lượn giữa mây ngàn.

Ở vùng trung du Hoàng Hà có một ngọn núi tên là Long Môn, nghĩa là “cửa rồng”. Vì sao lại có tên gọi này ? Tục truyền rằng, khi Đại Vũ trị thủy, ông đã xẻ núi cho nước chảy xuyên qua đá, tạo nên một cảnh tượng tráng quan hùng vĩ. Vì chỉ có Thần Long mới có thể vượt qua vách núi ấy nên dân gian gọi đó là “Long Môn”.

Người ta nói, cá chép trên sông Hoàng Hà nếu có thể nhảy qua Long Môn thì sẽ hóa rồng. Nhưng Long Môn là vách đá cao sừng sững, sông Hoàng Hà đổ đến đây tuôn trào như thác, dòng nước ào ạt dội xuống mãnh liệt tựa thiên binh vạn mã. 9-ca-chep-3Cá chép muốn bơi ngược thác nước hùng vĩ ấy mà nhảy qua Long Môn thì quả thực còn khó hơn lên Trời.

Bởi vậy, đó phải là con cá chép có phẩm chất siêu phàm, tích xưa kể rằng trong miệng con cá chép ấy có ngậm một hạt thần châu. Có lẽ phải mất hàng ngàn năm, hàng ức vạn năm mới có thể xuất sinh một con cá chép như vậy.

Vì thế mà có câu chuyện dưới đây :

Chuyện kể rằng, kể từ ngày Cá Chép hóa Rồng, rất nhiều cá chép khác trên sông Hoàng Hà phấn khích mà kết bầy bơi ngược dòng đến dưới Long Môn. Bất quản dòng nước Hoàng Hà hung hãn thế nào, luôn có vô số con cá chép liều mình nhảy lên, và cho dù có rơi xuống đến trầy da tróc vảy chúng cũng không hề bỏ cuộc.

Thế nhưng đã rất nhiều năm trôi qua, không một con cá chép nào có thể chạm đến Long Môn. Chúng quá thất vọng bèn kéo nhau đến gặp vua Thủy Tề, xin Thủy Tề vương hãy hạ Long Môn thấp xuống, bởi nếu không sẽ chẳng có con cá nào thành rồng được.

Sau một hồi tranh luận làm rung chuyển thủy cung, cuối cùng vua Thủy Tề cũng đồng ý hạ Long Môn thấp xuống để tất cả cá chép đều có thể dễ dàng nhảy qua. Lẽ dĩ nhiên, tất cả chúng đều được trở thành rồng. 9-ca-chep-1Lúc đầu, đàn cá chép rất hân hoan vui sướng vì cuối cùng chúng đã toại nguyện – đó quả là kỳ tích mà phải trải qua hàng ức vạn năm mới có thể xuất hiện một lần.

Nhưng sau một thời gian, chúng nhìn nhau và tự hỏi: Rốt cuộc thì làm rồng và làm cá chép có gì khác nhau ? Tất nhiên không con nào có thể trả lời được vì tất cả chúng đều giống y hệt như nhau. Thế là đàn cá chép lại cùng nhau gặp vua Thủy Tề để than vãn, rằng chúng phải nhọc sức vượt Long Môn để hóa rồng, vậy mà khi trở thành rồng rồi lại chẳng có gì thú vị hơn khi làm cá chép.

Thủy Tề vương cười lớn và nói rằng : “Kỳ thực trong các ngươi chưa có ai trở thành rồng cả. Long Môn mà các ngươi dễ dàng nhảy qua thật ra lại là giả. Ta thấy các ngươi đáng lẽ phải nỗ lực một phen gian khó, nâng cao tiêu chuẩn bản thân… vậy mà không những không cố gắng lại còn đến gặp ta kêu ca. Bởi vậy ta đã che đi Long Môn thật và dựng lên Long Môn giả để các ngươi thỏa nguyện. Chứ Long Môn thật được tạo thành bởi linh khí của trời đất, đừng nói là ta, ngay đến Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng không hạ xuống cho các ngươi được đâu.”

Cuối cùng, vua Thủy Tề nói : “Nếu tất cả cá chép đều thành rồng dễ dàng thì ‘rồng’ rốt cuộc cũng chỉ là một tên gọi khác của loài cá chép mà thôi. Nếu các ngươi muốn biết rồng thật sự khác cá chép thế nào, thì chỉ có một cách duy nhất là bằng mọi giá vượt qua Long Môn thật. 9-ca-chep-2Khi đó, ai chỉ là cá còn ai là Rồng thì các ngươi sẽ phân biệt ra ngay.”

Lời bàn : Tất cả cá chép đều có cơ hội trở thành rồng, nhưng thành hay bại lại là do bản thân nỗ lực như thế nào, chứ không phải là bởi tiêu chuẩn ấy có hạ thấp hay không. Nếu quả thực tiêu chuẩn được hạ thấp rồi, thì dẫu có “đạt”, vẫn chỉ là mang một tên gọi khác của chính mình mà thôi.

Do đó, cá chép muốn hóa rồng thì chỉ còn cách là nỗ lực bơi ngược dòng mà nhảy qua Long Môn. Một bậc cao nhân từng giảng, đại ý rằng : xã hội nhân loại cũng giống như dòng chảy lớn. Người ta nếu cứ xuôi theo dòng thì vĩnh viễn sẽ chìm ngập trong vũng lầy ô trọc nơi trần thế. Bởi vậy, cá chép cần phải “bơi ngược dòng”, còn con người thì cần “phản bổn quy chân”, rũ bỏ những cái xấu xa bại hoại mà tìm về với bản tính ban sơ của mình, đó là Chân, Thiện, Nhẫn.

Vì khó khăn gian khổ như thế nên cánh cửa tu luyện dẫu rộng mở vẫn chỉ có rất ít người dám đặt chân vào. Nhưng khi khó khăn qua đi thì huy hoàng sẽ tới. Người chân tu cuối cùng sẽ đắc Đạo, thăng thiên, như cá chép hóa rồng, được tận hưởng những điều mỹ diệu của thế giới nơi Thiên Thượng. Đó là điều mà người bình thường không thể hiểu hay cảm nhận cho được. Người phàm chỉ có thể biết thế giới mình đang sống chứ không thể cảm thụ được cảnh giới cao hơn của sinh mệnh…

Rốt cuộc thì, cá bơi dưới nước, Rồng bay trên Trời. Long Môn vẫn luôn ở đó, cơ hội hóa rồng vẫn dành cho bất cứ ai, chỉ có điều cá có đủ dũng khí để vượt qua hay không…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Bản tin số 060/2585 – Ngày 1/3/17

logo-ban-tin-1

6-cu-cai-1CỦ CÀI TRẮNG KHỔNG LỒ,

TO GẦN BẰNG EM BÉ !

Một gia đình ở Lâm Đồng vừa thu hoạch được một củ cải trắng khổng lồ, cân nặng tới 5,5kg gần bằng trọng lượng trung bình của em bé vài tháng tuổi.

Ngày 6/2/2017, anh Thế Anh (32 tuổi), ngụ tại thị trấn Nam Ban (Lâm Đồng) cho biết, gia đình vừa thu hoạch được một củ cải trắng nặng hơn 5kg, sau 2 tháng rưỡi gieo trồng thử nghiệm.

Theo chủ nhân của củ cải “khủng” này, đây là giống cải có nguồn gốc từ Nhật Bản, được gọi là Sakurajima, trồng nhiều ở tỉnh Kagoshima (Nhật Bản). Anh Thế Anh đã mua về được 30 hạt và gieo trồng thử nghiệm tại vườn của gia đình.

Sau 2,5 tháng gieo trồng, chăm sóc theo phương pháp hữu cơ, đến nay vườn cải của anh Thế Anh cho 22 cây cải có củ nổi lên mặt đất. Vừa qua, anh Thế Anh nhổ thử một củ cải và bất ngờ với cân nặng của nó tới 5,5kg. 6-cu-cai-2Tết Đinh Dậu vừa qua, gia đình anh Thế Anh cũng đã đem một số củ cải vào nhà trưng bày khiến những người chứng kiến trầm trồ thán phục.

Đây là giống cải có nguồn gốc từ Nhật Bản, được gọi là Sakurajimatrồng nhiều ở tỉnh Kagoshima (Nhật Bản) và hiện gia đình anh Thế Anh đang sở hữu 22 củ cải “khủng” Được biết, đây là giống củ cải với hàm lượng chất xơ lớn và ngọt. Ở Nhật thường được xay thành nước uống, ăn sống, nấu ăn và muối dưa. (theo Ngọc Hà)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

sg-xuan-maiNHỮNG THÀNH PHỐ “KỲ DỊ”

ĐẾN MỨC KHÓ TIN

Với những điểm nổi bật như thị trấn phụ nữ thoải mái lấy chồng, ngôi làng không có nghĩa địa… đã thu hút nhiều du khách đến thăm quan hiếu kỳ.

1/- Thị trấn tâm linh : Thị trấn tâm linh Lily Dale, New York, Mỹ là nơi có số người theo thuyết tâm linh đông nhất trên thế giới. Hàng năm, nơi đây thu hút nhiều du khách đến thăm quan, học hỏi cách chữa bệnh và cách giao tiếp với những người đã mất.

6-thanh-pho-1Lượng du khách mỗi năm khoảng 22.000 – 25.000 người đến thị trấn, con số này hơn rất nhiều lần so với số dân của cả thị trấn là 275 người.

2/- Ngôi làng đa phu : Ngôi làng đa phu ở gần Dehradun, Ấn Độ là nơi phụ nữ có quyền lấy bao chồng tùy ý. Thậm chí, một cô gái có thể lấy tất cả anh em ruột trong một nhà làm chồng, điều này được gọi là huynh đệ cộng thê. Mỗi đêm, người vợ sẽ lần lượt ngủ với mỗi người chồng mà không hề ghen tỵ. Trong gia đình, người chồng cũng phân biệt theo thứ tự lớn, bé và đều thoải mái trong vấn đề chia sẻ với mình với những người chồng khác.

3/- Thành phố của người tý hon : Thành phố của người tý hon ở Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc là vương quốc của những người tí hon như những câu chuyện cổ tích. Đây là nơi có nhiều người tý hon nhất trên thế giới. Những người sống tại đây đều không vượt qua chiều cao là 1,31m, trọng lượng thấp hơn 50kg. Đáng chú ý, họ làm việc trong công viên giải trí nên nhiều du khách đến thăm quan cứ ngỡ đây là vương quốc của người tý hon.

6-thanh-pho-2Tại đây, nhiều người tý hon đã cải trang thành những nhân vật trong chuyện cổ tích để thu hút khách du lịch. Nguồn sống chính của họ là bán đồ lưu niệm và tiền thưởng.

4/- Thị trấn dưới hòn đá “khổng lồ” : Thị trấn nằm dưới tảng đá Setenil de Las Bodegas, Tây Ban Nha được xây dựng dưới một hòn đá “khổng lồ” đã hút hút nhiều người đến sinh sống, du khách đến thăm quan. Qua tìm hiểu, người dân nơi đây có khoảng hơn 3.000 người. Họ đến đây xây nhà dưới hòn đá vững chắc để tránh nóng vào mua hè, tránh lạnh vài mùa đông. Chính sự đặc biệt của thị trấn Setenil, hàng năm nơi đây hut hút hàng trăm nghìn du khách đến thăm quan vì hiếu kỳ.

6-thanh-pho-35/- Thị trấn “khát chồng” : Thị trấn “khát chồng” tại Noiva do Cordeiro, Brasil là nơi của nhiều phụ nữ sinh sống chiếm tỷ lệ 90% so với đàn ông. Do đó, nơi đây phụ nữ luôn sống trong tâm trạng là khát khao lấy được một tấm chồng. Tuy vậy, tỷ lệ về giới tính khiến nhiều người phụ nữ xinh đẹp phải sống cảnh cô đơn.

6/- Thành phố không nghĩa địa : Do thời tiết rất lạnh nên thành phố Longyearbyen, Na Uy không có nghĩa trang để mai táng người chết. Vì nếu mai táng người chết tại đây thì thi thể họ sẽ không bị phân hủy. 6-thanh-pho-4Do đó, mỗi khi có người chết thì người dân nơi đây lại đưa thi thể đến nơi khác mai táng.

7/- Thành phố ăn chay : Để phản đối giết hại động vật lấy thịt, các nhà sư ở thành phố Palitana ở Ấn Độ quyết định ăn chay khiến chính quyền phải nhân nhượng ra lệnh cấm. Từ đấy đến nay, người dân Palitana đều ăn chay.

XuânMai chuyển tiếp

logo-bay-gio-ke

sg-ph-tat-daiCÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC

TRỐNG ĐỒNG VỊT NGÀN NĂM TUỔI

Với 4 tượng vịt được gắn trên mặt trống, bảo vật Quốc gia trống đồng Cẩm Giang được đánh giá là chiếc trống đồng không những đẹp mà còn độc nhất ở Việt Nam.

24 năm trước trống được trả giá 70 triệu đồng

Vào ngày 30/9/1992, ông Bùi Đức Tậu (ở thôn Phú Lai, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa) trong một lần làm vườn đã phát hiện chiếc trống đồng gây xôn xao giới buôn đồ cổ. Chỉ ít ngày sau, những tay buôn khét tiếng từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… đã tìm đường về thôn Phú Lai để mua hàng. Có hai người khách ở Hải Phòng và Hà Nội trả ông Tậu số tiền lên tới 70 triệu 6-trong-dong-1đồng để mua chiếc trống, nhưng ông Tậu chưa bán.

Ở thời điểm đó, 70 triệu đồng là một tài sản có giá trị vô cùng lớn. Ông Tậu nhiều lần phải mang chiếc trống chôn dưới gầm giường để cất giấu phòng bị cướp. Trong khi ông Tậu còn đang lưỡng lự thì ngày 6/1/1993, những cán bộ của Bảo tàng Thanh Hóa đã kịp thời phát hiện và lên tận nơi vận động ông Tậu giao chiếc trống cho nhà nước.

Lúc đầu ông Tậu không đồng ý, bởi mức thưởng mà UBND tỉnh Thanh Hóa chi cho việc phát hiện chiếc trống quý chỉ có 1 triệu đồng, trong khi nếu cân chiếc trống bán theo giá đồng nát thì chiếc trống cũng có giá 2 triệu đồng. Tuy nhiên, khi những cán bộ của Bảo tàng Thanh Hóa lên xe ra về thì ông Tậu đã sai người con trai chạy bộ quãng đường gần 5 km để mời quay trở lại nhận chiếc trống.

Khi giao chiếc trống cho các cán bộ bảo tàng, ông Tậu cũng tiếc nuối lắm, nhưng ông ý thức được đây là tài sản quốc gia nên không dám giữ làm của riêng, lại càng không dám bán cho những người buôn đồ cổ.

Chiếc trống đồng vịt “độc nhất vô nhị”

Điểm đặc biệt làm nên giá trị của trống đồng Cẩm Giang chính là 4 khối tượng vịt trên mặt trống, khiến nó trở thành chiếc trống đồng độc nhất ở Việt Nam. Các khối tượng vịt đều quay theo hướng ngược chiều kim đồng hồ và được đặt trên vị trí trang trọng của mặt trống. Phần tang có 5 vành hoa văn với hình người hóa trang lông chim cách điệu đang nhảy múa, phần dưới là hoa văn hình trám lồng… Phần lưng và thân trống không có hoa văn.6-trong-dong-2 Từ ngàn năm nay, con trâu và con vịt là hai con vật rất gần gũi, quen thuộc của cư dân trồng lúa nước ở Việt Nam. Vì vậy, những khối tượng vịt trên mặt trống đồng Cẩm Giang chính là biểu tượng rõ nét mang đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn.

Trống đồng Cẩm Giang là hiện vật gốc độc bản thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn (cách đây khoảng 2.000 năm), bởi vì tính đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam chưa nơi nào có chiếc trống đẹp và giống với chiếc trống Cẩm Giang. Trống có kiểu dáng cân đối với đường kính mặt trống rộng 73 cm, cao 41,9 cm, nặng60 kg.

Trống gồm các phần: mặt, tang, lưng và chân trống, được trang trí những hoa văn hết sức phong phú, sinh động. Trên mặt trống có một ngôi sao 16 cánh cùng 9 vòng hoa văn hình trám lồng, hình chim lạc bay cách điệu, hình người hóa trang lông chim cách điệu, hình chim cách điệu…

Thanh Hóa ngày nay, vùng đất Cửu Chân xưa với lưu vực sông Mã, sông Chu trong thời đại kim khí là một trong những trung tâm chuyên chế tạo, sử dụng, giao lưu, trao đổi trống đồng cổ.

Được biết, mặc dù trên địa bàn Thanh Hóa đã phát hiện rất nhiều trống đồng cổ, nhưng Bảo tàng Thanh Hóa 6-trong-dong-3quyết định chọn trống đồng Cẩm Giang để xây dựng hồ sơ bảo vật quốc gia, bởi nó hội tụ được đầy đủ cả 3 yếu tố để trở thành bảo vật quốc gia.

Cụ thể, đây là hiện vật gốc độc bản; là hiện vật có hình thức độc đáo, một tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ của thời đại văn hóa Đông Sơn; là hiện vật có giá trị đặc biệt, góp phần khẳng định người Việt cổ nói chung, người xứ Thanh nói riêng thực sự là chủ nhân trống đồng, họ đã chế tạo ra trống, sử dụng trống từ buổi đầu có mặt ở xứ Thanh cách đây hơn 2.000 năm. (theo Nguyễn Thùy)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

logo-kinh-di

so-hai-3NGÔI LÀNG TREO XÁC CHẾT

TRÊN VÁCH ĐÁ

Làng Sagada nằm ở phía bắc quần đảo Philippines từng có truyền thống treo quan tài của người chết.

H1: Ngôi làng biệt lập Sagada nằm trên đảo Luzon ở phía bắc Philippines được biết đến với những chiếc quan tài lơ lửng.

Nằm giữa khu vực rừng núi hiểm trở của vùng Cordillera, dân làng Sagada treo hàng trăm quan tài gỗ trên các vách đá thay vì mai táng dưới lòng đất.

H2: Nghi thức tang lễ có từ nghìn năm trước, lấy cảm hứng từ thuyết vạn vật hữu linh – mọi sinh linh sẽ rời khỏi thế giới theo cách họ xuất hiện từ khi chào đời. 6-ngoi-lang-1Phần lớn quan tài gỗ thông đều có kích thước nhỏ, người chết sẽ được đặt trong áo quan với tư thế bào thai.

H3: Theo người dân địa phương, xác chết được treo lơ lửng trên không để linh hồn người đó sớm được lên thiên đàng hơn khi cơ thể bị chôn vùi dưới đất. Nghi thức tang lễ này đòi hỏi phải cẩn thận hơn là an táng truyền thống.

H4: Để treo quan tài lên vách đá, cách mặt đất vài chục mét, người dân Sagada thậm chí phải dùng một hệ thống dây và ròng rọc. 6-ngoi-lang-2Sau đó quan tài phải được đóng chặt trên lớp đá vôi.

H5: Qua nhiều năm, không ít quan tài rơi xuống lòng thung lũng Echo do mục nát vì trời mưa. Các hang động gần thung lũng trở thành nơi cất giấu xác người chết mà không được chôn vùi xuống đất..

H6: Tuy nhiên những ảnh hưởng từ Kitô giáo sau này khiến nghi lễ mai táng trên vách núi biến mất. Quan tài cuối cùng được treo lên vào năm 2010. (theo Ninh Linh)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

logo-thay-thuoc

hng-huynh-v-yen-1CÁCH TẬP DÀNH CHO

THOÁI HOÁ KHỚP GỐI

Đau khớp gối và đi đứng khó khăn là triệu chứng hay gặp ở người trung niên và người già. Nguyên nhân là khớp gối bị thoái hoá. Theo thời gian khớp gối ngày càng bị già đi , bị thoái hoá nhiều hơn. Cấu trúc của xương đùi, xương cẳng chân bị thưa, yếu, dịch khớp gối bị khô, hệ thống dây chằng bị yếu, nhão. Cuối cùng dẩn đến tình trạng yếu, mõi, đau nhức vùng gối.

Khi điều trị bác sĩ thường cho thuốc giảm đau, kháng viêm, thư giản cơ, thuốc hổ trợ khớp như glucosamin…

Loại thuốc giảm đau nhẹ nhất là thuốc giảm đau ngoại vi như Paracetamol. Mạnh hơn một chút là thuốc kháng viêm Non steroid như Ibuprofen, Meloxicam, Celecoxib… Thuốc kháng viêm giảm đau mạnh hơn nữa là corticoid (Prednisolone, Methyl Prednisolone… Thuốc giảm đau có thể xử dụng riêng lẻ hay phối hợp. Những thuốc nói trên có tác dụng giảm đau đôi khi thật ngoạn mục. 6-thoai-hoa-1Uống vào vài hôm đã thấy hết đau. Nhưng khi ngừng thuốc, cơn đau khớp lại tái xuất hiện !

Cuối cùng do uống các loại thuốc trên trong thời gian dài, người bị thoái hoá khớp vừa không hết đau do chứng thoái hoá khớp lại vừa thêm một bệnh nữa là đau dạ dày. Đôi khi có những trường hợp nặng hơn nữa là xuất huyết do tổn thương dạ dày.

Có một cách khác để giải quyết đau do thoái hoá khớp hữu hiệu và hầu như không có tác dụng phụ và làm mạnh khớp gối. Đó là tập thể dục vùng gối.

Có một động tác đơn giản, dễ áp dụng và có hiệu quả tốt cho người lớn tuổi bị đau khớp gối mà không có tác dụng phụ. Động tác này chủ yếu giúp hệ thống dây chằng vùng khớp gối được mạnh, dẻo dai. Các bạn xem lại hình minh hoạ sẽ thấy hệ dây chằng là phần chủ lực cho sự vận động khớp gối ( và tất cả khớp trong cơ thể  nữa ). Do đó đây là bài tập dù vô cùng đơn giản nhưng rất hiệu quả giúp khớp gối khoẻ mạnh.

Bài tập thể dục khớp gối : Tay trái đặt tại thắt lưng. Bàn tay phải đặt lên tay trái. Chiều rộng 2 chân bằng chiều rộng 2 vai. Từ từ rùn gối xuống rồi đứng thẳng lên, mỗi ngày 2 lần mỗi lần ít nhất 40 lượt ( cẳng chân và đùi hợp thành một góc khoảng 120 độ = ngồi xuống giữa chừng, không cần ngồi quá thấp )

6-thoai-hoa-2Trong khi tập động tác này, các bạn nên tập chậm và vừa tập vừa chú ý đến vùng dây chằng trước khớp gối. Buổi sáng tập đứng lên ngồi xuống 40 lần, chiều 40 lần nữa (theo thời gian các bạn có thể tăng số lần tập) .

Những bác lớn tuổi, yếu, có thể có thể tập 10 lần rồi ngồi ghế nghỉ, sau đó tập tiếp tục cho đến 40 lần. Hoặc không cần đặt 2 tay sau lưng và có thể vừa tập vừa nắm tay vào cạnh bàn cũng được

Kỳ diệu thay, chỉ một động tác thể dục “ đứng lên ngồi xuống “ cũng đũ cải thiện chứng đau do khớp gối bị thoái hoá ( Ngoài ra các bạn nên uống bổ sung calcim D và phơi nắng sáng mỗi ngày # 30 phút , tránh ngồi xổm vì làm căng đau dây chằng khớp gối ). Nhiều bệnh nhân đã nhận được lợi ích từ bài tập đơn giản này. Các bạn hãy thử xem!

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-khoi-hai

sg-lan-huong-1NHỮNG HÌNH ẢNH HÀI HƯỚC

TRÊN KHẮP THẾ GIỚI

Ai cũng biết cười rất tốt, không chỉ giúp cho tinh thần sảng khoái thoải mái mà còn giúp nhiều lợi ích khác về sức khỏe cho cơ thể mỗi chúng ta. Vì vậy việc gì chúng ta không cười nhỉ, xin gửi tới các bạn những hình ảnh hài hước trên khắp thế giới để các bạn có những giờ phút thư giãn vui vẻ.

H1: Kẹt xe  – H2: Ăn đá – H3: Cần một lời bình…..

6-khoi-hai-1

H4: Đứng dậy thì sao nhỉ ? – H5: Xem anh bốc đầu máy cày đây – H6: Tranh thủ tập thể dục chút thôi.

6-khoi-hai-2

H7: Chưa chụp xong mà – H8: Anh em đẩy mạnh lên nào – H9: Thế này ra khỏi nhà sao đây?

6-khoi-hai-3

Hi vọng các bạn có những phút giây thư giãn thoải mái sau những giờ lao động,học tập căng thẳng với những hình ảnh hài hước trên khắp thế giới. “Hãy luôn nở nụ cười trên môi vì quanh ta còn rất nhiều điều thú vị đang chờ đón các bạn”.

Lan Hương chuyển tiếp

logo-van-de

sg-dung-dungPHẬT NGỌC ĐỔ MỒ HÔI

Trước đây, có chú Tiểu nọ cùng với vị trưởng lão Hòa Thượng tu học, vị Tiểu này vô cùng thông minh, nói chung tương đối có huệ căn. Lão Hòa Thượng dự định đem toàn bộ sở học của mình truyền lại cho Tiểu, thậm chí còn dự định truyền cả y bát.

Nhưng có một ngày nọ, lão Hòa Thượng bảo vị Tiểu này đi hóa duyên, Tiểu ra khỏi chùa, liền bị cảnh trần mê hoặc, không muốn quay về chùa. Vị Tiểu này quay lại thế tục sống và học tập cũng được công thành danh toại. Bổng một ngày nọ, Tiểu nhìn ra bên ngoài cửa sổ thấy nước chảy, và những áng mây trôi lơ lững trên bầu trời, Tiểu đột nhiên tỉnh ngộ. Tiểu liền vội vã quay về chùa, đến trước mặt Lão Hòa Thượng xin được tha thứ tội.

Lão Hòa Thượng vừa nhẹ nhàng quở trách vừa chỉ vào tượng Phật ngọc và nói rằng : Thầy có thể tha thứ cho con, nhưng liệu chư Phật tổ có tha thứ cho con hay không ? 6-phat-ngocqua một hồi nài nỉ sám hối, lão Hòa Thượng nói, Thầy sẽ tha thứ cho con trừ phi tượng Phật ngọc này có thể chảy mồ hôi, nói xong phất tay áo mà đi. Tiểu nọ liền nghĩ : tượng Phật ngọc làm sao có thể toát mồ hôi được ? Tự biết sư phụ không tha thứ cho mình, Tiểu nọ thất vọng quay trần trở lại cuộc sống trần tục.

Qua một đêm ngon giấc, sáng hôm sau, lão Hòa Thượng tỉnh dậy, vừa mở mắt ra ngài liền nhìn vào tượng Phật ngọc, thì chao ô ! tượng Phật ngọc đã thật sự tháo mồ hôi.

Lão Hòa Thượng hốt nhiên đại ngộ, ngài nhận ra rằng : thì ra trên trên thế gian này không có gì mà không tha thứ được, sự tha thứ giữa con người với con người thật ra thật là rất tôn quý.

Dung Dung chuyển tiếp

VỢ CHỒNG CÃI NHAU !sg-my-nhan-2

Đôi vợ chồng đã nhiều lần cãi nhau và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say, thì người chồng đề nghị với vợ : “Này, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Mỗi người hãy lấy giấy, viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau”.

Người vợ đồng ý. Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như cố ý tranh với chồng, để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ.

Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những ḍòng chữ kể ra tật xấu của người chồng và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn. Đến lúc không còn gì để viết nữa, tinh-yeu-5họ trao cho nhau bảng kể tội của nhau. Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng, nét mặt người vợ bỗng xúc động. Bà vội vã đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và có thái độ làm hòa ngay.

Trong tờ giấy của người chồng bà chỉ đọc được có một câu duy nhất : Anh yêu em !

Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với con người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp