“SẾN” HAY “SANG” ?

logo-phiem

9-ng-ngoc-chinh“SẾN” HAY “SANG”?

– Nguyễn Ngọc Chính

Kho từ vựng Sài Gòn xưa có một thuật ngữ đã đi sâu vào cuộc sống và cho đến ngày nay người ta vẫn còn dùng với hàm ý miệt thị, chê bai hay chí ít cũng là đánh giá thấp.  Chỉ một chữ “Sến” cũng đủ để gây nhiều chuyện bất bình, thậm chí còn khiến người ta phải đỏ mặt tía tai vì tranh cãi.

Một bức thư tình mùi mẫm với những lời lẽ như “… đêm nay trăng thượng tuần lên cao, anh nhớ em vô vàn, em có biết chăng em một kẻ si tình đang độc hành trong đêm lạnh lẽo ?” sẽ bị cho là “thư viết theo kiểu… sến”. Nhiều người cho rằng tán gái theo kiểu sỗ sàng “Em đi đâu đó cho anh theo cùng ?” cũng là một cách tống tình theo kiểu… sến. Cô gái áo quần lòe loẹt có tông màu xanh đỏ chỏi nhau thế nào cũng bị xem là “diện theo kiểu… sến”.

Bước sang hội họa, họa sĩ Trịnh Cung lại khẳng định, “Trong tranh vẫn có “sến” chứ ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân…”. Tranh vẽ của Lê Trung (1) thường xuất hiện trên các báo “lá cải” như Phụ nữ Diễn đàn,  Sài Gòn Mới… và dĩ nhiên những tạp chí này cũng được xếp vào loại báo… sến !

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc của chữ “sến”. Cho đến nay, có rất nhiều cách giải thích trong việc truy tầm từ nguyên.

9-sen-sang-1-le-trungGiáo sư Cao Xuân Hạo (2) giải thích, “Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở […] Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị.”.

Lối giải thích từ “sen” biến thành “sến” có thể tạm chấp nhận nhưng kể cũng lạ khi giáo sư Hạo theo chuyên ngành ngôn ngữ học lại dùng cụm từ “khẩu vị thấp hèn”. Thường khi nói đến “khẩu vị” người ta liên tưởng đến cái “gu” trong ăn uống chứ làm sao lại có được “khẩu vị” trong văn chương, nghệ thuật ?

Có một cách giải thích khác, không mang tính học thuật như giáo sư Cao Xuân Hạo, mà lại dựa vào thực tế hồi đầu thập niên 60 tại Sài Gòn. Đó là thời thịnh hành của bộ phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov), chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nga, Fyodor Dostoyevsky.

Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano theo điệu mambo – cha cha cha. Cô vũ nữ mặc y phục “nghèo nàn”, thân hình bốc lửa, tóc tai rũ rượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với tài tử Yul Brynner của Hollywood.

https://youtu.be/kbIWfH46PeA?list=PLQWeL_0VczG3wfOyhGDN0zUR_Oho_A7ln

9-sen-sang-2bPhim chiếu tại các rạp ở Sài Gòn cả tháng vẫn chưa hết người xem, sau đó bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell. Người ta nói, cái tên Maria Schell được Việt hóa thành “Mari Sến”.

Tôi không tin là như vậy. Sến xuất hiện trong ngôn ngữ Sài Gòn ngay sau khi có cuộc di cư vĩ đại của người miền Bắc vào Nam năm 1954, nghĩa là trước khi phim anh em nhà Karamazov đến Sài Gòn. Trước 1954, người miền Bắc dùng từ “con sen” để chỉ người giúp việc trong khi miền Nam gọi là “ở đợ” và ngày nay còn được gọi là “Ô-Sin”.

“Sen” thường là những cô gái quê, con nhà nghèo, ít học, phải ra Hà Nội để kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Sau 1954, “Sen” cũng di cư vào Nam. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được đưa tới từng nhà nên chiều chiều các cô sen lại tụ tập quanh máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên “Mari-Phông-tên”.

Và Mari Sến hay Mari Phông-ten cũng đã đi vào thơ văn. Một nhà thơ nào đó đã không hết lời ca tụng người em… Sến :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Cũng có giải thích đại loại như Sến bắt nguồn từ tiếng Anh “sentimental”, có nghĩa là đa cảm, ủy mị… 9-sen-sang-2Tôi không tin là như vậy vì sentimental hoàn toàn không hàm ý miệt thị, chê bai còn Sến của ta lại mang đậm nét mỉa mai, châm biếm. Nói theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “sến” là biểu hiện những dạng thị hiếu thẩm mỹ dưới mức trung bình.

Cứ như thế, chữ “sến” bị lạm dụng trong ngôn ngữ hàng ngày để gán cho những gì thuộc loại “hạ cấp” theo suy nghĩ của người sử dụng từ ngữ. Nổi bật nhất trong lãnh vực âm nhạc là “trường phái” nhạc… sến khởi đầu từ thập niên 60 với tiết điệu boléro, rumba… Những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Lam Phương, Hồ Đình Phương, Vinh Sử, Thanh Sơn…

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, điệu bolero mang âm hưởng bình dị của dân ca Nam Bộ : “Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong đều chuyển qua bolero. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam”.

Bình luận về điệu bolero của Nguyễn Ánh 9, một nhạc sĩ người miền Nam, lại gợi đến một ý cho rằng những người Bắc di cư năm 1954 không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, họ cũng không quen với cách phát âm của các ca sĩ người miền Nam khi hát. Ngoài ra, họ lại sợ cạnh tranh với nhạc tiền chiến của những nhạc sĩ người miền Bắc nên mới đặt ra danh từ “Nhạc Sến” với ý chê bai.

9-sen-sang-3-nguyen-anhNhà thơ Hữu Loan, người miền Bắc, làm bài thơ Mầu tím hoa sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi bộ đội, chồng không chết mà cô ta chết. Một chuyện tình rất lâm ly vào thời kháng chiến với kết cuộc :

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.

Bài thơ này được phổ nhạc thành 2 nhạc phẩm: Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh (nguời miền Nam) và Áo anh sứt chỉ đường tà, của Phạm Duy, người Bắc. Áo anh sứt chỉ đường tà với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát và hình như chỉ những giọng ca điêu luyện của Vũ Khanh, Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới thành công còn Những đồi hoa sim thì ca sĩ nào cũng có thể hát được, từ Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh…

Trong trường hợp này, nếu làm một cuộc khảo sát bỏ túi về sự lựa chọn giữa “nhạc sến” và “nhạc sang”, ta sẽ có ngay kết quả: Những đồi hoa sim là “nhạc sến”. Nhưng thiết nghĩ, đó là sự lựa chọn mang tính cách “địa phương” của những người có gốc từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Sự khác biệt về cá tính giữa người Nam và người Bắc nói riêng và giữa hai miền Nam-Bắc nói chung là người miền Nam thì bình dị, thường nói “huỵch tẹt” ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì lại khách sáo, ưa nàu mè… trong lòng muốn lắm nhưng ngoài mặt cứ giả vờ như không.

Lời ca của dòng nhạc bolero miền Nam rất bình dân, mộc mạc, dễ nhớ và cũng dễ hát. Đó là những lời chân thực từ trái tim, chẳng hạn như trong bài Duyên kiếp của Lam Phương, cô gái cất tiếng hát “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao ? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…” hoặc bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long có 9-sen-sang-4câu “Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng…”.

Rõ ràng là nhạc sến không có triết lí cao siêu, mà toàn là những câu, những chữ mà ngay cả anh xích lô và chị “buôn thúng bán mẹt” ngoài chợ có thể hiểu được vì đó là những lời… “nghĩ sao nói vậy”: “Tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang…” hoặc “Tôi với nàng hai đứa nguyện yêu nhau. Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu…”.

Theo nhiều người, ca khúc Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang là một bản nhạc “đặc sệt” chất sến. Nghe Chế Linh than thở, rên rỉ khiến có người nghe phải… rùng mình, rợn tóc gáy, nổi da gà:

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang / Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi… Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây / Tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay”

9-sen-sang-5– Người yêu cô đơn – Tuấn Vũ

https://youtu.be/HEOH2UEiTqA

– Tuyển tập Chế Linh – 4:00’ :

https://youtu.be/M9INuAmNo8M

– Người yêu cô đơn, Chế Linh :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Che-Linh/ZWZABOW7.html

– Người yêu cô đơn, Ken Nguyễn :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Remix-Ken-Nguyen/ZW6W9969.html

9-sen-sang-6-tuan-vuCũng trong Người yêu cô đơn được remix với tiết tấu nhanh hơn pha trộn những đoạn “nói lối” theo kiểu rap, ca sĩ Ken Nguyễn đã khiến bài hát bớt đi chất sến và dĩ nhiên là được nhiều người chấp nhận.

Thế cho nên, sến hay không là còn tùy cách trình diễn của người hát chứ không phải “một khi bản nhạc đã sến thì ai hát cũng vẫn là sến”!  

Ở một thái cực tương phản, cái gọi là nhạc “sang” lại dùng những ca từ mà chính những người “trí thức” cũng không hiểu hết những gì mình hát.  Mấy ai đã cảm nhận hết những câu hát đại loại như “Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi” hoặc “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.

Tôi nghĩ, ngay chính bản thân người nhạc sĩ khi viết những lời như trên sẽ lúng túng khi có người cắc cớ nhờ giải thích cho rõ!

Phạm Duy với ca khúc Giết người trong mộng là một trường hợp khác hẳn. Từ bài thơ Hành khất của Hàn Mặc Tử ông đã phổ nhạc thành một bài hát mang sắc thái “sắt máu”, lập đi lập lại những động thái “giết người”, “giết người đi”… để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” và để trừng phạt kẻ “quên tình nghĩa phu thê”.

Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

Có lẽ không ai coi Giết người trong mộng là nhạc sến nhưng nhiều người vẫn không thoải mái khi phải hát những câu giết chóc từ đầu đến cuối bài hát. ca-nhac-2Bảo Giết người trong mộng là nhạc sang lại càng không đúng vì nó thiếu tư tưởng “hàn lâm” của một bản nhạc sang trọng.

Cũng cần phải nói thêm, miền Nam trước đây có tới hai dòng nhạc chính. Đầu tiên là Nhạc Vàng và tiếp đến là Nhạc Sến. Vào đầu thập niên 60, nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban Nhạc Vàng trên đài truyền hình Sài Gòn, ông cũng là tác giả những bản nhạc như Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam, Mong ngày anh về, Vui khúc tương phùng…

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với tên gọi “Nhạc Vàng” như Hương Giang, Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và Shotguns của Ngọc Chánh. Tại miền Nam, nhạc vàng khi đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu, có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của người lính chiến.

Những tác giả với tên tuổi gắn bó với Nhạc Vàng phải kể đến Phạm Duy, Văn Phụng, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… và thế hệ nhạc sĩ kế tiếp là Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh…  Đó cũng là thời của các ca sĩ như Thái Thanh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền…

Thời của Nhạc Vàng nổi bật với những ca khúc đã đi sâu vào tâm thức người miền Nam như Giọt mưa trên lá (Phạm Duy), Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo bac-ky-2(Phạm Thế Mỹ)…

Ở Miền Bắc, dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm “nhạc màu vàng” từ Trung Hoa và bị coi “là thứ âm nhạc lãng mạn, bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp hèn”. Phong trào bài trừ “nhạc màu vàng” dưới thời Mao Trạch Đông cũng lan sang miền Bắc nên dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín vì bị cấm.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhạc vàng gần như biến mất và thay vào đó là… nhạc “đỏ” của cách mạng. Thật ra thì nhạc vàng vẫn sống trong lòng người Sài Gòn qua những khúc hát nghêu ngao từ cửa miệng người dân, hoặc nghe trộm qua BBC, VOA hoặc nghe lén qua băng cassette còn sót lại sau chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy”.

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới thì các loại nhạc vàng, nhạc sến mới dần dà được chính quyền “xét lại” và cho phổ biến một cách hạn chế, tùy theo tác giả và tác phẩm.  Năm 1986, lần đầu tiên nhà nước cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Danh sách này sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó là danh sách nhạc cấm có liên quan đến người lính Việt Nam Cộng hòa.

Cơ quan văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới, nhưng xem ra không thành công. Trong khi đó, số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17, ở hải ngọai mà cả ở miền Bắc, thậm chí còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1980.

dan-ong-1Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã thực hiện nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, họ đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát. Vào tháng 8/2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với nhạc sến là Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội suốt nửa tháng trời với giá vé lên đến 1,7 triệu mà mỗi suất vẫn kín chỗ.

Trong một bài phỏng vấn, “Vua Nhạc Sến” Vinh Sử đã lên tiếng : “Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ “nhạc sến” là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình”.

Theo nhạc sĩ Vinh Sử, ở Sài Gòn trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được cả một chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được “đặt hàng” tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại “nhạc thị trường” được viết theo kiểu “mỳ ăn liền”. Đó chính là thời kỳ Vinh Sử tung ra các ca khúc như Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương

Sau 1975, nhạc của Vinh Sử có “e” (air) nhạc dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc, chẳng hạn như Tình ngoại, Bằng lòng đi em, 9-sen-sang-7-vinh-suĐể tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá… Vinh Sử than thở : “Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là… “sến”? […] Tôi đã từng nói : “Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin… lúc đó tôi sẽ viết… nhạc sang !”

Có người lại quả quyết nhạc sến được khai thác từ cổ nhạc. Điều này tôi nghĩ không chính xác vì cổ nhạc, chẳng hạn như vọng cổ, viết theo ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống), còn tân nhạc nói chung và điệu boléro nói riêng có đến 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Phải chăng kết luận như thế vì sự lầm lẫn khi nghe những bài “tân cổ giao duyên” nên cứ tưởng là phần tân nhạc lấy từ cổ nhạc (?).

Nếu nhạc sĩ Vinh Sử được phong tặng là “Vua Nhạc Sến” thì ngôi vị “Nữ Hoàng Nhạc Sến” chắc phải dành cho ca sĩ Hương Lan, con gái của kép cải lương Hữu Phước (3).

Hương Lan vào nghề hát từ ngày hãy còn là “Em bé Hương Lan” và đã được rất đông người ngưỡng mộ với chất giọng miền Nam mượt mà, mùi mẫm. Tuy nhiên, cũng có những người không thích vì họ cho là cô chuyên hát dòng nhạc sến. Ca sĩ Hương Lan khẳng định:

“Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình…, nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu “sến” là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là “sến”.

9-sen-sang-8-ca-siCũng theo Hương Lan, “cải lương” là một loại hình nghệ thuật thì làm sao người ta có thể tùy tiện sử dụng “cải lương” như một tính từ mỗi khi muốn chê cái gì đó, chẳng hạn như “văn chương cải lương”, “ăn nói cải lương”… với ý dè bỉu, coi thường bộ môn nghệ thuật dân gian vốn có từ lâu của người Việt nói chung và người miền Nam nói riêng. Hương Lan thẳng thừng tuyên bố :

“Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới [ca nhạc] cũng nói như vậy. Các em [ca sĩ] dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác”.

Có khoảng hơn 2.000 bài hát được sáng tác dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Điều rõ ràng là không thể phân biệt được bài nào thuộc loại sến, bài nào thuộc loại không sến chứ chưa nói gì đến loại nhạc sang trọng theo kiểu hàn lâm.

9-sen-sang-9-ca-siThiết nghĩ, sến hay sang còn tùy vào nhiều yếu tố bao gồm nhạc điệu, lời ca và kỹ thuật trình diễn. Ba yếu tố đó có tầm ảnh hưởng lẫn nhau vì không phải cứ điệu bolero hay rumba là bài hát trở thành sến, ca từ không phải cứ mộc mạc là thuộc dòng nhạc sến và người hát nếu chú ý đến phong cách biểu diễn cũng có thể biến một bản nhạc cứ tưởng như thuộc loại sến trở thành một ca khúc được người nghe chấp nhận.  (theo Nguyễn Ngọc Chính – Hồi ức một đời người)

Chú thích :

(1) Họa sĩ Lê Trung sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Ông là cựu sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định và trường Mỹ thuật Hà Nội. Lê Trung chuyên về chân dung, phong cảnh, tĩnh vật trên phấn màu và thủy họa.

(2) Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.

9-sen-sang-10Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Ông nổi tiếng cả với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngày 16/10/2007 tại Sài Gòn sau hai tuần nằm bệnh từ một cơn đột quỵ.

Tác phẩm của Cao Xuân Hạo về ngôn ngữ học – Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998). –  Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Nhà xuất bản Trẻ, 2001) – Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006).

hng-huynh-v-yen-1Truyện dịch: · Người con gái viên đại uý (truyện 1959). · Chiến tranh và hòa bình (tiểu thuyết 1962).· Truyện ngắn Goócki (1966).· Con đường đau khổ (tiểu thuyết 1973). · Tội ác và hình phạt (tiểu thuyết – xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa). ·Đèn không hắt bóng (1986). – Papillon (1988).· Nô tỳ Isaura (tiểu thuyết 19??).

(3) Đoạn này người viết Nguyễn Ngọc Chính – có nhận định hơi khập khiểng. Nếu nói hát nhạc sến hay thì p\hải kể đến Hùng Cường và Thanh Tuyền, còn Hương Lan là kẻ “hậu sanh” chỉ nổi vào thập niên 1990 ở Hải ngoại. (admin)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-tu-van

Advertisements

Bản tin số 073/2598 – Ngày 14/3/17

NƠI LẠNH LẼO VÀ XA XÔI NHẤT

CÓ NGƯỜI SỐNG

Thị trấn gần Alert (Canada) nhất cũng cách tới 550 km và những người ở đây chủ yếu làm trong trung tâm quân sự và trạm theo dõi thời tiết.

H1: Thị trấn Alert nằm trên đảo Ellesmere thuộc Nunavut, Canada có nhiệt độ trung bình vào tháng 2 là – 33,2 độ C. Nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận tại đây là -50 độ C và con người không thể tới đây bằng ôtô. H2: Alert được đặt theo tên HMS Alert, một con thuyền của Anh đã cập bến gần đó vào năm 1875 và thuyền trưởng George Nares cùng thủy thủ đoàn là những người đầu tiên đặt chân lên đảo Ellesmere.

H3: Không phải là một thị trấn bị kiểm soát chặt chẽ, nhưng Alert thực ra là một căn cứ quân sự – nơi được công nhận là có người sống xa xôi nhất thế giới. Mỗi năm thị trấn thường chìm trong bóng tối khoảng 4 tháng và tương tự 4 tháng khác không bao giờ thấy mặt trời lặn.

H4: Alert lằm trong vùng lãnh thổ Nanuvut có diện tích hơn 2 triệu km2 và dân số là 33.330 người. Do đó mật độ dân số rất thưa thớt, một người sống trên 60 km2. H5: Cái lạnh khủng khiếp và vị trí khiến Alert bị tách biệt. Thị trấn gần nhất với Alert cách đó gần 550 km và con người không thể di chuyển bằng ôtô, mà phải bằng đường biển, đường không hoặc đi xe chó kéo. H6: Trên thực tế, Alert gần Moscow, Nga (cách 4.000 km) hơn so với Ottawa, Canada (cách 4.150 km).

H7: Việc làm chủ yếu của những người ở Alert là trong trung tâm thu phát tín hiệu quân sự và hai trạm theo dõi thời tiết. Trạm theo dõi thời tiết được xây dựng năm 1950 còn trung tâm quân sự thành lập sau đó 8 năm. H8: Nhiệt độ thấp đủ lạnh để đóng băng chỉ trong vài phút các giác mạc, da, cơ nếu không được bảo vệ. Tuy vậy đó không phải là điều mọi người ở đây thường nói tới. H9: Đại sứ Mỹ tại Canada, David Jacobson, đến thăm thị trấn Alert.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NÚI ĐÁ Ở QUÝ CHÂU

LỘ HÌNH TƯỢNG PHẬT

LỚN NHẤT THẾ GIỚI 

Sau hàng nghìn năm ẩn sâu trong dãy núi, cuối cùng một bức tượng Phật bằng đá mới đây đã lộ hình dáng. Đây là bức tượng Phật đá được dự đoán lớn nhất trên thế giới.

H1: Bức tượng Phật bằng đá này thậm chí còn cao hơn 4m so với bức Lạc Sơn Đại Phật ở Tứ Xuyên, được cho là bức tượng Phật bằng đá lớn nhất trên thế giới. (

Một bức tượng Phật được điêu tạc bằng đá tự nhiên, ẩn sâu ở dãy núi huyện Bạch Vân huộc địa cấp thị Quý Dương, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc có niên đại hàng nghìn năm, cuối cùng đã lộ hình dáng. Bức tượng Phật đá cao khoảng 50m, đầu cao 16m, tọa theo hướng Dông Tây, trang nghiêm hùng vĩ.

Theo tin tức từ truyền thông Trung Quốc, bức đại Phật hạ thủy này là được tạc từ một ngọn núi đá tự nhiên, vừa không giống Phật tọa, cũng không giống Phật đứng, mà giống như một pho tượng đá bán thân. Phần đầu tượng Phật là từ một khối đá tự nhiên điêu tạc mà thành, phần thân tượng Phật thì dựa vào núi tạo thành một khối đá có nếp gấp.

Theo truyền thuyết, vào thời triều Đường, pháp sư Hải Thông và người thầy của mình là pháp sư Hải Năng vân du tới Quý Dương thì gặp nước sông dâng cao, thôn trang ruộng vườn ở đây đều bị nước nhấn chìm, dân chúng không còn nhà để về. Trong khí đó, nơi họ xuất gia là chùa Lăng Vân ở Nhạc Sơn cũng bị lũ lụt nghiêm trọng.

Thế là, hai thầy trò cùng bàn bạc, quyết định dùng cát dưới sông đắp thành cầu, đi theo hướng Đông Nam về chùa Lăng Vân, đến phái Tây vách núi sẽ đắp thành một bức đại Phật, lấy đó để trấn hà yêu. Bởi vì năm ấy pháp sư Hải Năng tuổi già sức yếu, không thể tiếp tục đường xa lặn lội, bèn giao lại trọng trách này cho đệ tử. Pháp sư Hải Thông cuối cùng đã kịp đến Nhạc Dơn, đảm nhận trọng trách tạc tượngPhật.

H2: Tuy nhiên, tạc tượng Phật chưa được bao lâu, thì pháp sư Hải Thông lại chết vì bệnh. Vậy nên bức tượng Phật đá vẫn chưa hoàn thành, thậm chí mắt tượng Phật vẫn chưa được tạc xong.

Bức tượng Phật tạc trên núi này xưa nay vẫn luôn ẩn sâu trong núi, chưa từng có ai phát hiện. Cho đến đầu thế kỷ này, sau khi cây cối bao quanh được phát quang, mới để lộ hình dáng bức đại Phật trang nghiêm hùng vĩ.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CÂY DUỐI NGHÌN NĂM

CÓ DÁNG “BÀN TAY PHẬT”

Trải qua hơn 1.000 năm, cây duối ở Thung Nham (Ninh Bình) vẫn sống xanh tốt trên một tảng đá. Dáng cây hình “bàn tay phật” độc lạ và mang trong mình giá trị lịch sử gắn liền với vua Đinh Tiên Hoàng.

H1: Cây duối đặc biệt nói trên nằm ở khu du lịch vườn chim Thung Nham (xã Ninh Hải, Hoa Lư, Ninh Bình). Theo truyền thuyết, vua Đinh Tiên Hoàng trong lúc đi tuần quanh kinh đô Hoa Lư đã sai quân lính trồng cây này ngay trên một tảng đá tại Thung Nham. Qua thời gian, cây sinh trưởng tốt và tồn tại 1.000 năm qua.

H2: Cây có dáng rất độc lạ giống với “bàn tay phật” bởi thân chính và 3 thân phụ khác của cây mọc thẳng đứng nằm cạnh nhau như 4 ngón của bàn tay khi được chắp lại. Còn một nhánh mọc xiên và nghiêng về hướng khác (tượng trưng ngón trỏ lệch ra).

Theo chị Lan Hương, nhân viên của vườn chim Thung Nham, từ khi được phát hiện đến nay dáng “bàn tay phật” của cây duối vẫn được giữ nguyên. Những người thợ tỉa cây của đơn vị quản lý chỉ tỉa tán lá cho gọn lại chứ không hề tạo thế cho cây duối này.

H3: Theo quan niệm của người Việt Nam, thế cây này có nghĩa là “Ngũ Phúc”: Trường thọ, Phú quý, Khang Ninh, Hiếu Đức và Thiện Chung. Ngoài ra, dáng của cây duối nhìn theo hướng khác còn có nghĩa là “Phụ tử”: Tình cảm của người cha dành cho các con (thân cây chính cao thẳng, to lớn che chở cho các thân cây con).

H4: Để xác định tuổi đời của cây, các nhà chuyên môn về sinh vật cảnh trong nước đã về đây thẩm định và cho biết cây duối này có niên đại 1.000 năm tuổi. Trải qua 10 thế kỷ, cây duối vẫn xanh tốt và bám rễ chặt vào tảng đá.

H5: Mới nhìn, không thể phát hiện đâu là rễ và thân cây duối, đâu là tảng đá vì có sự gắn kết rất chặt chẽ. Màu thân và rễ cây theo thời gian cũng giống với màu của tảng đá. Người dân địa phương cho hay, cây duối này mang trong mình giá trị lịch sử lâu đời gắn liền với câu chuyện về vua Đinh Tiên Hoàng – người có công khai quốc công thần vùng đất Hoa Lư này nên ai cũng quý cây.

H6: Cây duối có hoa từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, quả vàng to bằng hạt ngô. Thông thường, các cây duối thường được trồng ở các đình, đền chùa để lấy bóng mát, trồng trong vườn làm cảnh. Cây duối này lại mọc giữa núi rừng Thung Nham và tồn tại hơn 1.000 năm qua nên rất đặc biệt.

H7: Theo quan niệm, cây duối là một loại cây cổ thụ sống trường tồn luôn xanh tốt, trái cây màu vàng , là loại cây ban tài phát lộc, xua đuổi tà ma mang đến sự may mắn. Việc cây duối trường tồn như là ý trời, muốn ban nhà vua sống trường thọ với nước Đại Cồ Việt để ban tài phát lộc cho nhân dân ấm no. H8: Người dân địa phương rỉ tai nhau, khi đến thăm cây duối ngàn năm giống như đến viếng nhà vua và sẽ được “thập toàn thập mỹ”: may mắn tốt lành, nhiều lộc, nhiều ruộng đất, sống an nhàn trăm tuổi.

H9: Vì là cây có nhiều ý nghĩa tâm linh nên người dân địa phương rất chăm sóc và bảo vệ. Người dân địa phương kể, xưa kia có người đến định chiết và cưa trộm một nhánh cây về trồng, tuy nhiên cưa mãi nhưng phần thân này không đứt được mà lưỡi cưa bị gãy, người này sau gặp tai họa, vết cắt này hiện vẫn còn lưu lại trên thân cây. Từ đó không ai dám xâm hại đến cây duối này nữa.

H10: Thân cây mọc trên một tảng đá lớn thể hiện ý chí kiên cường, sức sống mãnh liệt như chính là điều mà nhà vua muốn nhắn nhủ tới người dân trăm họ. Nơi lớn nhất của thân cây có đường kính rộng hơn 1m, có nhiều chỗ sần sùi bị rêu phủ bám xung quanh. H11: Nhiều người trong giới bon sai cây cảnh đến tham quan và đánh giá, đây là cây duối là có dáng thế đẹp độc nhất vô nhị tại Việt Nam.

H12: Có tuổi đời già cỗi, hiện một số cành trên thân cây đã bị mục. Tuy nhiên, thay vào đó xung quanh thân cây mỗi năm lại mọc thêm nhiều cành khác thể hiện sức sống trường tồn, mãnh liệt. H13: Cây duối quanh năm xanh lá, phủ bóng mát và điểm đặc biệt là người ta không bao giờ thấy cây rụng lá. H14: Mỗi ngày có hàng trăm người đến tham quan cây duối “độc nhất vô nhị” này. (theo Thái Bá)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

VÂN CỔ TAY :

NHỮNG DỰ BÁO VỀ TUỔI THỌ

 & VẬN MỆNH CON NGƯỜI

Người ta thường chú ý đến các đường chỉ, vân tay trong lòng bàn tay mà ít để ý đến những đường vân nằm ở vị trí cổ tay. Thế nên, không phải ai cũng biết được những dự báo rất quan trọng của đường vân này.

Vân cổ tay hay đường chỉ cổ tay (còn được gọi là đường Rascette) là những đường vòng (đường ngấn) xung quanh cổ tay của chúng ta. Thông thường, một người sẽ có 1 – 2 đường vân (ngấn) cổ tay, nhưng có những người có tới 3 – 4, thậm chí 5 đường. Tại sao lại có sự khác biệt như vậy ? Hãy xem ý nghĩa của từng đường vân này và bạn sẽ tìm ra câu trả lời ngay thôi!

Dựa trên số lượng đường vân mà mỗi người có trên cổ tay, cũng có thể dự đoán được tuổi thọ của bản thân. Theo đó, số đường vân càng nhiều, tuổi thọ sẽ càng tăng. Ngoài ra, mỗi đường vân sẽ còn có những ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Đường thứ nhất : Đây là đường vân quan trọng nhất. Nó đại diện cho sức khỏe và tình hình sự nghiệp của bạn. Đường vân này rõ nét, sâu, không bị đứt đoạn hay ngắt quãng có nghĩa là sức khỏe của bạn rất tốt. Ngược lại, nó chứng tỏ rằng bạn đang bỏ bê, không chăm sóc tốt cho bản thân mình.

Đường thứ hai : Đường vân cổ tay thứ hai mang ý nghĩa dự đoán về vận mệnh của một người. Nếu đường này nằm thẳng, sắc nét, không đứt đoạn thì xin chúc mừng, bạn là người cực kỳ may mắn đó vì sẽ có một cuộc sống hạnh phúc sau này, luôn có qúy nhân phù trợ và thậm chí con rất giàu có trong tương lai.

Đường thứ ba : Người sở hữu đường vân cổ tay thứ ba thường sẽ gặt hái được nhiều thành công trên con đường sự nghiệp và trong cuộc sống. Không chỉ vậy, họ còn có tầm ảnh hưởng lớn đến mọi người xung quanh, rất có thể sẽ trở thành người nổi tiếng. Đặc biệt, đường vân này càng liền mạch thì sự thành công càng được khẳng định vững chắc.

Đường thứ tư : Đường vân thứ tư này cũng có ý nghĩa tương tự như đường thứ ba. Thế nhưng, điều đặc biệt là nếu ai sở hữu đường vân này thì những may mắn trong cuộc sống nói chung và trong sự nghiệp nói riêng sẽ càng tăng lên gấp nhiều lần, ước gì được nấy.

Bây giờ thì hãy đưa tay lên và xem vận may của mình đến đâu nhé ! (nguồn: The Collectiveint, Healthydefinition)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

BÀI THƠ TRÊN MỘ

CỦA HEMINGWAY

Hầu như người Mỹ nào ít nhất cũng một lần nghe hay nói đến tên ông, Ernest Hemingway, nhà văn người Mỹ nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1954. Là một người thành công trên sự nghiệp nhưng đời sống cá nhân không lấy gì làm vui: bốn lần lập gia đình, ba lần ly hôn.

Ông sinh trưởng trong một gia đình mang bệnh trầm cảm di truyền và còn mang luôn truyền thống “tự tử.” Cha, hai người chị, cháu nội của ông và bản thân ông, đều chết bằng cách tự giết mình. Ernest Hemingway, trong những năm cuối của đời mình, với sự suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần: bị phỏng nặng trong hai tai nạn xe cộ, bị bệnh gan, bệnh tim, bệnh phổi và nghiện rượu, bệnh trầm cảm (depression), ông tự tử bằng cách bắn vào miệng, ba tuần lễ trước sinh nhật thứ sáu mươi hai của mình.

Ông bắt đầu sự nghiệp viết báo từ năm 17 tuổi. Thời  Đệ Nhất Thế Chiến,  ông ở trong quân đội, là tài xế xe cứu thương ở mặt trận Ý. Khi về lại Mỹ ông làm việc cho báo Canadian American. Khi phong trào Greek Revolution xẩy ra, ông được gửi lại sang Âu Châu để làm phóng sự. Ông dùng những kinh nghiệm quân đội làm nền tảng cho những tác phẩm của mình. Ở tuổi 25 ông đã nổi tiếng với The Sun Also Rises  (1926). Sau đó, những tác phẩm xuất sắc lần lượt ra đời như: A Farwell to Arms (1929), For Whom The Bell Tolls (1940)… Tác phẩm đặc sắc nhất là truyện ngắn : The Old Man and the Sea, viết năm 1952, năm sau đoạt giải Pulitzer. Hemingway đoạt giải Nobel Văn Chương, 1954.

Những bài phóng sự, truyện dài, truyện ngắn, nổi tiếng của người đàn ông tài hoa này, nếu đem cộng lại có cả hàng ngàn, ngàn trang giấy. Chắc chắn, ông yêu các tác phẩm của mình, những nhân vật trong truyện, những đối thoại chuyên chở tư tưởng của mình. Cá, …..Ta sẽ đương đầu với mi cho đến chết.” *, ngư ông nói với cá như vậy sau bao nhiêu tiếng vật lộn với cá hay tác giả nói với chính cuộc sống mình ?

Những nhân vật tiểu thuyết của ông đều mang chính ông trong đó. Nhân vật Federic Henry trong A Farwell to Arms, cũng là một trung úy lái xe Ambulance như ông từng đảm nhiệm trong quân đội. Federic đã yêu, đã chiến đấu như chính ông đã yêu, đã chiến đấu. Nơi chiến trường không có Thượng Đế kiểm soát con người, không công lý, không đạo lý, cứ chém, giết, thế thôi.

Nhà văn đã gửi tất cả kinh nghiệm sống của mình từ năm 17 tuổi vào trong những tác phẩm của mình, nên tiểu thuyết của ông rất “thật”. Bao nhiêu tinh hoa, tài năng cũng như cay đắng của ông rải rác gửi vào những nhân vật tiểu thuyết. Cuối cùng ông thoát ra ngoài những nhân vật của mình bằng cách tự kết liễu đời mình.

Người ta nói những “nhà văn lớn” họ không bao giờ hài lòng với chính mình, giấc mơ của họ luôn luôn vượt trên tài trí họ, càng nổi tiếng càng thấy trống rỗng, càng thấy cái hào quang mình đuổi theo chỉ là ảo ảnh.

Nhắc đến Ernest Hemingway, mọi người hầu như chỉ nhắc đến những tác phẩm văn xuôi đã tạo nên tên tuổi của ông. Người ta không biết rằng, song song với những tác phẩm “nặng kí”, ông còn làm thơ, và làm thơ khá nhiều.

Bài thơ ông viết “Điếu” một người bạn, (Gene Van Guilder) chỉ có sáu dòng ngắn nhưng nói lên được điều mơ ước giản dị nhất của lòng ông. Viết cho bạn cũng là viết cho chính mình. Bài thơ ngắn này đã được khắc trên bia mộ ông trong nghĩa trang, nằm ở cuối phía bắc, thành phố Ketchum thuộc bang Ohio, là nơi ông cư ngụ cuối cùng.

Chàng yêu nhất mùa thu

Những chiếc lá vàng trên cây bông gạo

Những chiếc lá bập bềnh trong dòng suối cá hương

Yêu những mảnh trời cao xanh lặng gió

Mãi trên cao trên tít những ngọn đồi

Giờ đây chàng là một phần của tất cả đến muôn đời

Hình như Thơ bao giờ cũng là nơi tâm hồn người ta tìm đến cuối cùng.  (theo Trần Mộng Tú)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

TRIẾT LÝ TRONG

ẨM THỰC NHẬT BẢN

Trong tiếng Nhật, từ washoku 和食)được dùng để phân biệt các món ăn Nhật với các món ăn có ảnh hưởng từ nước ngoài – gọi là yoshoku. Triết lý của washoku bao gồm 5 nguyên tắc: 5 màu, 5 vị, 5 phương pháp nấu, 5 giác quan, 5 quy tắc.

– 5 màu sắc (go shiki): để đảm bảo sự cân bằng dinh dưỡng, mỗi bữa ăn cần có đủ 5 màu sắc” trắng, đỏ, vàng, xanh lục và đen (bao gồm những màu sẫm như màu nâu, màu tím).

– 5 vị (go mi): một bữa ăn cần có sự kết hợp hài hòa và cân bằng các vị mặn, chua, ngọt, đắng, và umami để kích thích vị giác và cảm giác ngon miệng. (Umami là cảm giác thứ năm về hương vị mà vị giác nhận biết được. có thể hiểu nôm na đó là cảm giác ngon miệng).

– 5 phương pháp nấu ăn (go hoo): những người nấu ăn được khuyến khích sử dụng các phương pháp nấu ăn khác nhau để chế biến món ăn, bao gồm: hầm, nướng, hấp, rán, luộc, …

– 5 giác quan (go kan): món ăn cần kích thích không chỉ ở vị giác, mà còn cả ở khứu giác, thị giác, thính giác và xúc giác. Trong đo việc trình bày món ăn trên đĩa sao cho thật hài hoà là phần cực kì quan trọng của bữa ăn, và người Nhật có một câu nói nổi tiếng là “ăn bằng mắt”.

– 5 quy tắc (go kan mon): đây có thể gọi là những luật liên quan đến việc thưởng thức món ăn, có bắt nguồn từ đạo Phật của Nhật. Một, chugns ta cần phải kính trọng và biết ơn những công sức của người đã nuôi trồng thực phẩm và chuẩn bị ra món ăn đó. Hai, chúng ta phải làm những việc tốt xứng đáng với việc được hưởng những món ăn đó. Ba, chúng ta phải ngồi vào bàn ăn với một tâm thái bình an. Bốn, chúng ta nên thưởng thức món ăn để nuôi dưỡng tinh thần bên cạnh việc nuỗi dưỡng cơ thể. Năm, chúng ta cần nỗ lực để duy trì trạng thái tinh thần vui vẻ.

Những thực phẩm không thể thiếu trong bếp Nhật

1/- Cá bào (katsuo bushi) : đây là thành phần thiết yếu (cùng với rong biển tươi) trong việc nấu nước dùng dash.

2/- Nấm hương khô (shiitake) : hay còn gọi là nấm đông cô, loại tươi cũng phổ biến nhưng loại nấm khô có mùi thơm và vị mạnh hơn, thường được dùng để tăng thêm hương vị cho các món ăn.

3/- Mù tạt xanh (wasabi) : thường để ăn với các món sống.

4/- Thất vị hương” (shichimi togarashi) : gia vị nêm tổng hợp gồm 7 vị khác nhau – hạt tiêu, ớt đỏ, hạt gai, vỏ quýt khô, rong biển, vừng đen và vừng trắng, hạt anh túc (poppy seeds).

5/- Rong biển tươi (konbu) : đây là loại rong biển quan trọng nhất được sử dụng trong nấu các món ăn Nhật, đặc biệt là được sử dụng để làm nước dùng dashi.

6/- Mì : truyền thống có mì udon (làm từ bột mì trắng, sợi mì dày và tròn hoặc dẹt), soba (làm từ lúa mạch, sợi mì có màu nâu), cha soba (sợi mì có chứa bột trà xanh), somen (làm từ lúa mì, sợi nhỏ, nhưng được sản xuất ở dạng sợi khô).

7/- Vừng (goma) : vừng trắng và vừng đen đều được sử dụng, vừng trắng phổ biến hơn.

8/- Gừng muối : Gari là loại gừng muối có màu hồng nhạt, thường được ăn kèm với sushi. Beni shoga là loại gừng muối có màu đỏ, thường được dùng để trang trí món ăn.

9/- Mơ muối (umeboshi) : những quả mơ muối mặn thường được sắp kèm với một tô cơm trắng.

10/- Quất Nhật (yuzu) : to hơn quả quất một chút nhưng bé hơn quả quít, nước và vỏ loại quả này được dùng như dạng gia vị nêm, mùi thơm rất dễ chịu.

11/- Xì dầu (shoyu): vừa là một loại nước chấm dùng trực tiếp, vừa dùng để nấu các món ăn hoặc tẩm ướp.

12/- Miso : có thể hiểu là 1 dạng hỗn hợp lên men của đậu tương và gạo, đây là loại phổ biến nhất. Súp Miso thường được dùng để nấu súp hoặc dùng để ướp các món ăn, làm nước chấm…

13/- Dấm gạo : giống loại dấm gạo thông thường ở VN.

14/- Rượu sake : đây là loại thức uống có cồn nổi tiếng và phổ biến nhất ở Nhật. Sake cũng được dùng trong nấu ăn, vừa thêm hương vị, thêm độ sâu cho món ăn, dùng để ướp, và khử mùi thịt cá.

15/- Mirin : rượu ngọt dùng trong nấu ăn.

Lan Hương chuyển tiếp