HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

ĐÈN HOA KỲ VÀ

HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

Nước Mỹ còn được gọi là Hoa Kỳ hay Huê Kỳ (cờ hoa). Danh xưng này đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19 qua thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ”. Vũ Trọng Phụng trong Vỡ đê, xuất bản năm 1936, có đoạn viết “Dung tìm bao diêm ở ô kéo, đốt một cây đèn Hoa Kỳ lên, tắt phụt ngọn lửa ở đèn dầu xăng. Nhìn ra sân, thấy trời tối om, Dung bèn bỏ bao diêm vào túi…”. Nguyễn Công Hoan trong Nhớ và ghi về Hà Nội giải thích “Đèn Hoa Kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn dầu hoả. Muốn bán được dầu hoả, nó phải làm đèn cho người mua dầu dùng (…).

Như vậy, thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ” (còn gọi là đèn “hột vịt” tại miền Nam), đốt bằng dầu hỏa (còn gọi là dầu lửa hay dầu hôi), đã xuất hiện từ rất lâu, trước khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam. Người ta còn dùng từ ngữ dầu Tây để gọi dầu hỏa khi mới du nhập vào Việt Nam. Ngày xưa, loại dầu này được đựng trong thùng sắt tây. Loại thùng này sau khi đựng dầu được tái chế thành thùng gánh nước hoặc cắt ra làm các vật dụng khác như đồ chơi cho trẻ em.

Một trường hợp tiếng Anh khác đã du nhập vào Việt Nam từ lâu là trò chơi của trẻ con : “Oẳn tù tì” dịch từ “One, Two, Three”. Hầu như mọi người Việt đều đã từng ra cái búa, cái kéo hoặc cái bao sau khi đọc câu “Oẳn tù tì. Ra cái gì ? Ra cái này !”. Hai người chơi và có một trong 3 lựa chọn, cái búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao và cái bao lại bao được cái búa.

Về mặt giáo dục, tiếng Anh du nhập miền Nam qua hai thời kỳ, dưới hai dạng ngôn ngữ : tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Thời Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), tiếng Anh song song với tiếng Pháp, được chọn làm sinh ngữ chính và phụ, tùy theo sự lựa chọn của học sinh từ bậc Trung học (lớp Đệ thất trở lên). Đệ nhị Cộng hòa (1963-1975) là thời thịnh hành của American English tại miền Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì sự có mặt của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

OK (okay) có lẽ là một từ nổi bật nhất trong tiếng Mỹ được sử dụng rộng rãi tại miền Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Một số người cho rằng từ này bắt nguồn này bộ tộc da đỏ Choctaws ở Châu Mỹ. Chữ “okeh” của người Choctaw có nghĩa tương tự như từ OK của người Mỹ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều tranh cãi về thuật ngữ này.

Theo chuyên gia ngôn ngữ Allen Walker Read, OK là dạng viết ngắn của cụm từ “all correct”. Những người khác thì cho rằng OK là dạng chữ tắt của các từ Hy Lạp có nghĩa là mọi thứ đều ổn cả. Không phải ai cũng đồng ý với những giải thích này nên kết luận hãy còn bỏ ngỏ.

Number one cũng là một cụm từ được dùng thường xuyên tại miền Nam với ngụ ý… số dzách hay số một. Người bình dân dùng number one thay cho good chẳng hạn như trong câu tiếng Anh “bồi” “You number one !”. Phản nghĩa với number one sẽ là number ten, hoặc tệ hơn nữa là “nâm-bờ ten tháo giường” được Việt hóa từ “number ten thousand” (số mười ngàn). Ai dám bảo là dân Việt không có óc khôi hài ?

Cao bồi là thuật ngữ đã đi vào ngôn ngữ miền Nam khi hàng loạt các loại “phim miền Tây” (Western movies) hay còn gọi là “phim cao-bồi”, được chiếu tại các rạp xi nê. Cowboys vốn là những chàng trai chăn bò, có người hành động một cách nghĩa hiệp “trừ gian diệt bạo” nhưng cũng có những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” trong bối cảnh Miền Tây Hoang dã (the Wild Wild West) tại Hoa Kỳ thời lập quốc. Từ ngữ cao bồi sau khi du nhập vào miền Nam lại có những biến thể về ý nghĩa. Người lái xe cao bồi được hiểu là lái ẩu, ăn mặc cao bồi là diện những bộ quần áo lố lăng, khó coi…

Tôi còn nhớ, ngày xưa thường hát Học sinh hành khúc của Lê Thương với những lời ca tụng một thế hệ học sinh của tương lai đất nước “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau. Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…” Thế nhưng bài hát này đã được mấy cậu học trò cải biên thành: “Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô. Thầy trò là người hủ tiếu ăn hai ba tô…” Chả là học sinh chỉ có đồng phục quần xanh-áo trắng nên anh nào mặc áo ca rô thì bị “chụp mũ” là học sinh cao bồi. Còn cái vụ hủ tiếu mà ăn tới “hai, ba tô” thì phải “xét lại”, có thể vì “bí vận” nên câu trước “áo sơ mi ca rô” câu sau có vần “hủ tiếu ăn hai ba tô” chứ học sinh làm gì có tiền mà ăn nhiều đến thế.

Cũng xin nhắc lại chuyện phim ảnh của Sài Gòn xưa. Để diễn tả một một sự kiện có tính cách kinh dị, người ta còn dùng từ ngữ “hít-cốc”, xuất xứ từ cái tên của đạo diễn Alfred Joseph Hitchcock, “ông vua phim kinh dị” của nền điện ảnh Hoa Kỳ với khoảng 50 bộ phim kéo dài suốt 6 thập kỷ. Người Sài Gòn đã có dịp xem rất nhiều phim hít-cốc “toát mồ hôi lạnh” như The Man Who Knew Too Much (1956, với James Stewart và Doris Day – trong phin này Doris Day hát bài What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất); Vertigo (1958, với James Stewart, Kim Novak); Psycho (1960, với Anthony Perkins, Janet Leigh); The Birds (1963, với Tippi Hedren, Rod Taylor)…

Một trong những tác động của người Mỹ đến miền Nam trong cuộc chiến vừa qua là hiện tượng xì-nách ba (snack bar) mọc lên như nấm sau cơn mưa tại Sài Gòn. Khác hẳn với snack bar nguyên thủy ở Hoa Kỳ, thường được hiểu là nơi bán các loại thức ăn nhẹ (snack) như hot dogs, hamburgers, french fries, potato chips, corn chips… còn kèm theo đồ uống. Sang đến Việt Nam, xì-nách ba trở thành nơi lui tới của những người lính Mỹ xa nhà để uống rượu giải sầu và được phục vụ bởi các cô gái bản xứ.

Họ thường là gái quê, ít học và có chút nhan sắc, ăn mặc “thời thượng” với chiếc mini jupe ngắn cũn cỡn. Gái xì-nách ba, hay còn gọi là gái bán ba, thường chỉ ngồi uống nước ngọt hay nước trà với khách nên lính Mỹ gọi đó là Saigon Tea. Các cô làm ở xì-nách ba không hẳn là gái điếm vì không phải cô nào cũng “đi khách”. Cũng từ các cô gái bán ba phát sinh ra loại tiếng Anh “giả cầy” kiểu “broken English”. Người ta nghe loáng thoáng trong câu chuyện giữa các cô “đấu hót” với lính Mỹ “Hello GI, you buy me Saigon tea” (Chào anh lính, anh mua cho em ly Sài Gòn ti nhé) hay còn rùng rợn với câu “No star where”, một cụm từ trấn an mà các cô dịch thẳng từ tiếng Việt: Không sao đâu !

Kinh doanh xì-nách ba là một nghề hái ra tiền tại Sài Gòn bên cạnh những dịch vụ như tắm hơi (steam bath), mát-xa (massage) nhưng cũng chính các nghề này đã khiến cuộc sống trong xã hội mất đi sự lành mạnh, đưa đẩy một số phụ nữ vào con đường tội lỗi. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu đó là những hệ quả không thể nào tránh khỏi của một đất nước trong tình trạng chiến tranh. Xã hội miền Nam bên cạnh nghề thu hút một số người làm việc tại các quán ba còn có một giai cấp cao hơn, họ làm việc cho các hãng thầu tư nhân của Mỹ như hãng RMK được thành lập từ đầu thập niên 60 với các công trình xây dựng xa lộ Biên Hòa, quốc lộ 4 tại Phụng Hiệp… hoặc các cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ như USAID.

Nói chung, họ là những người đi làm sở Mỹ với mức lương cao nhưng phải đạt một trình độ tiếng Anh khả dĩ trong công việc hàng ngày. Những người có trình độ cao hơn thì làm thông dịch viên, ngay như Trường Sinh ngữ Quân đội cũng có những khóa đào tạo thông dịch viên đồng hóa với cấp bậc trung sỹ để về phục vụ tại các tiểu khu có cố vấn Mỹ.

Cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 là thời kỳ Sài Gòn chịu ảnh hưởng từ của phong trào hippy (hippie) của Mỹ. Người ta thấy xuất hiện những từ ngữ có liên quan đến hippy như hoa hippy, hippy bụi đời, hippy choai choai, hippy yaourt…Những kiểu thời trang hippy cũng xuất hiện: váy ngắn (mini jupe, miniskirt), quần ống loe (quần chân voi), áo dài hippy thì ngắn cũn cỡn mặc chung với quần ống loe còn con trai thì tóc dài đến độ nhìn từ xa không thể nào phân biệt được giới tính… Văn hóa hippy bao gồm từ phong cách ăn mặc “bụi” đến những tư tưởng phóng khoáng, chống lại những quy ước cứng nhắc của xã hội. Có thể nói, phong trào hippy là biến tấu của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) theo kiểu “yêu cuồng, sống vội” với Jean Paul Sarte, Françoise Sagan từ văn hóa Pháp.

Cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã nở rộ tại Mỹ với khẩu hiệu “Make love not war“. Biểu tượng của phong trào hippy là hoa không lá (còn gọi là hoa hippy), đó là hình tượng của Power Flower (sức mạnh của hoa) được bắt đầu từ năm 1965 tại khu Berkerly, California. Người ta còn nhớ mãi hình ảnh một cô gái hippy đã gắn hoa trên họng súng của một quân nhân thi hành nhiệm vụ giữ trật tự trong một cuộc biểu tình phản chiến.

Ở Sài Gòn, các người đẹp gắn hoa hippy lên tóc, cài lên tai, dán lên mắt kính để làm duyên. Người ta còn vẽ hoa lên xe hơi, lên xe Honda, thậm chí đôi lúc còn thấy hoa hippy xuất hiện trên cyclo, xe ba gác, xe bò. Cô em gái tôi có một chiếc áo khi ủi đồ bị than rớt cháy thủng một lỗ, thế là cô gắn luôn một cái hoa hippy, trước là để “ngụy trang” sau là chạy theo… thời trang ! Có thể nói Sài Gòn khi đó giống như Trăm hoa đua nở, nhại tên một chiến dịch ở miền Bắc thời đó.

Có thể nói, phong trào hippy cũng lan rộng đến người lính nhưng nói chung, những người lính trận mỗi khi có dịp đi phép về thành phố chắc chắn không thể chấp nhận lối sống hippy của các thanh niên, thiếu nữ tại chốn phồn hoa đô hội. Những người hằng ngày phải đương đầu với súng đạn làm sao có thể “thông cảm” với những người hằng đêm đi “bum” tại các phòng trà, dancing.

Một đằng thì phải hy sinh tính mạng để “tham chiến” còn một đằng thì lại ăn chơi để “phản chiến”. Đó là một trong những “mâu thuẫn” trong chiến tranh Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một trong những lý do khiến miền Nam sụp đổ ? (nguồn Facebook Kim Chi)

Kiều Văn chuyển tiếp

ÔNG TẠ

VÀ NHỮNG NƠI KHÁC

THIÊN ĐƯỜNG VÀ HỎA NGỤC KẾ NHAU

Khu vực Ông Tạ – tính từ chợ Phạm Văn Hai, qua cầu bắc trên một khúc kênh Nhiêu Lộc, chạy thẳng luôn tới đường Cách Mạng Tháng Tám, dài chưa đầy một cây số nhưng tồn tại không dưới chục hàng bán thịt chó. Người mua không cần xuống xe, cứ tấp sát lề đường là có thể tiếp cận những sạp thịt chó. Không giống thịt heo, thịt chó màu đỏ, thớ nhỏ, tầng thịt không dầy, rất ít mỡ, bì vàng rộm (vàng không do thui rơm mà do đèn khò). Giá thịt chó không rẻ, nhưng với người ‘trót mang lấy nghiệp vào thân’, không ai cò kè. Thịt chó tươi bán buổi sáng, tầm trưa là tan. Buổi chiều tối, là giờ của tửu đồ tấp nập rủ nhau ‘đi Ông Tạ hạ cờ tây’.

Mùi thịt chó nướng thơm điếc mũi, khói dầy đặc, la đà như sương mù thành London. Tiếng hô ‘một hai ba, dzô’ sang sảng, nhịp nhàng. Tiếng xe nẹt bô, tiếng cười nói chen nhau sôi nổi, có cảm tưởng ‘hào khí Thăng Long’ đang tụ hết về bàn nhậu thịt chó của anh hùng quân tử đất phương Nam. Một hảo hán nhai miếng dồi chó, thêm lá mơ, lát riềng mỏng, nghiền ngẫm một chốc rồi ngâm ư ử : ‘Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không’.

Tiếng vỗ tay tán thưởng rộ lên. Bia rượu chảy như suối. Thịt chó nướng, rựa mận, xáo (măng) chó, bưng lên tới tấp. Ai cũng sảng khoái khen thịt chó mắm tôm, riềng mẻ, lá mơ đáng mặt quốc hồn quốc túy.

Ấy vậy mà chỉ cách ‘làng thịt chó’ chưa tới chục thước, Ken’s House sừng sững mọc lên, như một sự đối đầu. Ken’s cũng chưng hình chó, cũng mời khách vào ‘zui zẻ’ nhưng không có bia bọt, không có chó bảy món, mà ngược lại, ‘hầu hạ’ chó, cưng quý chó như trời. Lạ một điều là dù đã khai trương cả năm, lại ngay mặt đường, có bảng hiệu hoành tráng nhưng nhiều cư dân khu vực Ông Tạ khi được hỏi về Ken’s House vẫn xài ba ngoại ngữ trong một cái lắc đầu dứt khoát: ‘ngộ nô biết’

Một ngày, một bạn già đưa kẻ viết bài đi ‘thám hiểm’ Ken’s House. Ðó là quán cà phê hai tầng. Tầng dưới bán quần áo, đồ chơi, thuốc bệnh, thức ăn… cho chó, kiêm giữ xe. Tầng trên là nơi khách uống cà phê, chơi với những chú chó giống Alaska to khỏe, đẹp mã. Khách uống cà phê có thể chìa hạt khô mời ‘cẩu xực’, cũng có thể ngồi bệt trên nền nhà, ôm chó nựng nịu, chụp ảnh hoặc vừa uống cà phê vừa chơi đùa với chó. Giá cà phê chó khá mềm, 25,000 một ly nhựa coffee to go (chỉ có cà phê đá, không ‘chơi’ cà phê phin, cà phê nóng). Trong khi các quán cà phê chó khác như Hachiko (số 14 đường Hoa Sữa), Dorae Dog Coffee (47 Nguyễn Phi Khanh), Cheryl Kitten Coffee (25/4 Tôn Thất Tùng) có nhiều giống chó lớn nhỏ khác nhau thì Ken’s House chỉ chuộng giống chó Alaska.

Anh chủ tiệm giới thiệu chó Alaska là giống chó Bắc cực. Người Eskimo, người Nga từ xưa đã biết dùng loại chó này kéo xe đường dài. Ðặc điểm để phân biệt chó Alaska với chó khác, nhất là chó giống Husky (cũng là chó kéo xe vùng tuyết) là dù thân màu xám hay đen thì bốn chân và mõm chó Alaska cũng tuyền một màu trắng, đuôi cong ngược lên lưng, mắt màu nâu.

Chó Alaska rất thân thiện, không sủa, không hiếu chiến, nên dù tầm vóc to cao không kém bẹc giê cũng không thể dùng coi nhà, canh trộm.

Một con Alaska dao động từ chục triệu tới cả trăm triệu tùy thuộc xuất xứ. Rẻ nhất là chó made in Viet Nam. Ðắt nhất là chó nhập thẳng từ Nga. Bầy chó ở quán hơn chục con, đều ra đời ở ngay khu Ông Tạ này, được nuôi dưỡng, yêu thương, cho học hành tử tế.

Kể cũng lạ ! Ông Tạ khét tiếng là điểm tập kết chó bị bắt trộm, bị mua bán đường dài, bị giết mổ, làm thịt. Dám chọn nơi ‘địa ngục trần gian’ để mở ‘thiên đường dương thế’ cho chó, phải nói là một hành động dũng cảm và khá táo bạo của nhóm năm chàng trai trẻ-  năm ngự lâm… không kiếm

Nơi khác !

Xu thế cà phê thú cưng ở Sài Gòn hai năm trở lại đây được khá nhiều bạn trẻ, nhất là cư dân @ hưởng ứng. Ban đầu vì ‘kết mô đen’. Sau thì ‘kết’ thật. Và kết, là chết…tiền. Một quán cà phê ‘chết’ như vậy là cà phê Ichi, một cái tên rất Nhật Bản, có nghĩa là number one- Số Một.

Nếu coi Ken’s House bên Ông Tạ là thủ đô chó thì phải gọi Cà phê Ichi là vương quốc mèo vì số mèo tại đây khá hùng hậu – 26 con ! Toàn mèo ngoại quốc ! Hèn thì mèo Xiêm. Khá hơn thì mèo Anh. Oách nhất là mèo Ba Tư. Mỗi mèo nặng không dưới 3 kg, sở hữu bộ lông vân ám (vằn như mây cuộn), lông xám, lông sô cô la… êm như nhung, mềm như lụa. Tại quầy tiếp tân ngoài hiên, có bán những phụ tùng mèo made in Japan, khách nộp phụ thu 40,000 đồng (tiền chơi mèo). Sau đó gọi đồ uống, trả tiền luôn, trước khi đẩy cửa kính bước vào trong. Vài em gái bị ‘cú đờ phút’, choáng váng ngay lần đầu tiên thấy mèo Ba Tư lông dài, đài các. Các em reo lên, hè nhau ôm mèo, hôn mèo, chụp ảnh lia lịa. Sự ồn ào của đám khách teen có vẻ không được hoan nghênh. Những con mèo mặt tịt đang cuộn khoanh ngủ trong đủ loại tổ ấm ngộ nghĩnh dưới sàn nhà lục tục thức dậy, nhanh nhẹn leo lên hành lang trần nhà, tỵ nạn.

Một khách quen của quán, chị Anna, đến từ Châu Âu, nhẹ nhàng nhắc :‘Bảng quy định dán đó, các bạn đọc đi. Cấm chụp hình có flash, không kéo đuôi, kéo tai mèo, không làm ồn để mèo khỏi bị kích động, sợ hãi…’. Anna kể công ty nơi chị làm việc cũng trên đường Trần Quang Khải, chỉ cách cà phê Ichi một ngã tư. Vào giờ lunch time, chị hay tới đây để ‘đỡ nhớ con Kitty bên nhà’. Cô phục vụ cho biết ‘Muốn có đàn mèo sạch sẽ, béo tốt, đủ sức giữ chân khách, Ichi không thể mở cửa sớm trước 10 giờ rưỡi sáng. Làm gì trễ thế? Dạ, tắm nước nóng cho mèo rồi chải lông, cho ăn, lau dọn. Không như chó, mèo leo trèo, chui rúc bất cứ chỗ nào. Vì thế, bàn ghế, trần nhà, sàn nhà, dính nhiều lông mèo. Quán theo tiêu chuẩn cà phê mèo Nhật Bản, đòi hỏi thơm sạch tuyệt đối nên rất cực! Thế công xá… Dạ, chủ yếu yêu mèo mà làm, không phải vì tiền.

Ngoài cà phê chó, cà phê mèo, hoặc cà phê chó mèo hỗn hợp, Sài Gòn còn cà phê bò sát. Hiện tại, khuynh hướng cà phê thú cưng đang bung nở tại Sài Gòn và một vài tỉnh lân cận như Ðồng Nai, Bình Dương. Hy vọng đấy chỉ là biểu hiện của khuynh hướng đa dạng hóa loại hình cà phê giải khát (kiểu cà phê sách, cà phê chim, cà phê thiền, cà phê vườn, cà phê võng…) thay vì là chỉ dấu của sự cô đơn, nghi kỵ, chán đời, chán người.

Kiều Văn chuyển tiếp

LỜI VỢ DẶN

Ruộng nhà không chịu thâm canh

Không lo cày xới, để dành cho ai ?

Trốn đi cày mướn bên ngoài

Sức đâu còn để trồng khoai ruộng nhà.

Mấy lần chót dại…đã tha

Lần này phải quỳ giữa nhà xử nghiêm

Từ nay nhiệm vụ mỗi đêm

Trước khi muốn ngủ phải xem ruộng nhà !

Phải xem lượng nước chảy ra

Nếu ra nhiều quá… kiểm tra quanh bờ

Nghiêm cấm không được thờ ơ

Chuẩn bị dụng cụ rồi chờ lệnh tôi !

Phía trên còn hai quả đồi

Đất đai, màu mỡ… lâu rồi để không

Tranh thủ dạo lên vài vòng

Khi nào tới đỉnh là xong một ngày

Nhớ lời vợ dặn hôm nay

Nếu không thực hiện… cút ngay khỏi nhà

Điều ước

Cặp vợ chồng 60 tuổi đang tổ chức kỷ niệm đám cưới bạc của họ ở bãi biển thơ mộng. Bỗng một bà tiên từ đâu xuất hiện và ban cho mỗi người một điều ước. Không tin đây là sự thật, cả 2 vợ chồng đồng thanh đáp :

– Có thật không vậy ?

Bà tiên nhìn họ với ánh mắt trìu mến nói:

– Tất nhiên rồi.

Thấy vậy, người vợ nhanh nhảu đáp :

– Tôi muốn đi du lịch vòng quanh thế giới.

Ngay lập tức người vợ có trong tay tấm vé.Tới lượt người chồng, ông liếc nhanh bà vợ rồi bẽn lẽn nói :

– Tôi muốn bà ấy trẻ hơn tôi 30 tuổi.

Bum ! Bà tiên vung đũa thần, biến ông chồng thành cụ già 90 tuổi, rồi biến mất.

– !!!

Bố thắng con

Một ông bố suốt ngày phàn nàn với thằng con :

– Trai tráng ngần này tuổi đầu rồi mà vẫn không tài nào có được con bồ, thằng này kém quá !

Thằng con gân cổ :

– Bố có giỏi thì tán thử xem, con với bố ra ngoài kia, thi xem thằng nào tán được trước ?

Hai bố con ra ngõ ! Thấy một cô bé rất xinh đi xe đạp lướt qua, anh con nhanh nhảu tán tỉnh :

– Em ơi anh yêu em, em có yêu anh không ?

Gặp đúng cô đanh đá, cô này ngoái lại :

– Yêu yêu cái thằng bố mày ý!

Ông bố nhảy cẫng lên :

– Đấy ! Thấy chưa… Mày thua tao rồi! !!!!

Yên Nhàn chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: