VĂN HÓA VĂN NGHỆ (8)

KÝ GIẢ NGUYỄN ANG CA,

CUỘC ĐỜI TRÔI NỔI

Ký giả Nguyễn Ang Ca (1927 – 26.III.1991), từ phóng viên báo Tiếng Chuông (1950), chủ nhiệm nhật báo Tin Sớm tới soạn giả một vở cải lương ăn khách nhất Sài gòn : Hoa Mộc Lan với nữ nghệ sĩ Thanh Nga.

Tài liệu về nhà báo Nguyễn Ang Ca được sắp xếp lây lất trong tủ sách của người viết bài này cả chục năm, vì không biết nó thuộc chỗ nào ngăn nào cho phải, nhưng nó cứ ở đó mãi vì anh là bạn tôi – nhất là trong 5 năm 1961-1964, hồi chúng tôi làm chung mấy tờ báo với nhau, nhất là hai tờ Kịch Ảnh và Dân Ta của Quốc Phong và Nguyễn Vỹ, khi anh mở hãng quảng cáo mà thân chủ trong có chủ hãng phát hành phim xi-nê ngoại quốc ở Việt Nam và tôi làm hai ba tờ báo có các trang điện ảnh.

Chúng tôi gặp nhau hàng ngày, anh luôn luôn vui vẻ cởi mở dù nổi tiếng và ở trong nghề báo từ 1950, và chúng tôi cách nhau 11 tuổi mà anh không nề hà chút gì, trao đổi đủ thứ chuyện. Tôi không thể ngờ con người ấy có một cuộc đời đầy nước mắt cho tới khi đọc bản tự truyện của anh, dày 8 trang đánh máy, cộng thêm cả bản viết tay, do ký giả Trọng Minh trao cho tôi nhiều năm trước.

Nguyễn Ang Ca có một bề ngoài xuề xòa dễ dãi, không ham cung cách trọng vọng, khi đi học các trường theo chương trình Tây từng đậu bằng Thành Chung một lượt với bạn thân là (cố) Giáo sư Quốc gia Hành chánh Nguyễn Văn Bông, cùng dạy ngành chuyên môn với ông Bông, trong khi bạn rủ đi du học Pháp quốc thì ông chọn ở lại Sài Gòn làm phóng viên thể thao cho nhật báo Tiếng Chuông của ông Ðinh Văn Khai.

Tháng Tư 1952 để tránh Pháp bắt lính cho chiến trường Ðiện Biên Phủ, ông xin vào phục vụ trong Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, 6 năm làm phóng viên cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội, đi tu nghiệp báo chí qua New York thực tập trong tờ New York Times, phụ trách tường thuật Thế Vận Hội 1968 và World Cup Mexico 1970 đều được tuyên dương với huy chương vàng, và sau đó được Bộ Trưởng Trần Chánh Thành cử sang nước sau này lập Tòa Lãnh Sự Việt Nam tại Mexico,

Nhưng nghề làm báo của anh sụp đổ với chính biến và báo Tin Sớm không đủ 20 triệu để ký quĩ cho Bộ Dân Vận, ta gọi là “dân giận,” nên anh trở lại viết thuê và soạn tuồng cải lương. Vở Hoa Mộc Lan của anh – khi trao cho kịch sĩ Viễn Châu ông hiệu đính và hai người ký biệt hiệu Ngọc Huyền Lan – Viễn Châu đã thành công rực rỡ với Thanh Nga – Thành Ðược.

Trong bản tự truyện, Nguyễn Ang Ca viết :

“Chẳng ai ngờ đây là vở hát phá tất cả kỷ lục tiền thu từ trước đến nay trong giới cải lương miền Nam. Và theo lời ông giám đốc hãng đĩa Hoàng Hoa thì trong lịch sử làm đĩa, chưa có vở nào bán mạnh như Hoa Mộc Lan”. Sự thành công của vở tuồng khiến Thành Ðược – Thanh Nga và Nguyễn Ang Ca làm soạn giả diễn viên tiếp với vở “Người Yêu của Hoàng Thượng.”

Soạn giả tay mơ kể : “Riêng nghệ sĩ Thành Ðược thì có nhiều kỷ niệm với vở ‘Người Yêu của Hoàng Thượng,’ Bởi đây là vở hát đầu tiên mà Thành Ðược ôm được Thanh Nga và lợi dụng khi đèn tắt để đổi cảnh; Thành Ðược đã hôn cố nữ nghệ sĩ tài hoa Thanh Nga ngay trên sân khấu !”

Ðoạn tự truyện sau đây của ký giả Nguyễn Ang Ca tôi xin để nguyên, không cần sửa và không muốn viết lại, e rằng không trình bày trung thực được như chính đương sự. Nhưng xin tóm tắt trước :

Anh tự nhận là người “Minh Hương” (tức là người Tầu sinh ở Việt Nam), cha họ Quách, tên thật anh là Kim Cang, nói giọng Bắc là Kim Cương. Suốt đời anh không biết mặt mẹ, đó là nỗi đau đớn nhất của anh, anh phải nhờ nhiều người đi hỏi, cho đến khi biết được tên bà vú già, tìm đến thì bà vú đã ra người thiên cổ. Chỉ biết mẹ anh, vì uất hận chồng (cha anh) nên đã đem anh đi cho người ta nuôi, khi anh chưa đầy tháng. Tôi không biết phải tả như thế nào câu chuyện này.

Anh viết : “Có thân hình lực sĩ nhưng bản tánh thật ủy mị có lẽ ảnh hưởng bởi cuộc đời: có mặc cảm là hạt máu rơi tức đứa bé vô thừa nhận… Mới 17 tuổi đã bị quân đội viễn chính Pháp bắt cầm tù (1946), bị tra tấn hành hạ và đày đọa cả năm dài mới được trả tự do.

“Vì đơn lẻ trong thời niên thiếu, nên thường yêu bạn hơn bất cứ người nào khác. Khi nghe tin ký giả (thể thao) Phan Như Mỹ qua đời, đã đau khổ ngẩn ngơ đến cả tuần lễ chán cơm nước.”

Anh cho biết tin các ký giả nhà văn Thiệu Võ, Ðạm Phong, Trọng Nguyên, Trọng Thìn, Trần Việt Sơn, Hiếu Chân… từ trần cũng làm anh vô cùng đau đớn.

Sau đây là vài người bạn danh tiếng nói về anh.

– Quốc Phong Nguyễn Văn Hanh, chủ nhiệm báo Kịch Ảnh và Tiếng Vang : “Nguyễn Ang Ca là một chủ báo không thủ đoạn và có thể nói thật ngây thơ !”

– Văn Quang nhà văn từng khuyên Nguyễn Ang Ca : “Anh Ca ơi đừng bao giờ đánh xì-phé với anh em. Anh chơi bài với anh em mà anh lại sợ anh em thua về nhà bị vợ rầy, thì còn đánh bạc làm gì !

Phóng viên thể thao, chủ nhật báo Tin Sớm sinh ngày 10 Tháng Mười 1927, cha họ Quách và mẹ đem con cho chưa dầy tháng vào gia đình ông Nguyễn Văn Sển cũng người Hoa như cha ông, nên có tên và có họ Nguyễn, là Nguyễn Kim Cang. Ông là anh cùng cha khác mẹ với nữ kịch sĩ nổi tiếng Túy Hồng.

Suốt thời niên thiếu ở và đi học trong các ký túc xá học hiệu ở Rạch Giá, Mỹ Tho, Sa Ðéc, Long Xuyên, Sài Gòn. Học ra thư ký bút toán làm việc cho vài hãng của người Pháp, thư ký cho Tòa Lãnh Sự Bồ Ðào Nha ở Sài Gòn. Gia nhập làng báo từ 1950, phóng viên thể thao báo Thời Cuộc, rồi Tiếng Dội, Tiếng Chuông. Thành lập nhà xuất bản Dân Tộc với vợ là nhà văn Huyền Nhi, từng in các sách Ngồi Tù Khám Lớn cho Phan Văn Hùm, và thơ văn của Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Vỹ. Có thời buổi tối đi dạy Pháp văn thực hành tại các lớp tư.

Thời trước 75 anh từng được các báo cử đi tham dự các biến cố hay đại hội quốc tế: Tokyo 1964, Mexico 1968, Munich 1972, và Nam Tư. Năm lần dự Á Vận Hội ở Thái, Mã, Tân Gia Ba, Ba Tư… Theo dõi Hòa Ðàm Paris.

Ba lần vượt biên sau 1975 thất bại, không còn tài sản gì, khi bị bắt được mấy người thợ in cũ cưu mang. Lần thứ tư năm 1978 đi thoát tới Hòn Rắn (Pulau Bidong), được con trai du học bảo lãnh về Bruxelles (Bỉ quốc). Tác phẩm duy nhất ở hải ngoại là cuốn Giá Tự Do (hay Lệ Tràn Biển Ðông), Ðại Nam xuất bản sau năm 1989 là năm cuốn sách được viết xong. Ông mất ngày 26 Tháng Ba 1991 tại Bỉ.

Ðể kết luận về Nguyễn Ang Ca, sau đây là phát biểu của một đàn anh và một bạn thân trong giới của anh :

– Nhà văn Bình Nguyên Lộc : …Anh nên thu hẹp lại việc viết báo. Bởi cứ theo dõi tin tức hay dịch thuật các loạt bài thời sự anh sẽ không còn ngày giờ nữa. cần phải có sách xuất bản. Tại sao anh lại bỏ cái sở trường phóng sự tiểu thuyết của anh ?

– Nhà văn An Khê : …Giữa Ang Ca và tôi, An Khê, có nhiêu sự ngẫu nhiên trùng hợp lạ lùng. Nhạy bén nghề nghiệp, anh là một số những chủ báo bình dân hiền hòa nhất trong làng báo Sài Gòn, từ 1964 đến 1974. Ðặc điểm của anh: duy tâm, đạo đức và không hề muốn làm mích lòng ai hết. Một người bạn tốt, chân thành. Văn viết của anh cũng hiên hòa, mộc mạc như con người của anh. (theo Viên Linh, viết dịp tưởng niệm Nguyễn Ang Ca 3.2017)

Đọc thêm : trên Một thời Sài Gòn, ngày 10/7/2010 :Nhà báo NGUYỄN ANG CA

CHUYỆN ĐỜI BẠCH CÔNG TỬ

Bạch công tử là một tay chơi nổi tiếng ở miền Nam những năm của thập niên 1920, 1930. Cùng với Hắc công tử, tức Công tử Bạc Liêu, ông để lại nhiều giai thoại về ăn chơi hoang phí. Tuy vậy, Bạch công tử cũng là người có rất nhiều đóng góp cho nghệ thuật cải lương ở miền Nam khi đó. Ông là chồng của NSND Phùng  Há.

Tên cúng cơm đầy đủ của Bạch Công Tử là Lê Công Phước, còn gọi là Phước George. Nghe đồn rằng cha của Phước là Đốc sứ Lê Công Xuân, người gốc Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, vốn làm giàu nhờ nhiều ruộng, nhiều của chìm của nổi trong các chuyện làm ăn mờ ám. Dòng họ Lê vốn có nhiều công lao với người Pháp thời ấy. cho nên ngoài nhưng ưu đãi trong công cuộc làm ăn, họ còn được chính quyền bảo hộ cho nhập Pháp tịch, bởi thế Lê Công Phước mới có tên là Phước George.

Ngay từ thuở thiếu thời, cậu Phước George đã được gia đình gởi sang Pháp du học. Và cũng giống như Hắc công tử Bạc Liêu, sau một thời học ở Pháp chỉ về nước ông chỉ có vỏn vẹn một cái bằng cấp … nhảy đầm. Thất thu về học vấn, nhưng lại bội thu về vốn liếng ăn chơi, thành tích lẫy lừng nhất của cậu Phước Geogre là mối tình với cô công chúa của Sa Hoàng Nicolas đệ nhị, lúc đó đang lưu vong ở Paris. Chàng Phước bằng tiền từ quê nhà gửi sang, qua trương mục ngân hàng, đã rút ra tiêu xài xả láng, quyến rũ được cô gái Nga vương giả thất sủng đang cần tiền.

Qua cuộc phiêu lưu tình ái đó, Phước George đã tiêu xài khá nhiều tiền của cha, đến nỗi Đốc phủ Xuân phải triệu hồi cậu ấm Phước về nước.

Vốn trắng trẻo đẹp trai, và cũng để phân biệt với Hắc công tử, người ta đặt cho cậu Phước biệt danh Bạch công tử. Nếu so về tiền của thì có thể Bạch công tử có phần kém hơn Hắc công tử Bạc Liêu, song kể về ăn chơi thì có phần trội hơn, có lẽ do bản tính hào hoa, do đã từng mê hoặc được cả công chúa Nga.

Có nhiều giai thoại về những cuộc ăn chơi, đốt tiền như đốt rác của hai cậu công tử này, mà tiêu biểu nhất là chuyện cậu này đốt giấy bạc cho cậu kia tìm của rơi. Chuyện như thế này: Một ngày kia, hai cậu Hắc – Bạch tham gia một bữa tiệc lớn tại nhà riêng của một người bạn chung. Trong buổi đó, lúc gầy sòng đánh bạc cho vui, Hắc công tử lỡ tay đánh rơi tờ giấy “oảnh” (giấy bạc Vingtpiastres – 20 đồng). Trong lúc Hắc công tử còn đang quờ quạng mò tìm dưới gầm bàn thì bất ngờ, Bạch công tử rút ngay tờ giấy “xăng” (cent – một trăm đồng), bật diêm đốt để soi cho cậu tìm tờ giấy 20 đồng.

Đúng là một cách chơi khăm. Tất nhiên, Hắc công tử căm lắm. Và cuộc trả đũa nghe nói đã diễn ra sau đó vài tháng, khá ngông cuồng. Hôm đó đích thân Hắc công tử mời bạn bè về quê nhà ở Bạc Liêu, mở tiệc thật linh đình. Trong số khách đó không thể thiếu Bạch công tử. Trong buổi tiệc, khi ăn đến món tả – pín – lù, Hắc công tử đã dùng cả một bao toàn giấy bạc bộ tư (giấy 100 đồng Đông Dương có in hình chiếc lư đồng) để dùng đốt lò.

Bạch công tử từng lập đoàn hát lấy tên là Huỳnh Kỳ. Gánh hát của Bạch công tử được tổ chức khá quy mô, ba chiếc ghe chài vận chuyển đoàn đi lưu diễn đây đó, được thiết kế như những chiếc du thuyền, và đặc biệt hơn nữa là cách bố trí của chủ nhà: chiếc thứ nhất có hai tầng, chia nhiều phòng, trong đó có phòng cho ông bầu Bạch công tử và các phòng để giải trí (đánh bạc, bida). Chiếc ghe thứ hai dành cho đào kép, có cả phòng tập tuồng. Còn chiếc ghe chỉ dành chở… đội bóng của gánh hát Huỳnh Kỳ. Đội bóng quy tụ nhiều cầu thủ có tiếng, được trả lương cao, chỉ để đá bóng mỗi khi gánh hát đi lưu diễn. Vào thời ấy, đội bóng đá này đã gây thích thú cho khán giả nhiều nơi…

Mục đích ban đầu của Bạch công tử là dùng đoàn hát để kiếm tiền, nhưng dần dần gánh Huỳnh Kỳ trở thành môi trường thuận lợi cho cậu công tử này tiếp tục đốt tiền. Ông Đốc phủ Xuân lúc đó đã già, kiếm tiền giảm nhiều … Thêm vào đó, với cách vừa làm ăn vừa phá của như Bạch công tử, nên chẳng mấy chốc nhà họ Lê mang những món nợ không thể ngờ nổi.

Lúc ấy Bạch công tử lại đưa đoàn hát đi xuất ngoại, diễn cho kiều bào ở Pháp xem. Họa vô đơn chí, thành công chẳng được bao nhiêu, nhưng khi trở về lại bị chìm tàu ở Địa Trung Hải. Của cải đổ xuống biển, chỉ may mắn là người còn sống sót. Lúc trở lại Sài Gòn, gần Bạch công tử trắng tay.

Lúc còn hưng thịnh, Bạch công tử từng tuyên bố ông sẽ không bao giờ nhờ vả người khác. Nếu có sạt nghiệp thì ông sẽ lái xe hơi ra Vũng Tàu và chạy thẳng xuống biển để kết liễu cuộc đời. Nhiều người cho rằng gọi là “ăn chơi” nhưng thực ra Bạch Công tử cũng chỉ lo cho gánh hát.

Mặc dù vậy ông cùng với Công tử Bạc Liêu để lại khá nhiều giai thoại. Và trong giai đoạn đó, những người như Bạch Công tử, như thầy Năm Tú (người nhập cảng linh kiện về tổ chức lắp ráp và kinh doanh máy hát đĩa thời đó) đã có công trong việc phát triển cải lương  Nam bộ. Vương Hồng Sển, trong hồi ký 50 năm mê hát của mình cũng viết: “Tôi có nhiều cảm tình riêng đối với Cậu Tư”.

Sau khi chia tay với nghệ sĩ Phùng Há, Bạch công từ ngày càng lún sâu vào nghiện ngập. Tài sản lần lượt bán hết, người ta thấy ông lang thang ở vườn Ông Thượng (nay là Tao Đàn). Mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ông không hề ngửa tay xin xỏ hay nhờ vả ai.

Sau đó ông được một người thân mang về chăm sóc. Đó là ông Nguyễn Ngọc Phi, một điền chủ đất ở chợ gạo, con trai một người bạn thân của ông Lê Công Sủng, cha của Bạch công tử. Cuối năm 1949, ông Nguyễn Ngọc Phi đưa Bạch công tử về về chăm sóc tại gia đình ông ở thị trấn Chợ Gạo. Nhưng vì hậu quả của nghiện ngập, Bạch công tử mất đầu năm 1950.

Theo ông Trương Ngọc Tường thì sau khi đã thành danh, nữ nghệ sĩ Phùng Há nhớ lại những người từng là ân nhân trước đây như thầy tuồng, đạo diễn, bà đã bỏ tiền ra xây mồ mả cho nhiều người. Trong đó có việc cải táng mộ Đốc phủ Lê Công Sủng và hai người con của bà với Bạch Công tử đưa về Sài Gòn. Riêng mộ Bạch Công tử thì vẫn còn tại Chợ Gạo. (theo Hòn Ngọc Viễn Đông)

TÒM TEM

Dân gian có nhiều chữ thật đắc. Đơn cử : Tòm tem, hoặc riêng chữ tòm thôi cũng thuộc dạng đặc sản, khó đụng hàng. Nôm na là đẳng cấp. Tinh hoa nó phát ra, độc sáng ở bốn câu sau:

Đang khi lửa tắt cơm sôi

Lợn đói, con khóc, chồng đòi tòm tem

Bây giờ lửa đã cháy rồi

Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm”

Tòm tem là gì ? Chớ nên cắt nghĩa cái động từ lôi thôi nọ, cho rách việc. Nó chả ra cái thể thống gì cả, nhưng buộc người đọc phải tự hiểu lấy. Bảo nó độc sáng là vì vậy. Đắc địa là do thế.

Chỉ bốn câu, lục bát; ngần ấy chữ mà vẽ được một sinh hoạt gia đình thật sinh động, hoà bình, no đủ, ấm êm, thuận vợ thuận chồng rất đỗi yên hàn vô sự. Bởi thế, tòm tem sẽ không đời nào được ló mặt trong hoàn cảnh thậm đói kém, thậm rối lòng cảnh màn trời chiếu đất. Thuật ngữ “Cơm no bò cỡi” là đồng minh của tòm tem. Đồng vợ đồng chồng tát biển đông cũng cạn.

Phải dân chủ. Đừng học thói gia trưởng. Phải cần kíp thương yêu. Xong. Tòm. Tới bến. Khai hoả một phát súng : Đoàn g! Đốt cái pháo tống : Đùng ! Cho anh tòm tí : Oái ! Tất cả đều phát tiếng. Khổ đau hoặc hạnh phúc cũng lệ thuộc vào mỗi một cung bậc rên la. Muốn bắn súng, muốn đốt pháo, muốn tòm; nói cách khác là muốn gây ra âm thanh trước tiên phải ý tứ cẩn trọng để âm mưu kia khỏi bị lộ, tốt nhất nên bày một ám hiệu:

“Chuột kêu chút chít trong rương,

Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay”

Em giả bộ làm chuột ngầm báo cho anh biết nơi em ẩn nấp, điều anh cần thực thi là chớ gây ra tiếng động kẻo “lạy bà tôi ở bụi nầy”. Mẹ biết thì xôi hỏng bỏng không. Tòm tem kiểu đó cũng có cái hay của nó, thêm hưng phấn. Vụng trộm có riêng cái khoái cảm của vụng trộm. Ông Bảo Sinh từng đề cao cái sướng khi vụng trộm làm thơ :

“Ai cũng làm được nhà thơ,

Ai cũng có thể “sù cơ” của mình”

Sù cơ là gì ? Lại hỏi ! Gớm, ngây thơ cụ đến thế cơ !

Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn

Cho nên được gọi là khôn hơn người

Em xinh đâu bởi nụ cười

Em xinh là bởi nhiều người xấu hơn”

Thơ Bảo Sinh đậm nét dân gian, gần trùng tính dung dị phổ cập của ca dao.

“Ra đường sợ nhất công nông

Về nhà sợ nhất vợ không mặc gì !”

Hai chữ công nông ngầm tố giác quê quán người làm ra câu lục bát trên : Ngoài Bắc. Bên kia sông Hiền Lương. Giai cấp công nông người trong Nam hầu như chẳng mấy ai đề xướng. Và thiết nghĩ, chữ tòm tem ắt cũng do “ngoài ta” khai sinh ra. Cà chớn là chữ của miền Nam, ngày đầu vào tiếp thu nghe lạ tai, anh bộ đội bị thằng rắn mắt chơi khăm, giải thích sai lạc . “Ối, tưởng gì, ngoài ta cà chớn chạy đầy đường !”.

Nôm na ngoài ta thứ gì cũng có, hơn hẳn đất phương Nam phồn vinh giả tạo, mãi bị bọn ác ôn kềm kẹp bóc lột. Thời điểm đó trong Nam ti vi tủ lạnh “chạy đầy đường” trong khi ngoài Bắc, thủ đô ta chỉ có công nông chen chân rậm rật xớn xác đi tìm tự do hạnh phúc.

Vợ không mặc gì sao lại đâm sợ nhỉ ? Phải hồ hởi mới đúng chứ lị. “Chưa đi chưa biết Đồ Sơn, đi rồi mới biết không hơn đồ nhà”. Ban đầu cứ ngỡ Đồ Sơn là phở mà đồ nhà là cơm, hoá ra cơm nguội có khi mà chắc bụng đấy bố ạ ! Tớ đã giải phóng áo quần rồi đây này, đằng ấy có ưa tòm tem thì tòm.

“Mặt buồn vợ hỏi giận ai ?

Vui tươi vợ bảo có bồ rồi sao !”

Như vậy, để khỏi sinh dị nghị hiểu lầm, tòm tem là động thái cần ưu tiên giải quyết. Bi kịch sẽ xẩy ra nếu anh tòm tem chưa đạt mức quy định. Trái quy trình sẽ dẫn đến hiện tượng bức xúc, tâm tư, cực đoan, cờ lờ đờ mờ. CLĐM là gì ? Đôi khi hãy để yên cho thủ trưởng “sù cơ” khi làm thơ siêu thực hoặc hậu hiện đại, hoặc cách tân, hoặc trường phái hai-cu. Ai ưa hiểu sao thì hiểu.

Làm thơ có dẫn đến trường hợp tử vong không ? Có đấy. Thời Nhân Văn Giai Phẩm chẳng hạn. Tòm tem có gây ra nguy hiểm không ? Có đấy. Mấy ngày Tết vừa qua, do đạp mái không đúng quy trình nên sinh đột biến, vợ đột nhập vào nhà nghỉ cắt của quý của chồng dụt ra ngoài cửa cho chó tha mất. Thế đấy, có giả làm chuột kêu chút chít thì anh đây giả điếc mà lặng thầm gạt lệ, thời khóc ngoài biên ải nay còn đâu !

Nhưng mà làm thơ động não vẽ ra cảnh tòm tem thì lại… an toàn trên xa lộ. Trước Tết, vui xuân không quên nhiệm vụ, ông bộ trưởng bộ TT&TT ra thông báo : “Dùng facebook để nói xấu đảng và nhà nước thì ta cần phải nghiêm trị”. Cộng đồng “phây” hầu như ai cũng chấp hành nghiêm chỉnh, bởi đám đông ấy luôn giữ nề nếp với tôn chỉ tự sướng. Một cô đưa cái ảnh mát mẻ vượt quá mức quy định lên, ăn vận y phục thiếu vải như kiểu sắp xuống tắm bể Đồ Sơn kèm với mấy câu thơ (làm sao cô ấy sù cơ được nhỉ ?):

“Chơi face là phải post hình

để cho họ biết tình hình hôm nay

cuộc sống đẹp lạ mới hay

sống mà ganh ghét buồn thay sự đời

cho nên luôn phải dạng ngời…”

Thơ quá hay ! Ba vòng quá chuẩn ! Nhìn là muốn tòm tem ngay. Rất bức xúc. Hơn 35 cái like. Hơn 40 bình loạn. Có một cậu sù-cơ :

“Tết này anh sẽ post hình

cho em ngắm thử chúng mình xứng đôi ?

bụng anh đây sáu múi thôi

bên trong thực bụng đơn côi em à

bãi kia người vắng giá mà

có anh đứng đó để cà bướm em”

Cô giả nhờ i: Chớt em roài. Hong thít đâu nha. Cậu viết bên dưới: Dị thì bóp dzú đi nhe. He he he. Vì không nói xấu đảng và nhà nước nên facebook sống hùng sống mạnh bởi vô số hình ảnh và ngôn từ kiểu ấy. Ở Việt Nam, chẳng biết vin vào đâu mà nhân vật nữ kia lại “chuẩn không cần chỉnh” khi nói: Cuộc sống đẹp lạ mới hay… rồi thì :

Cho nên luôn phải dạng ngời. Ủa, hoá ra cô này chẳng những nói xấu nhà nước mà ngược lại còn tâng bốc, nhờ nước nhà mới có tình hình hôm nay. Haizz, giờ phút này cà chớn vẫn còn chạy đầy đường!

Sợ cô trách, chín bỏ làm mười, người đọc chớ “sống mà ganh ghét buồn thay sự đời”. Mong cho anh chàng thể hình đẹp, bụng có sáu múi kia ra công tán tỉnh cô, cứ ăn nói bổ bã thế kia, cứ he he he miết thế nào cũng có khi trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng lợi chuyện gì ? Giả bộ hoài, thì được tòm tem cô nàng chứ còn gì nữa, cha nội !

Cha nội ngu thêm chuyện khác, ngờ đâu trong facebook có chán khối kẻ mần thơ. Đình đám, ra đầu ra đũa ra đuôi. Thơ là bộ môn rất vô hại, mua vui cũng được một vài trống canh. Người ta đua nhau xướng hoạ thi ca bởi mục đích nhằm cưa đổ đối tượng, chỉ nhiêu thôi.

Nghĩ mà xem, có chết thằng Tây nào đâu mà sợ. Một thằng Tây mà chết hả ? Nhà nước khoá facebook ngay. Tao chả ưa bọn mầy tòm tem chế độ đâu nhớ ! (theo Hồ Đình Nghiêm)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp