THẾ GIỚI QUANH TA (13)

SAIGON VÀ

TUỔI THƠ CỦA TÔI

– Trần Mộng Tú

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968 Mậu Thân thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười, rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả : Hoa hường phết (phết là dấu phẩy)

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. tôi viết: Qua tường phết.

Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này :

Sài Gòn vòi nước bùng binh

Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên

Trụ đèn, giây thép, tượng hình

Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an

Mặc dầu đường rộng thênh thang

Ngựa xe đi lại luật hành phải thông

Mặc dầu đường rộng mênh mông

Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm

Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì. Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba. Sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ.

Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, mà bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp. Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra.

Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một trái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa. Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ trái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn. Đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà.

Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 su bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư)

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambretta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… làm nên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai, với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.

Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh. Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

BIẾT GÌ VỀ SÀI GÒN XƯA?

Sài Gòn xưa vẫn còn nhiều điều chưa tỏ, nhưng chẳng vì thế mà ta nên bỏ ngỏ… Bởi lẽ Sài Gòn là vùng đất đa mang khá nhiều điều thú vị.

1/- Người phụ nữ Sài Gòn đầu tiên được in hình lên tem năm nào ?

Như chúng ta đã biết, năm 1863 ngành bưu hoa ở Nam Kỳ mới phát hành con tem đầu tiên, hình vuông. Theo nghiên cứu của ông Thái Văn Kiểm trong quyển Lịch sử bưu hoa Việt Nam (Sài Gòn 1964) thì mãi đến năm 1920 mới phát hành loại tem có hình phụ nữ miền Nam, tóc búi cao, giá 0,04 đồng.

Trong cuốn Catalogue Thiaude – Timbres – Post ngoài bìa có ghi rõ: 24, rue du 4 – Septembre, Paris 2e-Ric. 14-27, trong mục về tem Indochine, tr. 230 và 231 có in hình ba con tem vẽ phụ nữ miền Nam.

Con tem thứ nhất giá 1 cent là chân dung một phụ nữ hình nghiêng và con tem giá 40 cent vẽ chân dung trực diện, hai con tem này in năm 1907, rồi mãi đến năm 1919 mới có con tem phụ nữ hình nghiêng giá 4 cent. Theo tác giả Sài Gòn năm xưa, thì đó là hình của cô Ba, con thầy thông Chánh.

2/- Điện báo hoạt động lần đầu tiên năm nào ?

Đường dây điện báo Sài Gòn – Biên Hòa dài 28km hoàn thành ngày 27-3-1863 là loại đường dây hữu tuyến đầu tiên; có hai đoạn cáp ngầm qua sông Sài Gòn (ở Bình Triệu) và sông Đồng Nai (gần Biên Hòa) Ngày 17-4-1863, đường dây Sài Gòn – Chợ Lớn dài 7km cũng làm xong. Năm 1884, bắt đầu liên lạc Sài Gòn – Huế – Hà Nội bằng điện báo qua dây cáp ngầm Vũng Tàu – Đồ Sơn.

3/- Người Sài Gòn dùng điện thoại từ khi nào ?

Năm 1878 bốn chiếc máy điện thoại đầu tiên theo kiểu Bell được mua từ Singapore về, đặt đường dây liên lạc giữa dinh Thống đốc với Sở Điện tín Sài Gòn. Lúc bấy giờ chưa hình thành hệ thống phục vụ công cộng. Mãi tới ngày 1-7-1894 hệ thống điện thoại nội hạt ở Sài Gòn mới được lắp đặt, phục vụ cho dân chúng. Sau đó phát triển nối liền với Chợ Lớn – Biên Hòa – Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm sau (1895), hệ thống điện thoại ở Chợ Lớn cũng khai trương (tại Hà Nội hệ thống điện thoại công cộng đến năm 1903 mới có). Tuy nhiên, chưa có hệ thống điện thoại tự động, mỗi máy thuê bao có một số. Ở trung tâm điện thoại luôn luôn có nhân viên thường trực cắm phích liên lạc giữa hai số máy theo yêu cầu.

Đường dây điện thoại Đông Dương liên lạc giữa ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia được đưa vào sử dụng năm 1889.

Mãi đến năm 1936 mới có điện thoại tự động đầu tiên. Trên mỗi máy đều có một bộ phận để quay hoặc bấm số. Người Pháp đã mang điện thoại tự động 2.000 số, kiểu R6 lắp đặt, sử dụng ở Sài Gòn. Như vậy người dân Sài Gòn đã biết sử dụng điện thoại trên 100 năm.

4/- Có phải đường Nguyễn Huệ xưa từng là một con kênh ? Ngôi chợ nào gắn liền với con kênh đó ?

Đường Nguyễn Huệ ngày nay từng là kênh đào lớn đi dọc theo hai con đường Charner và Rigault de Genouilly thông với thương cảng, kênh đào này phục vụ cho các vựa hàng của chợ Charner vốn là một trong những chợ quan trọng nhất của thành phố.

Năm 1860, việc lấp kênh đào này đã phát sinh cuộc tranh cãi ngay giữa Hội đồng thành phố. Một nhóm người đấu tranh cho vệ sinh công cộng – họ xem kênh đào như một ổ nhiễm khuẩn thật sự ở cửa ngõ của thành phố. Nhóm khác là những thương nhân ca ngợi tính hữu dụng của kênh đào. Do đó, dự án lấp kênh đào lớn bị dời lại đến năm 1887 kinh đào mới bị lấp để xây dựng một đại lộ cùng tên “đường Kinh Lấp” nối liền tòa thị chính đến các bờ sông. Ngày nay đó là đại lộ Nguyễn Huệ.

Chợ gắn liền với kênh Lớn là chợ Charner, được xây dựng năm 1860, các vựa hàng tạo nên chợ đầu tiên của thành phố Sài Gòn. Hàng hóa được cung ứng từ con kênh đào lớn mở ra trên thương cảng. Toàn bộ không gian chợ được chia làm ba vùng riêng biệt, đặt dưới sự kiểm soát của viên trị sự thương mại thành phố – người chịu trách nhiệm kiểm tra việc thu thuế môn bài và việc sử dụng hệ thống trọng lượng và đo lường của Pháp. Sau khi lấp con kênh đào năm 1887, hoạt động của các vựa hàng dần dần ngừng hẳn, các vựa hàng này được thay thế bằng chợ Bến Thành xây dựng năm 1912.

5/- Sao gọi là “Nhà Bè nước chảy chia hai” ?

Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía đông nam, rồi chảy ra biển Đông bằng hai ngả chính: ngả Soài Rạp dài 59km, rộng trung bình 2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào cảng Sài Gòn.

6/- Về nguồn gốc tên gọi Củ Chi ?

Huyện Củ Chi phía bắc và đông giáp tỉnh Bình Dương, tây giáp hai tỉnh Tây Ninh và Long An, nam giáp huyện Hóc Môn. Diện tích 428,6km2, dân số 248.044 người (1995) gồm có một thị trấn và 20 xã.

Củ Chi trở thành địa danh hành chính từ năm 1956. Huyện Củ Chi vốn là hai quận Củ Chi (Hậu Nghĩa) và quận Phú Hòa (tỉnh Bình Dương) nhập lại. Củ Chi là tên gọi dân gian của cây mã tiền có nhiều ở vùng này vào thời đó. Cây mã tiền, một loại cây ở rừng, leo bằng móc, lá mọc đối có ba gân, hoa trắng, quả tròn, hạt dẹt như khuy áo, dùng làm thuốc.

7/- Ý nghĩa về mâm ngũ quả mà dân Sài Gòn thường chưng trong những ngày tết ?

Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì “ngũ phước” là ngôn ngữ của “ngũ quả”: phú quý, thọ, khang ninh, khảo, chung mạng (giàu sang, sống lâu, mạnh khỏe, bình yên, chết lành khi về già). Vì lẽ đó người ta đã lựa chọn những loại trái cây có tên đồng âm với ý nghĩa tốt. Ở Nam Bộ dựa vào giọng phát âm tương tự, đồng bào đã chọn mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung. Với mâm trái cây như thế thì ta hiểu rằng: “cầu sung vừa đủ xài”. Sung là sung túc, dừa phát âm như vừa, và xoài là xài !

Thế nhưng, để mâm ngũ quả sinh động, màu sắc rực rỡ thì người ta còn thêm nhiều loại trái cây khác nữa như quýt (đồng âm với kiết có nghĩa là cát, là tốt lành) hoặc trái tắc (đồng âm với đắc là đắc lợi) hoặc bông mai (đồng âm với may, là may mắn) hoặc trái thơm (gợi sự thơm tho) hoặc thêm cả trái lê viết từ chữ lợi (chữ Hán) có thêm chữ mộc v.v… Điều này cho thấy mâm ngũ quả của dân Sài Gòn không chỉ phong phú về các loại trái cây mà còn chú trọng về mặt ý nghĩa như một lời cầu mong tốt đẹp cho năm mới.

8/- Nhạc tài tử lần đầu lên sân khấu ở Sài Gòn lúc nào ?

Vào năm 1915 Nguyễn Tống Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên nghiệp ở Sài Gòn.

9/- Cải lương xuất hiện ở Sài Gòn lúc nào?

Ngày 11-9-1917, vở kịch mô phỏng kịch hài phương Tây Vì nghĩa quên nhà của Lê Quang Liêm và Hồ Biểu Chánh được công diễn ở rạp Eden (Sài Gòn). Ngày 12-9-1917, vở được diễn ở rạp Cô Tám (Chợ Lớn). Vở kịch tạo ra cuộc tranh luận giữa hai phe bảo tồn hát bội và phe cải lương kịch nghệ, báo hiệu sự ra đời của ca kịch cải lương.

Sau đó, gánh hát Lê Văn Thận đã diễn vở Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều. Năm 1919, gánh hát Thầy Năm Tú diễn các vở Hạnh Nguyên cống Hồ, Trang Tử cổ bồn ca ở rạp Moderne (Sài Gòn).

10/- Sài Gòn – Gia Định xưa từng là một trong những nơi phát triển nghệ thuật hát bội ?

Hát bội là loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, manh nha từ đời Lý trong dân gian rồi tiến vào cung đình và được hoàn thiện vào đời Trần dưới đời vua Trần Nhân Tông. Đến đời Lê, hát bội bị cấm đoán, chỉ còn tồn tại trong dân gian.

Đầu thế kỷ XVII, hát bội theo chân các đoàn lưu dân vào Nam và phát triển tột bực dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Riêng ở Gia Định, Tả quân Lê Văn Duyệt đã tạo điều kiện phát triển loại hình nghệ thuật này. Không chỉ dinh tổng trấn có một đoàn hát bội mà các quan xa gần thuộc trấn Gia Định đều tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát trong hàng ngũ quân đội. Nghệ thuật hát bội đã lập cứ địa vững chắc và giao lưu với nghệ thuật hát Trung Quốc của người Minh Hương, người Cao Miên.

Trong thế kỷ XX, ở Sài Gòn có những ban hát bội sau: ban hát Thầy Chánh, ban hát cô Ba Ngoạn, ban hát Cô Tám, ban Tân Thành, ban Bầu Thắng, ban Công Thành, gánh Tân Hưng, ban Kim Thành, đoàn Kim Cương, đoàn Phước Thành, đoàn Minh Tơ, gánh Đại Nghĩa, đoàn Bầu Vàng, ban Biện Vực, nhóm nghệ sĩ Hội khuyến lệ cổ ca… (theo Huỳnh Thị Ngà / Địa chí)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Bản tin số 155/2680 – Ngày 4/6/17

NH\ỮNG DÒNG SÔNG

ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI

Mẹ thiên nhiên đã ban tặng cho những dòng sông này một vẻ đẹp riêng đầy mê hoặc mà bất cứ ai cũng muốn đến chiêm ngưỡng một lần trong đời.

H1: Sông Odeleite chảy qua Bồ Đào Nha, bắt nguồn từ dãy núi Serra de Caldeirao. Với dòng chảy uốn lượn đẹp mắt, dòng sông còn được ví von là Blue Dragon – rồng xanh.

H2: Trải dài 83 km từ Quế Lâm tới Dương Sóc, sông Li là một thắng cảnh nổi tiếng của Trung Quốc với các chuyến du ngoạn trên thuyền. Đây là địa điểm du lịch thu hút lượng khách du lịch lớn nhất trong khu vực Quảng Tây và cả Trung Quốc.

H3: Sông Caño Cristales, thuộc công viên quốc gia Serrania de la Macarena ở miền Trung Colombia, được biết đến như một trong những dòng sông đẹp nhất thế giới với dòng chảy có màu sắc sặc sỡ biến đổi theo mùa. Vào những tháng nhất định trong năm, nó sẽ mang những màu sắc khác nhau, tạo nên một cảnh sắc tuyệt đẹp.

H4: Sông Alatna được mệnh danh là một trong những con sông đẹp nhất ở Mỹ, bắt nguồn từ trung tâm Brooks Range chảy qua dãy núi Endicott, đi qua hồ Circle, Peaks Arrigetch và hồ Takahula trước khi vào Hills Helpmejack.

H5: Sông Soča, Slovenia, Italy có màu xanh ngọc bích hấp dẫn. Sông có độ dốc cao, thu hút những người đam mê chèo thuyền kayak.

H6: Mỗi năm, hơn 2 triệu người tới tham quan sông Zambezi để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của thác Victoria, thác nước lớn nhất trên thế giới – biên giới tự nhiên giữa Zambia và Zimbabwe. H7: Sông Dương Tử là con sông dài nhất Trung Quốc và châu Á. Đây cũng là con sông dài thứ 3 trên thế giới.

H8: Sông trái tim ở Bắc Dakota, Hoa Kỳ là một nhánh của sông Missouri có hình dáng vô cùng quyến rũ. H9: Sông Colorado, Hồ “Móng ngựa” thuộc khu giải trí quốc gia Glen Canyon, Hoa Kỳ bao quanh một tảng đá lớn tạo thành một móng ngựa tự nhiên khổng lồ. H10: Sông Amazon ở Nam Mỹ là một trong những lưu vực sông đẹp nhất thế giới.

H11: Sông Lena nằm ở miền đông Siberi, Nga là con sông dài thứ 10 trên thế giới, đứng thứ 7 khi tính theo diện tích lưu vực và là con sông dài nhất thế giới hoàn toàn chảy trong vùng băng giá vĩnh cửu.

H12: Sông Futaleufú với nước màu ngọc lam màu tuyệt đẹp chảy qua lãnh thổ Argentina và Chile, thu hút những người yêu thích chèo thuyền từ khắp nơi trên thế giới.

H13: Sông Hudson chảy qua bang New York, Mỹ được đặt tên sau khi Henry Hudson phát hiện ra nơi này vào năm 1690. H14: Sông Danube chảy qua 10 quốc gia châu Âu. Đây là mạch nước chính của liên minh châu Âu và đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhân vật văn hóa châu Âu. H15: Sông Mississipi chảy qua mười tiểu bang của Hoa Kỳ và là hệ thống thoát nước lớn nhất trên lục địa Bắc Mỹ (theo Hà Phương / VOV)

Quế Phượng chuyển tiếp

RỪNG SĂNG LẺ CỔ THỤ

XỨ TÂY NGHỆ AN

Được bảo vệ như ‘báu vật’

Rộng 70 ha với nhiều cây trăm năm tuổi, rừng săng lẻ ở miền Tây Nghệ An được chính quyền và người dân địa phương bảo vệ nghiêm ngặt.

H1: Cách quốc lộ 1A đoạn qua huyện Diễn Châu (Nghệ An) 130 km, rừng săng lẻ rộng 70 ha nằm trên địa phận xã Tam Đình (huyện Tương Dương). Khu vực này thuộc dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An và một trong không nhiều cánh rừng vẫn còn giữ được vẻ đẹp tự nhiên. H2: Khu rừng nằm bên quốc lộ 7A, cung đường nối từ trung tâm huyện Diễn Châu đến cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An.

H3: Khu rừng gồm hàng nghìn cây săng lẻ đứng san sát bên nhau. Săng lẻ thuộc họ bằng lăng lông (tên khoa học là Lagerstroemia tomentosa), có thân gỗ cao 30-40 m, tương đương đường kính 40-80 cm. Vỏ cây màu vàng nhạt, cành mảnh khảnh, có lông mềm, lá mũi mác, thuôn dần, dài 7-14 cm, rộng 20-50 mm…

H4: Săng lẻ thuộc gỗ nhóm 3, thường được dùng làm nhà, đóng thuyền, đóng các vật dụng trong gia đình như bàn ghế, giường tủ,… Tại khu rừng này, nhiều gốc cây có đường kính 2-3 người ôm mới xuể. H5: Dọc hai bên quốc lộ 7A đoạn qua xã Tam Đình, hàng chục cây có độ cao 30-40 m, thân thẳng tắp.

H6: Trong rừng, trên nhiều cây săng lẻ là những cụm phong lan ký sinh. H7: Giữa trưa, ánh nắng xuyên qua những kẽ lá tạo ra những màu xanh – vàng – đỏ hoà vào tiếng ve kêu ra rả.H8: Vào mùa lá đổ, khu rừng tạo nên khung cảnh thơ mộng khiến những người có dịp tới đây đều trầm trồ.

H9: Rừng săng lẻ lúc mặt trời lặn tựa như bức tranh huyền ảo. H10: Du khách thường chọn dừng chân dưới tán rừng săng lẻ để ngắm cảnh. H11: Năm 2014, rừng săng lẻ Tương Dương được UBND tỉnh Nghệ An đưa vào danh sách bảo vệ nghiêm ngặt.

Ông Lữ Văn Chôm (Hạt phó kiểm lâm huyện Tương Dương) cho biết, trong rừng săng lẻ có nhiều cây cổ thụ ước chừng cả trăm năm tuổi. “Khu rừng quý này được chính quyền cũng như người dân địa phương ra sức bảo vệ”, ông nói. (theo Sách Nguyễn – Hải Bình)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

10 MÓN ĂN HẤP DẪN

Ở QUÊ HƯƠNG CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Bạc Liêu không chỉ nổi tiếng với chàng công tử đốt tiền để “tán” gái, sân chim rộng lớn hay nhà cổ Tòa tham biện, vùng đất thuộc Đồng bằng sông Cửu Long này còn sở hữu nền ẩm thực phong phú và tươi ngon, bổ dưỡng. Nhiều du khách khi đến đây đều say mê khám phá.

1/- Lẩu Mắm : Nơi đây, người dân thường chế biến món lẩu này từ mắm cá sặc cùng nước dừa tươi, sả và tỏi phi thơm ngào ngạt. Lẩu mắm ăn kèm thịt ba chỉ, các loại cá lóc, cá ba sa… và rau cần, rau muống, mồng tơi, cải tím, ngó sen, bông so đũa, lục bình…

2/- Bánh tằm bì : Là một trong những món ăn đặc trưng  miền Tây, bất kỳ du khách nào khi đặt chân tới Bạc Liêu đều nhất định muốn thử bánh tằm bì. Bánh được làm từ bột gạo khuấy chín, se thành sợi sau đó đem hấp, ăn cùng xíu mại, bì và thịt nạc luộc cắt sợi, đậu phộng rang giã nhuyễn, dưa chuột thái nhỏ, rau sống… Bánh tằm ở thị trấn Ngan Dừa là nổi tiếng nhất.

3/- Nhãn : Nhãn là một trong những đặc sản địa phương nổi tiếng, vị thanh ngọt và hương thơm quyến rũ. Nơi có nhiều nhãn ngon là những khu vườn tại xã Hiệp Thành – đây cũng là điểm du lịch thu hút khách thập phương ở Bạc Liêu.

4/- Bánh xèo : Thương hiệu được nhiều người biết đến khi tới Bạc Liêu chính là bánh xèo A Mật, nhân làm từ hành lá cắt nhỏ, những con tôm đỏ âu cùng hành tây thái mỏng, đậu xanh chín mềm và vài sợi củ sắn. Món này ăn kèm rau sống và chấm mắm ớt chua ngọt.

5/- Bún bò cay : Dù mang vị đặc trưng của miền Trung, bún bò cay lại là món ăn dân dã với những con người nơi đây. Nguyên liệu một bát bún gồm thịt bò nấu cùng sa tế, bún trắng ăn kèm rau thơm, giá. Một trong những địa điểm bán bún cò cay ngon là Phường 5.

6/- Bún nước lèo : Đến vùng đất cực nam của tổ quốc, bạn sẽ thấy bún nước lèo được bán ở khắp nơi, từ những gánh hàng rong đến các quán ăn gia truyền nổi tiếng. Nước lèo ngon phải nấu trong nồi đát để giữ vị ngọt của tôm, cá, nước dừa và dậy mùi thơm từ mắm. Bún ăn kèm bắp chuối thái mỏng, giá, húng quế… Một số nơi còn ăn thêm mực tươi, thịt lợn quay, chả giò, bánh cống…

7/- Cua, ốc mỡ, ốc len… : Với lợi thế hơn 56km đường bờ biển, vùng đất trù phú này luôn nổi tiếng với nhiều loại hải sản tươi ngon, cuốn hút du khách ngay từ lần đầu đặt chân đến. Những món đặc sản mà bạn không nên bỏ lỡ là cua biển rang me, ốc mỡ xào sa tế, ốc len xào dừa…

8/- Xá pấu ; Xá pấu là tên gọi của cộng đồng người Hoa cho món củ cải muối. Cách chế biến món đặc sản này cũng khá dễ: củ cải rửa sạch, cắt thành cọng nhỏ phơi khô sau đó muối với đường, ngũ vị hương, Món này ăn ngon nhất khi kết hợp cùng cháo trắng, đậu phụ rán giòn.

9/- Bồn bồn : Bạc Liêu là một trong những tỉnh có món dưa bồn bồn ngon nổi tiếng gần xa. Ngoài việc làm dưa chua,phần tươi non của cây bồn bồn còn được chế biến thành các món ăn hấp dẫn như xào tôm thịt, nấu canh, lẩu, làm gỏi…

10/- Ba khía : Ba khía là một loài thuộc họ cua có càng to, đặc trưng ở vùng Nam bộ, sống tập trung chỗ nước lợ, mặn. Do có ba gạch ở trên lưng nên chúng được đặt tên Ba khía. Ngoài Ba khía luộc và muối, mắm Ba khía với hương vị cay, mặn, ngọt là một đặc sản nổi tiếng, thường ăn kèm cơm cháy giòn rụm. (theo vnexpress)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HỌ TRỒNG BẰNG CÁCH NÀO

MÀ HAY QUÁ ???

– Tiếp theo bản tin số : 154

H1: Dại gì mà đi đếm hết số dưa chuột này, có mà hết ngày không xong. H2: Có đến cả triệu quả nho ý nhỉ? Sai gì mà sai dữ vậy. H3: Những cây bòn bon chi chít quả từ gốc đến ngọn. Loại cây này được trồng ở miền Tây Nam Bộ, Việt Nam. H4: Nhìn qua chắc nhiều người không biết đây là buồng chuối. Nhiều quả đến mức người ta phải lấy gậy chống vào thân cây.

H5: Những quả táo chín đỏ, nhìn là thèm “chảy nước miếng”. H6: Dưa hấu cũng lúc lỉu thế này đây.

H7: Những quả lịu đỏ rực dưới tán cây. Có được khu vườn như thế này thì còn ao ước gì nữa.H8: Dưa lưới được trồng theo phương pháp ứng dụng công nghệ cao.

H9: Những trái dưa vàng đều tăm tắp. H10: Có khi nào người ta hái hết lá để nhường dưỡng chất cho quả? H11: Nho đen.

H12: Kiwi sai trĩu cành. H13: Đã sai là sai đến gốc luôn. H14-15: Quả ra chen chúc từ gốc đến ngọn.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 MẸO NẤU ĂN CỦA NGƯỜI XƯA

VẪN SÁNG SUỐT ĐẾN NAY

Từ thế kỷ 19, người dân đã trao nhau những mẹo chọn tôm tươi, cách nấu khoai tây chín đều hay bảo quản trứng được lâu. Vào những năm 1900, công ty thuốc lá Gallaher ở Anh đã cho in những mẹo vặt cổ xưa lên vỏ bao thuốc lá. Thời đó, các mẹo này được xem như những phát kiến, rất được ưa chuộng. Một số mẹo vẫn có ích tới ngày nay.

H1: Khi đi ăn hàng, kiểm tra độ tươi của con tôm bằng cách kéo đuôi của con tôm. Nếu phần đuôi vẫn còn độ đàn hồi và bật trở lại khi bạn thả ra thì đó là con tôm luộc khi còn tươi ngon. Ngược lại, phần đuôi tôm bị duỗi thẳng hoặc chậm chạp trở lại vị trí cũ thì nó đã được luộc và bảo quản vài ngày rồi.

H2: Nếu quả trứng bị rạn trước khi luộc, bạn hãy cho thêm một chút giấm vào nước sẽ giúp trứng không bị nứt ra trong quá trình luộc. H3: Để thử chất lượng bơ, chà một chút bơ vào một mảnh giấy và đốt. Bơ tinh khiết có mùi thơm đặc trưng, trong khi bơ thực vật sẽ phát ra một mùi khó chịu.

H4: Cắt bánh mì thành những lát mỏng đơn giản bằng cách nhúng dao vào nước nóng. Đến khi dao đã nóng hoàn toàn thì dùng nó cắt bánh mì thật nhanh. Dao nóng giúp cắt bánh rất “ngọt”. H5: Người xưa bảo quản trứng mới đẻ bằng cách vùi chúng vào một chiếc thùng đựng đầy muối khô và đặt ở nơi khô ráo. Không khí, vi khuẩn sẽ không tiếp xúc được với vỏ trứng, giúp trứng tươi rất lâu.

H6: Để khoai tây khô và chín đều khi nấu, thêm vào một chút đường cùng muối khi nước đang sôi. Sau khi khoai tây đã chín, đổ nước đi và chiên qua chảo trong thời gian ngắn. Đảo đều tay để khoai tây được khô đều.

H7: Ướp lạnh rượu mà không cần đá lạnh: Bọc bên ngoài chai rượu một miếng nỉ và đặt chai cần làm lạnh trong một bình bằng sành hoặc đất dưới vòi nước lạnh như trên hình vẽ. Để như vậy trong khoảng 10 phút, chai sẽ được làm lạnh nhanh chóng.

H8: Người xưa giữ nắp vung không bị bật khỏi nồi bằng cách dùng chính những móc quần áo – cài một bên móc xuyên qua nắp vung, một bên kẹp vào nồi.

H9: Khi chiếc bếp quá nhỏ với việc nấu nướng, người xưa “ăn gian” bằng cách đặt một tấm kim loại lên bếp giúp nhiệt độ được lan tỏa rộng hơn. Bạn còn có thể đều chỉnh nhiệt độ cho từng món ăn bằng cách để chúng ở những phần có nhiệt độ khác nhau của tấm kim loại đó. (Bảo Nhiên theo Sliptalk)

Dung Dung chuyển tiếp

MUỐI VÀ 7 CÔNG DỤNG

LÀM ĐẸP KHÓ TIN

Muối sẽ thành sản phẩm làm đẹp hữu dụng nếu bạn biết cách.

Muối ăn có chứa rất nhiều chất khoáng vi lượng và Clorua Natri, đây là những thành phần giúp săn chắc da, kháng khuẩn, trị mụn… vì thế nếu bạn biết cách sử dụng muối cho mục đích làm đẹp, bạn sẽ thấy hiệu quả bất ngờ.

1/- Muối rửa mặt giúp sạch bụi bẩn : Muối giúp bài trừ bụi bẩn, bã nhờn một cách rất hiệu quả. Bạn nên kiên trì sử dụng muối để rửa mặt sẽ giúp da sạch và se nhỏ lỗ chân lông. Cho một lượng vừa muối ăn nhỏ vào lòng bàn tay, đổ thêm chút nước ấm rồi thoa đều lên mặt và vùng cổ theo hình tròn. Đồng thời nó có tính sát khuẩn, hạn chế nổi mụn ở da. Tuy nhiên, lượng muối không được quá nhiều, chỉ nên cho 1/4 thìa cafe muối hòa với 20ml nước là vừa đủ.

2/- Trị mụn đầu đen : Mụn đầu đen ở mũi sẽ được loại bỏ sau một thời gian bạn kiên trì dùng muối. Cách làm rất đơn giản, bạn dùng tinh thể muối hòa trong nước thoa lên mặt đã được rửa sạch. Sau khi đợi khoảng 5 – 10 phút tùy vào tình trạng mụn của bạn, massage nhẹ nhàng để các tinh thể muối rớt dần xuống. Cuối cùng, rửa mặt lại bằng nước lạnh. Những tinh thể muối sẽ lấy đi chất bẩn và những cồi mụn.

3/- Tẩy tế bào chết : Có rất nhiều hãng mỹ phẩm sản xuất kem tẩy da chết cũng từ muối, chính vì thế, bạn hãy tận dụng sản phẩm giá rẻ này để tẩy da chết cho mình. Sau khi tắm xong, hãy lấy một muối hột hay muối biển chà xát nhẹ nhàng lên mặt hay vùng da cơ thể để loại bỏ những lớp da chết và bụi bẩn một cách triệt để. Bạn cũng có thể massage nhẹ nhàng, muối sẽ kích thích các mạch máu lưu thông giúp da bạn trắng hồng, mịn màng hơn.

4/- Khử mùi vùng nách : Vùng da dưới cánh tay là nơi nhạy cảm và tiết mồ hôi khá nhiều, chúng rất dễ để lại mùi cơ thể cho phái đẹp. Nếu như bạn cảm thấy những mỹ phẩm khử mùi chưa thực sự làm bạn hài lòng, hãy chuyển qua dùng một biện pháp tự nhiên mà hiệu quả hơn, đó là muối. Muối có tác dụng diệt khuẩn và chống viêm, khử mùi rất cao, vì thế bạn có thể dùng muối biển chà xát những vùng da có mùi như dưới cánh tay và lòng bàn chân.

5/- Giúp da hết bóng dầu : Vùng chữ T là nơi bài tiết chất dầu nhiều trên khuôn mặt. Bạn có thể dùng muối xát lên vùng da bóng do dầu, xoa nhẹ trong 3 phút rồi tiếp tục massage ở cánh mũi. Bạn sẽ thấy lượng dầu giảm dần nếu kiên trì thực hiện hằng ngày.

6/- Trị mụn và ngăn ngừa mụn mới : Trị mụn không thể ngày một ngày hai là hết mà bạn phải kiên trì để làm sạch da, kháng khuẩn, tiêu diệt mụn cũ và ngăn ngừa mụn mới. Người ta tìm thấy công thức làm chăm sóc da bằng muối và sữa chua có tác dụng kháng khuẩn cho làn da, thu nhỏ lỗ chân lông, giảm sưng tấy, vì thế sẽ hạn chế đến mức tối đa nguy cơ hình thành mụn trứng cá.

Với cách trị mụn trứng cá bằng muối, bạn có thể làm theo phương pháp sau. Lấy 1/4 thìa muối tinh và 1 thìa sữa chua nguyên chất. Sau đó bạn hãy trộn lẫn sữa chua và muối trong một chiếc bát nhỏ, cho đến khi muối đã được hòa tan. Thoa dung dịch này lên da mặt trong 2-3 phút. Cuối cùng rửa mặt thật sạch. Duy trì cách làm này trong vòng 2 tuần bạn sẽ thấy da mịn và sạch mụn.

7/- Giúp săn chắc da : Giã nhuyễn muối hột sau đó cho vào một túi vải hơ lên lửa cho ấm rồi chườm lên vùng mắt hoặc vùng bụng. Mỗi bên mắt chườm khoảng 5 phút, riêng bụng nên để khoảng 20 phút. Rất tốt cho những tình trạng mắt phù nề và vùng bụng không săn chắc của phụ nữ sau khi sinh.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp