KHÔI HÀI ĐEN (6)

NHỮNG CHUYỆN NÓI LÁI

XƯA VÀ NAY

Nói lái Tiếng PHÁP 

Ông Lãng Nhân, trong quyển Chơi Chữ có nhắc chuyện nói lái bằng tiếng Pháp. Chuyện rằng, có một cặp vợ Việt, chồng Pháp vào hàng tranh sơn mài. Vì chủ nhân nói thách quá nên vợ rỉ tai chồng: “très chaud, très chaud (nghĩa đen: nóng quá, nóng quá). Chồng lật đật chọn tranh, trả tiền nhanh để ra ngoài cho bà vợ được mát hơn.

Vợ trách chồng khi ra khỏi cửa “Đã bảo đắt quá mà còn mua”. Chồng nói là có thấy vợ kêu đắt đâu. Vợ bảo có nói rồi “très chaud” là “trop cher” (mắc quá). Bà ấy đã nói lái theo kiểu VN, chắc chắn là “bố” của anh chồng cũng không hiểu được.

Nói lái cho vui về nguồn gốc của một người 

Ông Nguyễn Ngọc Huy, trong quyển Tên Họ Người Việt Nam, có thuật câu chuyện đại khái như sau :

Ngày xưa có nhiều người VN từ miền Trung tiếp tục vào Nam lập nghiệp. Dân Nam, vì không biết rõ địa lý miền Trung, gọi chung những người mới vào sau là “người Huế”. Có nhiều người Huế làm nghề thầy lang lưu động. Một thầy lang nọ tuy còn trẻ, nhưng mát tay đã chữa lành cho một phú hộ. Ông phú hộ cảm ơn thầy lang bằng cách gã con cho thầy. Ông lại giúp vốn cho mở tiệm thuốc bắc.

Chú rể nhờ cha vợ đặt tên cho hiệu thuốc của mình. Ông cha vợ đặt tên tiệm là “Thế Hoằng Dược Phòng”. Ông giải thích cho rể đại ý là nó làm việc cứu người nên đời mở rộng ra (thế = đời; hoằng = rộng). Chú rể rất hài lòng.

Khi có người khác hỏi ý nghĩa của hai chữ đó, ông cười và nói : Rể tôi là người Huế, tôi đặt hiệu tiệm Thế Hoằng là để nhắc cho nó nhớ gốc gác nó là Thằng Huế. (Trong trường hợp nầy nguyên âm “o” trong chữ “hoằng” đã được thay thế bằng nguyên âm “u” trong chữ “Huế”. Đây chỉ là đọc cho thuận tai mà thôi, chớ lúc nói lái không ai nghĩ đến việc thay đổi nguyên âm hay phụ âm, hoặc thay đổi “dấu” gì cả.

Nói lái vì tục cữ tên 

Cũng trong quyển sách trên, GS Huy còn nhắc đến một câu chuyện “nói lái” khác do tục cữ tên mà có. Ngày xưa, thời chữ nho còn thịnh, dân Việt có tục cữ tên hay còn gọi là kỵ húy. Thí sinh của các kỳ thi trước năm 1920 là những nạn nhân đầu tiên. Nếu bài làm không tránh những tên cấm kỵ thì chẳng những bị đánh rớt mà còn có thể bị các biện pháp chế tài khác. Nạn nhơn thứ hai là những người cầm bút. Và nạn nhân thứ ba là các gánh hát.

Tục cữ tên ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng. Theo GS Huy thì dân chúng đã phản ứng lại bằng cách dùng tiếng lái. Số là vào những thập niên 1940-50 có những đoàn hát bội lưu động đi hát ở các miền thuộc “Lục Tỉnh”. Trước khi đến một vùng nào thì bầu gánh phải lấy danh sách của các chức sắc nơi đó để khi hát, những diễn viên phải tránh tên trong danh sách đó hay đọc trại đi. Thí dụ tên của ông cai tổng là Nguyên thì khi hát, tất cả những chữ “nguyên” đều được đổi ra “ngươn” vì tên Nguyên phải cữ để tỏ sự kính trọng.

Có một gánh hát đến một làng nọ để hát trong dịp lễ “kỳ yên”. Các vị hương chức trong xã họp bàn về việc cữ tên. Hội đồng xã đồng ý là để cho tuồng hát được hay, miễn cho đoàn hát khỏi cữ tên các chức sắc, trừ tên hai anh em của hai vị hào mục tên Hòa và tên Hóa. Hai ông nầy rất hách dịch, nhứt định là đoànhát phải cữ tên của hai ông. Những người trong gánh đồng ý.

Nhưng để chơi xỏ hai ông này, họ thêm một màn diễu. Trong màn nầy có hai người đối đáp, một người đóng vai lính. Người kia hỏi là trong quân ngũ, lính được ăn món gì thường xuyên. Anh lính đáp : “Hoặc ăn cà, hoặc ăn cá.”

“Những người lanh trí hiểu đó là câu nói lái để móc họng ông Hòa và ông Hóa đều ôm bụng cười, trong khi hai ông này giận muốn hộc máu mà không làm gì được gánh hát”.  (Xin thưa thêm cho rõ nghĩa : hoặc ăn cà = Hòa ăn c.t; hoặc ăn cá = Hóa ăn c.t.)

Nói lái đơn giản về người, thú vật và những chuyện hằng ngày 

Trong video Vân Sơn số 3, trong hài kịch Ông Ninh Ông Nang (không thấy để tên tác giả) có một phần đối đáp sau đây giữa các hài kịch viên toàn là câu lái, rất đơn giản và rất dễ hiểu về thú vật (cá, chim, chó, mèo), về người (bà già, ông già, trẻ em, cô dâu, chú rể ) và các điều khác.

Con cá đối nằm trên cối đá;

Mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo

Chim mỏ kiến nằm trên miếng cỏ;

Chim vàng long đá tại vòng lang

Chim sáo sọc chê anh sóc sạo;

Con chó què chân bị cái quần che

Cô bé mập ú là nhờ mụ ấp;

Thằng nhỏ ốm tong vác cái ống tôm

Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ;

Sáng sớm bà Hạt đi bán bạc hà

Cô nàng dâu hứa đi mua dưa hấu;

Chàng rể bảnh trai ngồi tại bãi tranh

Người mặc áo xanh chính là anh sáu; 

Miếng thịt băm nát trong bụng bác năm

Anh chàng sức môi ngồi ăn xôi mức ; 

Cô gái mồm to lặn lội mò tôm

Nhờ cái búa đỏ chẻ thành bó đũa; 

Cái nồi cơm thiêu lại dám kêu thơm

Tấm hình lộng kiến ai đem liệng cống; 

Cô gái muốn chồng ngó cái mống chuồn.” 

Đến đây đã hết những câu lái trong Video Vân Sơn, nhưng câu chót làm tôi liên tưởng đến câu lái khác cùng ý nghĩa : “Mống chuồng mọc giữa đồng chòi. Cái mống mọc ở giữa đồng bình thường như chuyện “muốn chồng” thì “đòi chồng” phải không quý vị ?

Các nhà văn (hiện đã già, hoặc đã ra đi rồi) viết lái 

Trong quyển “Hơn Nửa Đời Hư” ông Vương Hồng Sển dùng tiếng lái nhiều lần.  Thí dụ “bất quá là bá quốc” (trang 465); “ủ tờ” (tiếng lái của từ ở tù, trang 477); và“mống chuồng” (tiếng lái của “muốn chồng” trang 519) v.v… Ngoài ra, ở một đoạn khác, để nhắc lại kỷ niệm chuyến Đông du thăm Đài Loan và Nhật của ông cùng vài người bạn Pháp, cũng trong sách nầy, ông có ghi lại chuyện ở khách sạn Nhật. Ông và người bạn Pháp không quen mặc áo kimono đã để sẵn trong tủ cho khách trọ. Ông có dùng hai tiếng lái, với vẻ đùa cợt mà tôi xin miễn “thông dịch”, như đã hứa; trừ gạch dưới hai tiếng lái là do tôi thêm, nguyên văn câu ông viết như sau :

“Đến cái áo kimono màu sặc sỡ, mỗi phòng trọ đều có treo sẵn cho khách mượn, Meken và tôi chưa quen, vừa xỏ tay vào, tấm thân bồ tượng áo che không khuất, trống trước trống sau, đứa “lù coi” đứa “lắc cọ”, áo nhột nhột, cảnh thật buồn cười” (trang 590).

Công Tử Hà Đông (CTHĐ), báo Người Việt, dùng tựa đề “Saigòn Tạp Pín Lù” (tên một cuốn sách của ông Vương Hồng Sển), để phê bình nội dung của cuốn “Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam” của ông Sển. Bài báo nầy đã kể ra nhiều tiếng lái.

Có tiếng từ sách của ông Sển, đã được tác giả bài báo trích dẫn như “xe u mê” : “Xe u mê: tiếng lóng để gọi xe thổ mộ, vì sàn xe bằng gỗ cứng, khách ngồi bệt trên sàn, ê ẩm bàn trôn, nhứt là khách phụ nữ đều phải ê mu, nói lái cho bớt tục”.

Có nhiều tiếng lái khác, và những tiếng đặc biệt được dùng thời tác giả CTHĐ sống ở Saigòn. Ông đặt câu hỏi cho chính ông là : “Tại sao tôi không ghi lại với lời giải thích những tiếng, những thành ngữ sinh động, rung rinh âm thanh, lung linh màu sắc trong tiếng nói của dân tộc tôi, trong thời đại tôi ?”  Ý kiến của ông rất hay vì những từ mà ông kể ra rất độc đáo, vì có tính cách rất là Sàigòn.

Trong số những tiếng đặc biệt đó, có một số là tiếng lái như: liệng cống, dấm sủ, chai hia, chà đồ nhôm. Xin được trích dẫn sau đây cụm từ lái chà đồ nhôm, một thành ngữ lái có tính cách lịch sử, tả cảnh nghèo đói của dân Sàigòn, sau khi được phỏng dái (giải phóng), phải đem bán bất cứ vật gì có thể chôm (lấy) được trong nhà.

“Chà đồ nhôm : chôm đồ nhà, tiếng Sàigòn những năm sau 1975,… Thời ấy Sàigòn có câu phong dao :

Đi đâu bỏ con ở nhà ? 

Hỏi em em nói: 

Đi chà đồ nhôm

Đi đâu tay xách, nách ôm? 

Hỏi em, em nói :

đi chôm đồ nhà.”

Nhà thơ Hồ Xuân Hương nói lái 

Tôi cũng nhớ có đọc nhiều lần trong các sách nào đó, thơ của Hồ Xuân Hương (HXH). Nữ sĩ họ Hồ nầy là vua về thơ lái. Thơ lái của bà được ghi lại trong nhiều sách vở về văn chương Việt Nam. Gần đây đọc quyển “100 Năm Phát Triển Tiếng Việt” (9), tác giả Phụng Nghi có ghi lại bài thơ “Kiếp Tu Hành” của nữ sĩ họ Hồ :

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo, 

Vị gì một chút tẻo tèo teo 

Thuyền tình cũng muốn về tây trúc,

Trái gió cho nên phải lộn lèo. 

Ngoài ra tôi còn nhớ vài câu sau đây của HXH: (nhưng không nhớ tựa bài thơ)

Đang cơn nắng cực chửa mưa hè

Rủ chị em ra tát nước khe

Hoặc:

Thú vui quên cả niềm lo cũ

Kìa cái diều ai nó lộn lèo. 

Các nhà thơ khác dùng tiếng lái 

Theo sách vừa dẫn thi sĩ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy ở Huế có bài thơ như sau :

Nực cổi chi ra nổi cực lòng,  

Dòng châu lai láng dĩa dầu chong

Khó đi tìm hiểu nhau khi đó,

Công khó nhờ ai biết có không 

Ông Huy Phương trong bài “Nói Lái Mà Chơi” có ghi một bài thơ nói lái nổi tiếng khác của thi sĩ Nguyễn Khoa Vy :

Cầu đạo nên chi phải cạo đầu

Dầu lai dưa muối cũng dài lâu

Na bường bát tới nương bà vãi

Dầu sãi không tu cũng giải sầu 

(Ông Huy Phương chú thích : Na bường bát tới = mang bình bát tới, nói giọng Huế). Ngoài ra trong bài “Nói Lái Mà Chơi” còn có một bài thơ rất hay tựa đề “Trông Trời” mà Ông Huy Phương nói không biết tác giả là ai.

“Cô kia sao cứ trông trời  

Để tôi xin nguyện làm trời cô trông

Trông trời sướng lắm phải không ?

Trời mà trông lại còn mong nỗi gì ! 

Đọc xong bài trên, các bạn có tìm thấy ý nghĩa của tiếng lái không ? Nếu không xin các bạn đọc câu chú thích của ông Huy Phương. Ông có ghi rõ là bài thơ nầy muốn nói lái phải đọc theo giọng Bắc hai chữ “trông trời” = “chông chời”.

Nói lái bằng câu đối 

Trong sách Miền Đất Hứa anh Trà Lũ (tôi gọi anh vì Trà Lũ là bạn dạy học cùng trường với tôi trước 1975) có ghi câu đối sau đây, câu đối vừa chơi chữ cách đối vừa chơi chữ bằng cách dùng tiếng lái :

“Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi”. 

Khi nghe câu đối trên, anh Trà Lũ đã kêu cứu “xin các cụ giúp tôi với ?” Quý bạn thừa hiểu là từ Củ Chi đầu là một địa danh gần Saigòn; củ chi thứ hai ở cuối là câu hỏi (củ nầy là củ chi vậy ?) Còn từ chỉ cu vừa là một động từ, vừa là tiếng lái của cả hai từ cùng âm “củ chi”.

Cũng trong sách đó, ở một đoạn sau, Trà Lũ có nói rằng một số đọc giả viết thư “gà” cho anh 2 câu như sau gọi là đối lại với câu trên :

“Trai Thủ Đức thức đủ xin thủ đức”

“Trai Bắc cực, bú c., than Bắc cực”. 

Anh Trà Lũ cho là câu đối sau nghe “khiếp quá, nhưng phải viết ra trình cho các cụ chấm cho”. Hai câu nầy đại khái, không được chỉnh lắm về phương diện đối. Hơn nữa chắc bạn tôi vì tính tình xề xòa nên không để ý rằng tiếng lái của “Bắc cực” là “bức c.” chớ không như ông đọc giả nào đó đã viết.

Và nếu dùng từ “bức” thì chắc không có gì “khiếp quá” mà chỉ hơi hơi táo bạo tí thôi. Chỉ ghi nhận cho vui chớ nào dám chỉ trích bạn mình, vì tôi cũng bí như bạn. Mười năm qua rồi, trên con đường học hỏi về lái tiếu lâm, chưa tìm thấy câu nào hay hơn câu Củ Chi mà bạn đã kể. Gần đây đọc bài của Ông Nguyễn Đại Hùng thấy câu Củ Chi được ghi như sau:

“Đến Củ Chi, chỉ cu anh, hỏi củ chi.”

Và câu sau ghi là:

“Về Cù Mông, còng mu em, đòi Cù Mông”. 

Nói lái qua câu hò đối đáp giữa trai gái 

Miền đồng bằng sông Cửu Long, vào mùa cấy các thợ cấy nam nữ vừa làm việc vừa vui đùa qua chuyện tiếu lâm, hoặc qua những câu hò đối đáp giữa hai nhóm nam nữ. Ông Nam San có ghi lại một số câu hò có tính cách rất “tả chân” sau đây, trong đó có luôn cả câu có tiếng lái.

Phe Nam:

Thấy em gò má ửng hồng

Phải chi em đừng mắc cỡ thì anh bồng em hun.

Hoặc:

Nước Tân Ba chảy ra Trà Cú 

Em cấy khum lòi vú anh muốn hun 

Phe nữ đáp:  ….

Phú Điền có chị Tám Hai

Thuyền quyên hò mí, đối trai anh hùng.

Tân Ba, Trà Cú, Phú Điền là những địa danh ở vùng đồng bằng Cửu Long. Mới đọc câu chót ít ai để ý đến tiếng lái vì gái thuyền quyên mà đối “trai anh hùng” thì rất là thuận tai và thuận nghĩa. Nhưng “đối trai” nói lái là đái trôi, vừa có nghĩa đen rõ ràng, khỏi giải thích,vừa có nghĩa bóng là phe nữ có cách hò thắng phe nam một cách dễ dàng. (Ông Nam San chú thích rằng : “Hò mí hay hò mép là hò đối đáp, thách thức, vòng vo xuôi ngược, nói lái úp mở nói lên cái ẩn dụ của mình, miễn xuống câu ăn vận, đúng điệu là được.)

Nói lái trong câu đố 

Lúc tôi còn nhỏ, tôi biết được những tiếng lái đầu tiên qua các câu đố. Thí //dụ các câu đố sau đây :

a) – Ông cố ngoài Huế ông cố ai ? (xuất vật)

b) – Ông đánh cái chen, bà bảo đừng ? (xuất vật dụng)

Hoặc :

c) – Ghe chày chìm giữa biển đông,

cái nốc nó mất cái công nó còn. (xuất vật).

Câu a) là “cái ô”; vì cố ai = cái ô. – Câu b) là cái “chân đèn”; vì “chen…đừng = chưng đèn.- Câu c) là “con còng”, vì “công còn = con còng.

Nói lái về các địa danh

Về địa danh chúng ta có một số câu sau đây :

Chợ Thủ Đức năm canh thức đủ; 

Chợ Đồng Tranh năm canh đành trông

Hoặc:

Ra Thủ Đức năm năm thức đủ

Về Giồng Trôm tháng tháng dòm trông

Hay các câu sau:

Đi chợ Búng coi chừng chúng bợ

Đến Hạ Long rát cổ họng la

Lên Bắc Cạn, nghèo đành bán c. t

Vào Ba Thê cuộc sống bê tha

Vượt sông Đuống, xuống Đông lên bắc

Trèo Đèo Ngang trong lúc đang nghèo 

Vùng Đồng Nai Cửu Long có hai câu đối rất độc đáo, và nổi danh sau đây để chỉ một chàng trai người Hốc Môn, và một cô gái người Gò Công đang tình tự:

Trai Hốc Môn miệng hôn tay móc,  

Gái Gò Công chân gồng cẳng co. 

Giai thoại nói lái về con Rồng Air VN 

Trước năm 1975, hàng không Air VN có dấu hiệu con rồng uốn khúc. Có một thời gian, không biết các cô tiếp viên phi hành có tư cách hống hách với khách hàng thế nào mà các vị viết báo đã cho Air VN một cái nick name (tên riêng hay biệt danh) để đời là Air rồng lộn. Các cô tiếp viên hống hách cũng bị gọi là các cô rồng lộn. Tưởng một thời gian ngắn rồi mọi sự kiện sẽ bị quên lãng. Nhưng khốn nỗi cứ 12 năm thì có một năm thìn, tức năm con rồng, cái nick name nầy lại được viết ra trên báo xuân, thành ra có thể nói đây là tiếng lái được các báo nhắc đến nhiều nhất, một tiếng lái để đời.

Những câu nói lái khác liên hệ đến con rồng. Ông Đại Ngu có ghi hai câu đối sau đây :

“Con Tiên Cháu Rồng, Lộn xuống hồng trần sung sướng nhỉ.

Mộng hùm thơ Rắn, Sai đâu con tạo đỡ đần cho” 

(Tác giả Đại Ngu có chú thích là chữ lái của “rắn sai” là “Rái săn”, đọc theo giọng Hà Nội âm R thành âm D.)

Ăn thịt mộc tồn 

Một món nhậu đặc biệt của VN là món… thịt chó. Ai không ăn thịt chó được, hoặc thèm thịt chó mà không mua được, thì có món “giả cầy” thế vào, dùng giò heo, nhưng nấu theo kiểu nấu thịt chó nên gọi giả cầy.

Ngày xưa, nghe nói có lúc Tây cấm ăn thịt chó. Nhưng ai đó nếu thèm quá thì cũng phải tìm cách ăn lén. Để tránh các phiền phức, họ dùng tiếng lóng để chỉ con chó. Họ gọi chó là “mộc tồn” . Theo tiếng Hán Việt, mộc = cây, tồn = còn ; vậy mộc tồn = cây còn = con cầy hay con chó cũng vậy. Người ta còn dùng nhóm chữ “hạ cờ tây” để chỉ việc làm thịt chó con (cờ tây = cầy tơ). Thật là nhiều hình thức từ ngữ để tránh né, vừa vui, vừa hay quá cỡ thợ mộc.

Sau nầy những từ ấy trở nên thông dụng trong nhóm “xực cẩu xíu”, tiếng TH, có nghĩa ăn chó quay.

Dấm xủ 

Miền Nam VN có nhiều người Việt gốc Hoa. Do đó dân ta Việt hóa nhiều tiếng TH. Thí dụ ăn chay (Quảng Đông: xực chay); ăn lẫu: ăn thức ăn nhúng trong nước lèo đựng trong một cái dụng cụ nấu đặc biệt gọi là cái cù lao; gặm chí quách: gặm xương hầm, ăn cháo lòng hoặc ăn hủ tiếu để thêm dầu chá quảy v.v..

(Chú thích thêm: “dầu chá quảy”, tiếng TH đọc giọng Quảng Đông có nghĩa đen là “quỷ chiên mỡ”, tích truyện vợ chồng Tần Cối, đời Nhà Tống đã bị xử tử;hai vợ chồng bị trói lại và bị thả vào vạc dầu. Vì vậy chúng ta thấy cái bánh “dầu chá quảy” luôn luôn gồm có hai miếng bột chiên dính liền nhau (tượng trương cho vợ chồng Tần Cối).

Trong buổi ăn, người Tàu hay dùng một loại dấm đỏ chung với xì dầu (nước tương) làm nước chấm. Họ gọi dấm đỏ là xủ (giọng Quảng Đông). Dân chơi tiếng lái khi vào tiệm ăn, thay vì gọi xin dấm hay xin xủ, lại gọp chung cả hai từ dấm và xủ, gọi người hầu bàn xin dấm xủ.

Một người gọi, cả bàn cười vì tiếng lái đó (dấm xủ = dú xẩm đọc theo giọng Nam của tiếng vú xẩm). Lẽ dĩ nhiên anh hầu bàn người Tàu cũng cười theo khách hàng cho vui nhưng chưa chắc đã hiểu tiếng lái đùa cợt đó, (hay hiểu và thích cũng không biết được, vì anh TH mà thích dấm xủ là chuyện thường rồi, vì là món ăn hàng ngày của “ngộ”  mà, không thích sao được).

Trà Thái Đức 

Ngoài ra, những từ Hán Việt quen thuộc có nhan nhản trên các báo là tên các tiệm thuốc Bắc, thuốc chế từ các loại dược thảo TH, hay tên của các loại dược thảo được bày bán, (khác với thuốc Nam là các loại dược thảo có sẵn ở VN thuộc loại “cây nhà lá vườn” dễ kiếm hơn), và tên của các loại trà v.v…

Nước trà nào cũng có tính cách nhuận tiểu. Uống trà nhiều vào buổi chiều, đêm thường khó ngủ, có thể vì trà có cafein làm mất ngủ, nhưng cũng vì phải thức dậy nhiều lần để đi tiểu. Vì vậy dân nói lái khi nghe mời dùng trà ngon thường hỏi nhau là trà nầy có phải là trà Thái Đức không ? Hỏi xong, chủ khách cười xòa (thái đức = thức đái).

Vào buổi sáng, đến tiệm ăn tiệm xâm, thưởng thức “xíu mại” và xì dầu pha dấm xủ, và uống trà thái đức thì tuyệt rồi còn gì bằng. Chỉ một vài tiếng lái thôi mà không khí buổi điểm tâm vui nhộn lên.

Phú hộ hà tiện (tiếng nói lái giống tiếng HV) 

Có câu chuyện khác, rằng có một phú ông họ Tạ kia tuy giàu tiền, nhưng ít chữ nghĩa. Đầu ông ta hói, và nổi tiếng là hà tiện .. từng xu. Tết đến, ông ra chợ nhờ cụ đồ nho viết câu đối trên giấy đỏ để treo ở nhà. Cụ đồ đề nghị viết chữ “họa” giống như vẽ cho đẹp và đề ra giá công viết là một đồng.

Phú ông kỳ kèo trả giá năm cắc thôi. Ông đồ chịu và viết cho 2 câu sau đây:

Hiền Tạ Thu Sương tâm tắc kiết; 

Thiên Tường tác biệt thị Châu đài. 

Ông đồ giải thích đại khái là bà phú hộ tên Thu Sương, còn ông tên Tường. Họ Tạ hiền hậu, bà nhà có tấm lòng tốt (kiết). Còn ông nhờ trời (thiên) ban cho cách riêng nên giàu có như con cháu nhà Châu thời xưa. Ông phú hộ nghe xuôi tai, vui vẻ trả năm cắc và đem tấm giấy đỏ về dán trước cửa.

Một hôm bạn ông, một người giỏi chữ nho, ghé thăm. Phú ông khoe câu đối.  Bạn của phú ông đọc lui đọc tới hai câu trên, thấy chẳng có nghĩa gì cả. Sau một lúc ông ta phá lên cười vì ông phú hộ đã bị ông đồ nho chơi xỏ.  Hai câu trên chẳng phải chữ nho với điển tích gì cả mà chỉ là hai câu gồm một số từ tiếng lái và một số không phải tiếng lái, viết ra như sau:

Hà tiện thương xu, tâm tiếc cắc (tâm tiếc từng cắc)

Thương tiền, tiếc bạc thị chai đầu (chỉ đầu hói)

Phú ông nghe câu giải thích mới, xé câu đối và chắc lưỡi hít hà, vừa rủa cụ đồ, vừa tiếc đã mất năm cắc, nên quên mời ông bạn vào nhà xơi … “nước mát.”

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: