CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (9)

VỤ ÁN OAN CỦA

HẬU QUÂN LÊ CHẤT

Tuy đã chết 10 năm, Hậu quân Lê Chất, nguyên Tổng trấn Bắc Thành, vẫn bị vướng một vụ án oan khi bị vua Minh Mạng hạch tội, mộ bị san phẳng, vợ con bị án trảm giam hậu, tịch biên gia sản.

Cuộc đời của Lê Chất, cũng giống như người bạn thân của ông là Lê Văn Duyệt, đều lập nhiều chiến công hiển hách, sau khi giúp vua Gia Long thành công mỗi người được cử trấn giữ một đầu đất nước (Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành gồm toàn bộ các tỉnh miền Bắc, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định gồm toàn bộ các tỉnh miền Nam), nhưng sau khi đã chết, đều bị vua xử tội, mãi nhiều năm sau mới được giải oan.

Trong thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn xảy ra 3 vụ đại án, đó là các vụ xử Hoàng tôn Mỹ Đường (con Hoàng thái tử Cảnh), Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Các sử quan sau này đều cho rằng đây là ba vụ án oan.

1/. Lê Chất sinh năm 1769 (kém Lê Văn Duyệt 5 tuổi), mất năm 1826, quê ấp Bình Trị, xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, được gọi là Hậu quân Chất, nguyên là danh tướng của triều Tây Sơn, từng được phong tới chức Đô đốc.

Thuở nhỏ ông theo cha là Lê Trung học văn lẫn võ. Lê Trung theo Nguyễn Huệ từ sớm, còn Lê Chất, mãi đến năm Kỷ Dậu (1789) mới được Nguyễn Nhạc (lúc này xưng là vua Thái Đức) sử dụng, phong cho chức Thủy quân Đô tùy trông coi cửa biển Thị Nại. Sau khi Quy Nhơn thuộc về vua Cảnh Thịnh, Lê Chất được toàn quyền nắm giữ thủy binh với chức vụ Thủy sư Đô đốc.

Sau khi vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 9 tuổi, triều đình Tây Sơn bắt đầu lục đục vì các cuộc tranh giành quyền lực. Nhà vua bắt giết bố, vợ Lê Chất, lại lùng bắt ông khi đó đang cầm quân tại Quảng Ngãi, khiến Lê Chất phải dùng kế “kim thiền thoát xác”, dùng thi thể người khác giả là mình, rồi trốn vào rừng núi ở Trà Bồng, Quảng Ngãi.

Sau có người dụ hàng, Lê Chất về theo hầu chúa Nguyễn Phúc Ánh, lập nhiều chiến công, tuy nhiên cũng gây nhiều hiềm khích với các đại tướng, quan lại đứng đầu triều Nguyễn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức.

Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quy Nhơn. Lê Chất có nhiều công lao, giúp quân chúa Nguyễn hạ được thành, rồi theo Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm sau, khi quân chúa Nguyễn đánh nhau với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tại Bình Định, theo lời khuyên của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh kéo quân đánh ra Phú Xuân. Đến ngày 2 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.

Sau đó, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt được cử kéo quân vào đánh Bình Định, tuy lúc đầu bị hai tướng Tây Sơn là Trấn thủ Quảng Nam Phạm Cần Chánh và Trấn thủ Quảng Nghĩa Lê Sĩ Hoàng đánh bại, nhưng khi các tướng Tây Sơn biết tin Phú Xuân đã thất thủ, đành rút quân theo đường thượng đạo ra Bắc.

2/. Trong chiến dịch đánh ra Bắc năm 1802, Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, Bình Tây tướng quân, lần lượt đánh lấy các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, rồi kéo quân vào Thăng Long, bắt được vua quan nhà Tây Sơn, lập được công to, được phong tước Quận công. Khi đó, Đặng Trần Thường có lòng ghen ghét, bàn với các tướng rằng: “Chất mà được quận công thì lũ ta phải mười lần quận công”.

Lấy được Thăng Long, vua Gia Long cho đổi tên thành Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng trấn, Lê Chất là Hiệp Tổng trấn.

Năm 1803, ở Quảng Yên có giặc cướp, Lê Chất cầm quân đi đánh, có thắc mắc với tướng Nguyễn Văn Trương là sao Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành không đánh giặc, khiến Nguyễn Văn Thành bắt đầu gây lòng thù oán.

Năm 1820, vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi, Lê Chất vẫn được trọng dụng, được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, con là trai Lê Hậu được cho lấy Trưởng Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long. Con gái Lê Chất trước đó cũng được tiến vào cung làm vợ vua Minh Mạng, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên.

Lúc đương thời, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt là các khai quốc công thần, được vua Gia Long nể trọng. Tuy nhiên, sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đối xử với hai ông có phần giảm sút, có lẽ vì thế mà cả hai ông đều sinh bất mãn. Thái độ này đã gây vạ cho cả hai ông ngay cả sau khi đã chết.

Năm 1826, Lê Chất xin tạm nghỉ chức Tổng trấn Bắc thành về Bình Định lo việc tang cho mẹ, rồi mất ở quê nhà. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, tặng hàm Thiếu phó, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩnh.

3/. Năm 1835, sau khi Lê Văn Duyệt mất 3 năm, ở Gia Định, Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy làm phản, chiếm thành suốt 3 năm. Vì tội phản nghịch của con, Lê Văn Duyệt đã chết cũng bị xử tội, Tả thị lang bộ Lại Lê Bá Tú mới hạch tội Lê Chất sáu tội đại ác đáng phải xử lăng trì, và mười tội lớn nữa, trong đó gồm tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ.

Khi đình thần nghị tội, vua Minh Mạng dụ rằng: “Trước kia trẫm nghĩ hắn cùng Lê Văn Duyệt dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần, dù có mưu gian mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Nay đã có người tham hạch, vậy phải trái cho công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn cho đình thần đem mười sáu điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật mà nghi xử, duy con gái nào đã xuất giá cùng là cháu trai còn nhỏ thì tha”.

Các quan bàn rằng : Do Chất đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Vợ Chất là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay. Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương đọc và gửi ý kiến vế triều đình. Các quan ở địa phương đều tâu xin y lời nghị bàn của triều thần.

Vua Minh Mạng mới kết luận : “Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết thây cũng không là quá. Song nghĩ lại Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bị bổ áo quan, giết thây thì nắm xương thây của Chất cũng chẳng màng bắt tội”.

Sau đó, vua cho Tổng đốc Bình Phú (kiêm hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của Lê Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xứ” (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp). Vợ Lê Chất là Lê Thị Sa và các con là Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị án trảm giam hậu.

Gia sản của Lê Chất bị tịch thu, tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho sung công, rồi cho Tổng đốc Hà Ninh là Đặng Văn Hòa đem tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ. Người con gái Lê Chất tuy làm vợ vua sinh hoàng tử, cũng bị giam cho đến chết. Con Lê Chất là Lê Hậu lấy công chúa (cô ruột vua Minh Mạng) nhưng đã chết nên không liên quan.

Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị xử chém năm 1838. Lê Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu của Lê Chất là bọn Lê Luận được giảm tội, đày lên Cao Bằng để làm lính, đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ ân xá mới được tha về.

Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới dâng biểu xin gia ơn con cháu Thái tử Cảnh, cùng xin bổ dụng con cháu các đại thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Vua nghe cảm động, cho thi hành cả. Đến năm 1868 vua Tự Đức mới truy phong cho ông chức Tả đồn Đô Thống chế.

Cuộc đời của cha con Lê Chất mang nhiều bi kịch, cả hai ông đều lập được nhiều công trạng phục vụ cho chủ của mình, song cuối đời đều bị các vua sau đối xử bất công, tàn nhẫn. Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh chém đầu, Lê Chất bị Minh Mạng cho san bằng mồ mả, đều là những nỗi oan thiên cổ.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BẤT NGỜ

SỞ HỮU “SIÊU NĂNG LỰC”

SAU KHI BỊ SÉT ĐÁNH

Không chỉ may mắn sống sót khi bị sét đánh, nhiếp ảnh gia người Úc tên Brian Skinner còn phát hiện ra mình bỗng dưng sở hữu khả năng đặc biệt: “đọc được” suy nghĩ của người khác.

Được biết, Brian đã bị sét đánh nhưng may mắn thoát chết trong một lần chụp ảnh tại bãi biển tại bờ biển New South Wales. Julia – người cộng sự của anh đã ghi lại cảnh tượng đó và chia sẻ lên mạng. Brian cho biết tia sét cách anh rất gần, có lẽ chỉ chưa đến 5m.

“Tất cả mọi thứ như đứng yên… rồi tia sét đi ra khỏi cơ thể tôi. Tôi cảm thấy mình như một luồng điện chạy xuyên qua tay, qua 5 ngón tay”, anh kể.

Thật may là Brian đã không phải chịu hoàn toàn tác động của tia sét và nhanh chóng chạy thoát khỏi hiện trường. Anh chỉ bị thương nhẹ phần bàn tay với những vết bầm tím và thâm đen. Brian tin rằng chính chiếc nhẫn vàng trên ngón tay đã hứng trọn những tác động kinh khủng của tia sét và cứu sống mình. Một bức ảnh cho thấy chiếc nhẫn bị là phẳng một phần sau khi bị sét đánh.

Ngay khi trở lại trong xe, tôi nhìn xuống bàn tay và thấy nó bị cháy đen”, anh cho biết. “Tia sét thực sự đã xuyên thẳng vào bàn tay phải của tôi, đi qua tất cả các ngón tay và bẻ cong chiếc nhẫn vàng trên tay tôi”.

Sau lần chết hụt đó, anh đã kinh ngạc phát hiện mình có những khả năng kì lạ trong một lần đến bác sĩ để chụp X-quang. “Trong khoảng một tuần, các giác quan của tôi đã nhạy bén hơn. Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ mà mắt thường không thấy được và nghe thấy mọi người ở khoảng cách rất xa. Thậm chí tôi có thể cảm nhận mọi vật bằng tâm linh”. Một tháng sau đó, Brian khiến mọi người bất ngờ khi tuyên bố mình có khả năng “đọc được ý nghĩ”.

“Tôi nhìn vào mọi người và thấy những gì họ nghĩ giống như họ đang nói chuyện với tôi. Tôi nghĩ rằng mình bị ảo tưởng, tôi nói với mọi người về những gì mình cảm nhận được và ai cũng thấy kỳ lạ”.

“Thật sự là nếu có ai đó bước vào phòng thì tôi sẽ biết được họ muốn nói gì với tôi. Tôi nghĩ, mình có thể trở thành Clark Kent hay siêu nhân hay không?”, anh cười nói.

Một chuyên gia tiết lộ rằng có thể cường độ của tia sét vẫn còn tồn tại trong cơ thể anh là nguyên nhân dẫn đến khả năng đặc biệt kia. Mặc dù từng suýt bị sét đánh chết nhưng Brian giờ đây vẫn tiếp tục hứng thú với công việc chụp ảnh những tia sét. Tuy nhiên với “siêu năng lực” đang sở hữu, dường như vị nhiếp ảnh gia này sẽ không còn gặp nguy hiểm tương tự trong tương lai.

Giờ đây tôi có thể cảm nhận khi có một cơn bão đến gần, tôi cảm nhận được năng lượng quanh bàn tay mình ngay cả khi đang ngủ”. (Lê Trúc Theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CHUYỆN VỀ BẦY SÓI “BÁO ÂN”

LẠI KÉO ĐẾN BẢN LÀNG “BÁO OÁN”

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Dù là ai cũng nên đọc 1 lần. Ông lão cứu thoát một con sói mẹ đang mang thai, sói mẹ vì báo ân mà dẫn theo cả bầy sói đến làng. Và điều không ngờ đã xảy đến, vị ân nhân của sói mẹ lại lãnh chịu cái chết thật bi thảm… Vì sao lại như vậy ?

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Thế nhưng, là một làng quê nhỏ hẻo lánh, thôn Thường Nhân lại được hưởng trọn một khoảng trời bình yên. Vậy nên không ít người bên ngoài tìm đến thôn lánh nạn, cho tới nửa năm sau trong thôn đã có mấy trăm nhân khẩu sinh sống.

Người có uy tín nhất trong làng là ông lão họ Lưu, tuổi chỉ mới ngoài 60. Dân làng kính trọng gọi ông là “Lưu lão” bởi không ai biết tên thật của ông là gì. Người làng chỉ biết thời trẻ ông Lưu từng gia nhập Nghĩa Hòa đoàn, đã từng chứng kiến các sự kiện lớn nhỏ của xã hội, hơn nữa ông còn thông hiểu âm dương, gieo quẻ bói toán, đến trung niên mới định cư ở làng. Bởi vậy lão Lưu càng được mọi người tôn kính hơn.

Hàng ngày ông Lưu thường dậy sớm lên núi hái thảo dược và quả mọng. Trong làng vốn không có nhiều ruộng, hơn một nửa dân làng không có đất canh tác, bởi vậy họ chỉ có thể vào rừng tìm kiếm thức ăn qua ngày. Hôm ấy, ông Lưu vừa lên núi thì giật mình nghe thấy tiếng rú thảm thiết vang vọng đâu đây.

Vừa định quay đầu chạy xuống núi, ông bỗng phát hiện một con sói nằm trên mặt đất đang ngước mắt nhìn ông. Vốn là người đã trải qua nhiều sóng gió, ông nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, cầm chắc con dao phòng thân mang theo mình. Con sói này tuy nhe nanh trợn mắt tỏ ra hung dữ, nhưng lại không thể động đậy. Thì ra nó bị mắc kẹt trong cái bẫy thú, vùng chân bị thương máu chảy loang lổ khắp xung quanh.

Ông Lưu nghĩ bụng : “Nếu cả đàn sói tìm đến hại người thì phải làm sao đây ? Chi bằng hãy nhân lúc nó bị thương mà trừ đi hậu hoạ vậy”. Nhưng khi tiến đến gần hơn, ông để ý thấy phần bụng của nó căng tròn, không giống như bị bỏ đói lâu ngày. Thì ra, đây là sói mẹ đang mang thai…

Ông Lưu sững lại. Nhìn sói mẹ đang vùng vẫy trong tuyệt vọng, đôi mắt nó ánh lên vẻ vô vọng như cố bảo vệ đứa con trong bụng, ông sực nhớ đến người vợ quá cố của mình. Nàng, cô gái của cuộc đời ông, người vợ mà thời trai trẻ ông hết mực yêu thương và trân trọng lại phải chết trong tay người Tây dương… Và đứa con, đứa con trong bụng nàng mà ông vẫn ngày đêm mong ngóng ấy, cũng trở thành một bào thai yểu mệnh. Vết thương lòng ấy cho đến nay vẫn còn nhức nhối khiến ông không thể nào quên.

Động vật liệu có tình cảm giống như con người hay không ? Ông Lưu ngập ngừng, nửa muốn tỏ ra lạnh lùng vô cảm, nửa muốn buông dao để cứu lấy một sinh linh đau khổ. Nhưng điều duy nhất mà ông biết là, chứng kiến cái chết của cốt nhục thân nhân có thể khiến người ta đau đớn cùng cực.

Ông Lưu nhìn sói mẹ mà không nói nên lời, con sói cũng nhìn ông bằng ánh mắt van nài, đầu cúi thấp xuống giống như một người mẹ đang khẩn khoản xin tha mạng cho đứa con của mình.

Rõ ràng đó chỉ là một con sói, một con vật mà người ta vẫn cho là hung dữ hoang tàn, vậy mà lại khiến ông xúc động mạnh mẽ. Dường như ông cũng thấu hiểu tâm can nó, và dường như nó cũng muốn nói với ông những lời mà – giống như nhiều chục năm về trước, nàng đang khẩn khoản cầu xin kẻ sát nhân ấy hãy dừng tay lại. Lòng mềm nhũn, ông bèn cẩn thận đi đến gỡ bỏ cái bẫy thú ở chân sói mẹ. Sau khi được gỡ bỏ cái bẫy thú, nó liền đứng dậy, ngoảnh đầu nhìn ân nhân lần cuối, rồi khập khiễng đi vào rừng sâu.

Trên đường trở về, ông Lưu thấy mí mắt cứ nháy liên hồi, trong lòng ông thấy điều gì đó bất an. Người ta thường nói rằng loài sói chỉ nhớ thù chứ không nhớ ân, mình tuy đã cứu nó một mạng, nhưng dù sao cái bẫy thú vẫn là người khác đặt. Hơn nữa con sói đó cũng đã phát hiện ra thôn làng, liệu có khi nào chúng kéo đến hại người thì phải làm sao ? Và lỡ như chúng làm tổn hại đến tính mạng dân làng, mình há không phải đã “thả sói về rừng” ư ?

Về đến nhà, ông Lưu vội lấy đồng xu gieo quẻ đoán cát hung, kết quả của quẻ tượng khiến ông giật mình kinh hãi: “Trong làng sẽ có họa ngập đầu, cả làng lầm than“.

Ông Lưu đứng ngồi không yên, quả đúng như ông đoán, trong làng ắt có tai họa ập đến, không biết sẽ chết bao nhiêu người ? Nếu tai họa là từ bầy sói, mà cả thôn chỉ có một khẩu súng săn, đối mặt với bầy sói đói hung tợn thì biết làm sao đây ? Ông cảm thấy hối hận, tự nhủ : Đáng lẽ lúc ấy mình không nên mềm lòng mới phải!

Ba ngày sau, chuyện mà ông Lưu lo lắng trong lòng cuối cùng đã đến. Nhưng không phải bầy sói mà là đám thổ phỉ. Mấy chục tên thổ phỉ cưỡi ngựa tay lăm lăm khẩu súng tràn vào trong thôn làng ngang ngược cướp bóc, ngay đến cả gia súc chúng cũng không bỏ qua.

Đám thổ phỉ dồn dân làng ra ngoài cổng làng rồi tha hồ cướp bóc, bắn giết những người chúng cho là “cứng đầu”, ngay cả người già và trẻ nhỏ chúng cũng không tha mạng. Như để giương oai hùm cọp, kẻ đứng đầu đám thổ phỉ bắn súng chỉ thiên rồi lớn tiếng quát lên ầm ĩ.

Tiếng hét vừa dứt, từ trên núi có tiếng sói rú lên vọng lại từng hồi từng hồi. Rồi một bầy sói xuất hiện. Lúc đầu chỉ là một con, hai con, rồi ba con, và hàng chục con sói ồ ạt phi đến. Một bầy sói cùng nhau rú lên, tưởng chừng như khắp bốn phương tám hướng đều là tiếng rú của bầy sói. Thật giống hệt tình cảnh “bốn bề khúc hát Sở quân”. Tiếp đó, mấy chục con sói lao thẳng đến đám thổ phỉ, chỉ trong nháy mắt đã bổ nhào đến nơi.

Đám thổ phỉ hoang mang nổ súng. Nhưng tiếng súng vang lên chưa được mấy hồi đã trở thành tiếng cắn xé của bầy sói. Dân làng ai nấy đều khiếp đảm, không thể ngờ rằng trên núi lại có nhiều sói hoang ẩn náu như vậy. Tiếng kêu la thảm thiết của đám thổ phỉ và tiếng cắn xé của bầy sói như rền vang cả một góc trời, người nào trông thấy đều không khỏi kinh hồn bạt vía.

Sau khi đám thổ phỉ đã bị triệt hạ, con sói đầu đàn uy phong lẫm liệt nhất trong bầy cùng với sói mẹ đi một vòng quanh ông Lưu rồi cúi đầu lạy tạ, sau đó dẫn bầy sói quay trở về núi. Chỉ trong nháy mắt đàn sói đã mất hút vào rừng sâu, trên mặt đất chỉ còn lại những vũng máu loang lổ, minh chứng cho một trận chiến kịch liệt vừa xảy ra.

Ông Lưu thổn thức trong lòng, không ngờ động vật cũng biết báo ân. Còn những người dân làng vừa chứng kiến sự việc thì xì xào to nhỏ với nhau :

– Không ngờ trên núi lại ẩn náu nhiều sói như vậy.

– Đám thổ phỉ này chết thảm quá, chỉ sợ mai kia bầy sói đến ăn thịt chúng ta, lúc ấy phải làm thế nào?

– Các ông không thấy sao, khi nãy chính mắt tôi trông thấy mấy con sói còn cung kính cúi đầu trước lão Lưu cơ đấy.

– Sao có chuyện kỳ lạ như thế ? Có khi nào lão Lưu là ma sói biến thành không ?

– Có lý, có lý, nhất định ông ta là ma sói biến thành rồi !

Sau một hồi bàn tán xôn xao, ai nấy đều nhìn ông Lưu với vẻ ngờ vực, có người tỏ ra khinh miệt, có người lại tỏ ra sợ hãi như nhìn thấy yêu ma. Bỗng một tiếng nói phá tan bầu im lặng : “Đánh chết con ma sói này !”, “Đúng rồi, đánh chết nó đi, đánh chết nó đi !”, “Bầy sói là nhà ngươi dẫn đến mà, phải không ?”.

Nói rồi, tất cả cùng hùa nhau kéo đến, có người cầm gậy gộc, có người cầm đá, có người cầm bất cứ thứ gì mà họ vớ lấy được, rồi ra sức đánh tới tấp ông Lưu. Sau khi ông Lưu chết đi, dân làng còn mời đạo sĩ đến làm phép trấn áp “con ma sói” để nó mãi mãi không được siêu sinh.

Ông Lưu có chết cũng không ngờ được rằng, tai họa ngập đầu trong quẻ bói của ông không phải ám chỉ bầy sói, cũng không phải ám chỉ đám thổ phỉ, mà là chính người dân trong làng mình.

Vào một đêm trăng, sấm chớp liên hồi nhưng không thấy đổ mưa, không biết nguyên nhân gì khiến thôn làng xảy ra hỏa hoạn, bầy sói trong bóng đêm phân tản ra bốn phía xung quanh ngôi làng, ngẩng đầu nhìn ánh trăng rú lên đau đớn…

Câu chuyện kết thúc đầy bất ngờ khiến mỗi chúng ta không khỏi suy ngẫm. Từ chuyện đàn sói báo ơn, cho đến việc dân làng dồn ân nhân của mình đến chỗ chết, lòng người không khỏi cảm thán: Phải chăng chỉ có con người mới dùng nghi hoặc để đối đãi với thiện tâm, dùng bạo hành để đáp lại ơn huệ ?

Năm xưa, Lão Tử vì thấy thế nhân hiểm ác nên vội vàng viết cuốn “Ngũ Thiên Ngôn” (Đạo Đức Kinh) rồi rời đi. Có lẽ Ông đã sớm hiểu rằng người ta không chết vì bầy thú hoang dại, không chết vì thiên tai địch hoạ, cũng không chết vì gươm đao khói lửa, mà chết vì lòng người quá nham hiểm !

Có câu chuyện kể về Mặc Tử xem người ta nhuộm vải. Ông thấy rằng khi những tấm vải trắng được nhúng vào thùng, chúng sẽ biến thành những tấm vải đủ loại sắc màu.

Và Mặc Tử đã khóc. Vì sao ông khóc ? Là bởi xã hội này cũng giống như thùng thuốc nhuộm, mà hễ bước chân vào đời, người ta sẽ bị nhấn chìm trong đó. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, bất cứ ai sinh ra cũng mang một tâm hồn thuần khiết. Nhưng rồi trải qua tháng năm bôn ba, qua quá trình phấn đấu, qua cuộc sống mưu sinh, thì bản tính ban sơ đã lấm bẩn bụi trần.

Vì thấu hiểu lẽ nhân sinh ấy mà cổ nhân luôn giảng về “Đức”. Bởi chỉ có Đức mới có thể đưa con người trở về với chân ngã của mình, chỉ có Đức mới có thể giúp người ta khỏi sa đoạ trong vũng lầy nhân thế.

Và chắc chắn là, nếu có thể sống trọn vẹn với chữ “Đức” này, chúng ta sẽ làm được “cả thế gian đều say, chỉ có mình ta tỉnh; cả thế gian đều vẩn đục, chỉ mình ta sạch trong”… (theo Lê Quang)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: