CHUYỆN VỀ “DIỄM XƯA”

NÀNG BÍCH DIỄM

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

XUẤT HIỆN Ở HUẾ

(vào tháng 3 2017)

“..ta mang cho em một chút tình…”

“Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện : Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa” của chàng họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thị Bích Diễm (Diễm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước đã diễn ra tại trung tâm văn hóa Liễu Quán, TP Huế, tối 12/3/2017 vừa qua.

“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rất ít ai biết hình bóng cô Diễm trong tuyệt phẩm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.

Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ.

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

Tao ngộ Huế sau bao nhiêu năm “ẩn giấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét mặt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Độ tuổi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.

Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có một tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”.

Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt. Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Gặp “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn : Lần đầu tiên sau hơn 50 năm, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã “lộ diện” và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ tài hoa. 

Tối 12-3, tại Trung tâm Văn hoá Liễu Quán, thành phố Huế, TS Triết học Thái Kim Lan, Việt kiều Đức cùng một nhóm bạn “Huế xưa” đã bất ngờ tổ chức một đêm nhạc Trịnh Công Sơn theo kiểu ngẫu hứng. Điều bất ngờ gây háo hức và tò mò nhất của đêm nhạc này là sự xuất hiện của nhân vật “Diễm”, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Không chỉ là những người trẻ yêu nhạc trịnh của thế hệ 7X, 8X, 9X…, mà ngay cả với rất nhiều người cùng thời, thậm chí là có quen biết, giao du qua lại với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người con gái trong “Diễm xưa” vẫn đã, đang là một huyền thoại sương khói.

Bởi vậy, sự xuất hiện và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên sau hơn 50 năm im lặng của một “Diễm xưa” bằng xương bằng thịt, đã mang đến những cảm xúc rất đặc biệt đối với gần 100 người, phần lớn là trí thức Huế có mặt trong đêm nhạc.

Sinh thời, hơn một lần cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tự bạch về “Diễm xưa” như thế này : “ Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế…. Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. … .

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là ”Diễm của những ngày xưa”.

“Diễm xưa” tên thật là Ngô Thị Bích Diễm, con gái của ông Ngô Đốc Kh , người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. “Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, sau đó đi du học nước ngoài và bây giờ cùng chồng và các con sống, định cư ở Mỹ”, bà Diễm cho biết.

Theo hồi ức của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và nhiều người cùng thời với bà có mặt tại đêm nhạc thì bà Bích Diễm, thời là người yêu của Trịnh Công Sơn rất giống bố, người gầy và dong dỏ ng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng…. Qua thời gian, “Diễm xưa” bây giờ đã là một mệnh phụ, tuy nhiên khuôn mặt, dáng người, phong thái…vẫn còn lưu dấu những nét đẹp kiêu sa, đài các một thời.

Tại buổi nhạc, vì là lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, bà Diễm đã rất xúc động và lúng túng. Bà kể điều được điều mất đại ý: Bà quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua hoạ sĩ Đinh Cường, thời ấy (khoảng những năm 1960) là một học trò Pháp văn của cha bà. Nhà bà ở 46 đường Phan Chu Trinh, bên kia sông An Cựu, đối diện với nhà cũ của Trịnh Công Sơn ở đường Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế.

Trong thời gian hai người quen biết nhau, có lần bà tặng cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một nhánh Hoàng lan đầy hoa rất lớn bẻ từ nhà bà, và điều này đã trở thành một “cú sốc” tình cảm lớn đối với nhạc sĩ, theo như lời kể lại của em gái nhạc sĩ với bà sau này….

Nhà văn, GS Bửu Ý, một người bạn thân của nhạc sĩ phát biểu tại đêm nhạc: “Sinh thời, Trịnh Công Sơn có đến hơn…23 người tình. Tuy nhiên, do mối tình đầu với bà Bích Diễm quá sâu nặng cho nên những mối tình sau này, thật ra Trịnh Công Sơn chỉ là đi tìm hình bóng của bà Diễm trước đó mà thôi”.

“Diễm xưa” hoài niệm : Trở về Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm, cô nữ sinh Trường Đồng Khánh – người con gái tạo cảm hứng cho nhạc sĩ họ Trịnh sáng tác ca khúc Diễm xưa – Ngô Bích Diễm đã hồi tưởng về ngày xưa

Phóng viên : Chị và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quen nhau trong hoàn cảnh nào ?

Bà Bích Diễm : Sơn quen tôi qua hoạ sĩ Đinh Cường. Hai người là bạn thân của nhau. Ngày đó, anh Cường thuê nhà trọ ngay trong con hẻm nhà tôi. Có vài lần qua nhà tôi chơi, anh Sơn rủ Đinh Cường đi cùng. Nhà anh Sơn ở không xa nhà tôi. Anh Sơn ở số 11/3, đường Nguyễn Trường Tộ, tôi ở nhà 46 (cũ) đường Phan Chu Trinh. Từ nhà anh Sơn đi qua cầu Phủ Cam, rẽ tay phải đi bộ vài phút là đến nhà tôi. Sơn hay đến nhà tôi chơi. Lúc ấy, nhà tôi có cây dạ lan hương, hoa nở rất thơm.

Anh Sơn rất thích mùi hoa này. Lúc nào đến chơi cũng nhận xét về mùi thơm của hoa. Có lần tôi đã tặng anh một nhành hoa. Sau đó, tôi nghe các em gái của anh nói lại là cành hoa tôi tặng đã làm chấn động tình cảm của anh.

Phóng viên : Vậy có phải Diễm xưa là tình yêu say mê của Trịnh Công Sơn dành cho chị ?

Bà Bích Diễm : Tình cảm của Sơn dành cho tôi quá đẹp nên lúc nào tôi cũng trong trạng thái mơ hồ. Tôi không dám nhận mình là người con gái trong nhạc phẩm Diễm xưa. Nhưng đó là một mối tình rất đẹp của chúng tôi ngày ấy.

Phóng viên : Chị nghĩ về Trịnh Công Sơn thế nào ?

Bà Bích Diễm :  Anh Sơn như một dòng sông…

Phóng viên : Nghe nói do gia đình chị, cụ thể là ông cụ thân sinh đang là giáo viên Trường Quốc học Huế, không muốn chị thành thân với một nghệ sĩ ?

Bà Bích Diễm : Tôi sinh ra ở Hà Nội. Năm 1952, gia đình tôi vào Huế nên tôi lớn lên ở Huế trưởng thành ở Sài Gòn. Nhưng đi bất cứ đâu, thậm chí sau này khi tôi đã định cư ở Mỹ, vẫn có nhiều người gặp tôi lần đầu đều hỏi tôi có phải là người Huế không ? Vì phong cách, dáng dấp của tôi rất giống người Huế. Có lẽ đó là một trong những điều làm Sơn quý mến tôi. Với tôi, Huế luôn khép kín, bí ẩn, dù đi bất cứ đâu, suốt cả cuộc đời, Huế vẫn luôn ở trong tim tôi.

Phóng viên : Một mối tình thật đẹp, nhưng vì sao hai người không cùng nhau đi hết cuộc đời?

Bà Bích Diễm : Năm 1963, lúc 20 tuổi, tôi vào Sài Gòn học đại học, còn Sơn sau đó cũng vào học Trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau đó tôi du học ở Mỹ nên không có điều kiện gặp lại anh.

Phóng viên : Dịch giả Bửu Ý, bạn thân của Trịnh Công Sơn nói rằng ông mới đếm sơ sơ thì Sơn đã có 23 người đẹp đi qua đời ông. Tất cả đều nói giọng Bắc như chị. Người nào Sơn cũng yêu say mê nhưng vẫn tìm hình bóng của Diễm qua từng người một, Diễm vẫn là niềm cảm hứng để Sơn dâng tặng cho đời những tình ca bất hủ. Chị nghĩ sao về điều này?

Bà Bích Diễm : (Nói trong cảm xúc dâng tràn, bà Diễm cười nhưng đôi hàng mi hoen ướt). Hình bóng anh Sơn đã bao trùm lên suốt cuộc đời tôi. Thế là quá đủ rồi !

Còn đó chất Huế : Đêm 12-3, trong khán phòng của Trung tâm Liễu quán, Huế, chật ních khán giả, những người bạn thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến để cùng hát nhạc Trịnh, nhớ về người nhạc sĩ tài hoa đã cống hiến hết mình cho âm nhạc Việt Nam.

Và có lẽ còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là để gặp lại “Diễm xưa”, người phụ nữ đã tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều tình ca bất tử của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Diễm xưa. Bà Diễm từ Mỹ trở lại Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm.

Bước sang tuổi 67, Diễm vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng, đài các của cô gái Huế gần 50 năm về trước. Bà ngồi đó, bên cạnh những người bạn thân của Trịnh Công Sơn như dịch giả Bửu Ý, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân… từng chứng kiến mối tình đẹp của chàng nghệ sĩ lãng tử họ Trịnh và người đẹp nữ sinh Đồng Khánh năm xưa. (theo Phan Nguyên Luân… thực hiện)

LỜI BÀN CỦA KHÁCH GIANG HỒ : Nói về giai đoạn Trịnh Công Sơn gập được Bích Diễm. Thật ra TCS lúc này vẫn còn là con số không to tướng trong làng tân nhạc miền Nam bấy giờ. Mặc dù ca khúc “Diễm Xưa” được Trịnh Công Sơn sáng tác đã lâu từ Huế, nhưng đến năm 1960, người ta mới biết đến bài “Diễm Xưa” của nhạc sĩ họ Trịnh đang do Khánh Ly trình bày trên sân cỏ quán cà phê Văn, sau Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Nên bài viết trên chắc rằng cô Bích Diễm ngày xưa chỉ quen với Trịnh Công Sơn mà không có chút tơ tưởng chút tình nào (nếu có thì sau 1960, cô Diễm đã ra mắt mọi người). Chỉ sau khi cô Diễm đi du học, bấy giờ Trịnh Công Sơn mới bộc bạch trường hợp sang tác ca khúc “Diễm xưa” khi được báo chí phỏng vấn.

Nhưng không chỉ có Bích Diễm, còn Dao Ánh, Nga Mi – người đẹp trong gia đình bốn chị em tên Mi, Lưu Thị Kim Đính v.v… đều là “người tình trong mộng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng Khánh Ly lại là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên… tất cả vỡ mộng chỉ vì chàng nhậc sĩ “hào hoa” ấy không thể lấy ai.

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO…

– Nguyễn Ngọc Chinh

Khoảng thập niên 60, không ít người miền Nam trong một phút ngẫu hứng nào đó đã thả hồn theo lời ca tiếng nhạc của một bài hát rất thịnh hành :

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai…

Xứ hoa đào là một trong những tên gọi Đà Lạt mà nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã thi vị hóa Paris Nhỏ hay Thành phố Hoa… Tuy nhiên, hoa đào trên Đà Lạt không phải là loại anh đào trắng (sakura) của Nhật, cũng không phải là cây đào có quả mà ta gọi là đào lông. Người Đà Lạt gọi đó là cây mai nhưng lại không phải là mai vàng thường thấy ở miền Nam.

Mai Đà Lạt nở rộ vào dịp Giáng sinh và Tết. Mai Đà Lạt không rực ánh vàng như những cây mai mừng xuân thường thấy được trang trí ở Sài Gòn. Mai Đà Lạt có nhụy phơn phớt hồng pha lẫn cánh hoa màu hồng phấn, cũng chẳng giống hoa đào Nhật Tân Hà Nội vốn thuộc loại đào lông.

Đà Lạt ngày xưa, suốt con dốc từ cầu Ông Đạo lên khu Hòa Bình, cứ vào cuối tháng 12 cây mai nở rộ hai bên đường để báo hiệu mùa xuân đã về. Quanh hồ Xuân Hương những gốc mai già trụi lá cũng bắt đầu trổ bông khiến Đà Lạt nhuộm một mầu hồng nhạt hơn màu xác pháo như nhắc mọi người ngày Tết sắp đến.

Sau thời gian hoa mai nở rộ, cây bắt đầu đâm chồi xanh và trên cành xuất hiện những chùm trái tím đỏ. Trái mai rụng đầy dưới gốc và nằm yên ở đó cho đến khi hòa vào lòng đất. Trái mai đắng ngắt nên cả đến bọn trẻ cũng chê vì ăn chẳng được và thế là mai trở nên ‘bất khả xâm phạm’ cho đến khi hóa thân, hòa quyện với đất.

Điều đáng buồn là những cội mai già theo thời gian đã từ từ biến mất khỏi Đà Lạt khiến những người ‘yêu’ Đà Lạt cảm thấy như mất đi cái gì đó mỗi khi trở lại chốn xưa. Đà Lạt cũng kém vui khi thiếu những cánh mai hồng của ngày nào. Biết vậy… nhưng chẳng biết làm sao.

Đà Lạt không hổ danh với tên gọi Thành phố Hoa. Thôi thì đủ loại hoa với đủ các giống, trăm hồng nghìn tía. Có một loài hoa dại mà có lẽ chỉ người gốc Đà Lạt mới để ý: hoa Cúc quỳ, còn gọi là hoa hướng dương dại hay nên thơ hơn là hoa Dã quỳ.

Dã quỳ thường nở vàng bờ dậu hoặc ven đường. Thật ra loài hoa này chẳng ai trồng chứ nói chi đến việc bỏ công chăm sóc. Vò lá Dã quỳ trong tay và đưa lên mũi ngửi ta thấy mùi hăng hắc, khó chịu… nhưng ngắm hoa dại nở rộ một màu vàng tươi lại khiến lòng vui một niềm khó tả.

Cũng có màu vàng như Dã quỳ nhưng nhạt hơn và nhỏ hơn là những cành Mimosa mà có người bảo đây là loài hoa tượng trưng cho những mối tình chớm nở. Lại có ý kiến cho rằng Mimosa nói lên một tình yêu thầm kín hay tượng trưng cho một vẻ đẹp khiêm tốn.

Có thể ai đó nghĩ rằng những nụ hoa Minosa có hình cầu giống hoa trinh nữ nên mới thi vị hóa Mimosa là Trinh nữ Hoa vàng. Các cô gái Đà Lạt đang yêu thường ép Minosa vào trang sách cũng tựa như ép lá thuộc bài để mong mọi chuyện sẽ thuận lợi cả trong tình yêu lẫn chuyện học hành (?). Hoa Mimosa rất thơm nhưng lại có rất nhiều phấn nên những ai bị dị ứng với phấn hoa chắc chắn sẽ tránh xa loài hoa này.

Đà Lạt còn rất nhiều loài hoa với những cái tên thật đặc biệt. Forget-me-not, thuộc họ myosotis, còn được gọi là hoa lưu ly, với thông điệp đừng quên tôi nhé. Hoa tigôn qua bài thơ nổi tiếng của TTKH được thi vị hóa qua hình ảnh… hoa dáng như tim vỡ. Cái tên hoa hồng Brigitte Bardot lấy hình tượng của cô đào BB với cặp môi lúc nào cũng như mời gọi nụ hôn…

Lại có những loài hoa mang những cái tên thật dân giã. Đà Lạt có một loại dây leo người ta thường gọi là bìm bịp, đây là loại cây mọc hoang nhưng lại có hoa rất đẹp, màu tím nhạt tựa như loa kèn. Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ thường cắt dây leo bìm bịp thành những đoạn ngắn để làm ‘đạn’ bắn ná thung. Đạn bằng dây bìm bịp bẻ cong hình chữ U khi bắn trúng người cũng đau thấm thía…

Có một loại giây leo mang tên mát mát hay mác mác cho hoa màu tím nhạt và trái non màu xanh, khi chín biến sang màu tím than. Bên trong ruột của trái mát mát là những hột nhỏ màu cam có vị chua chua. Trái mát mát ở Đà Lạt ngày nay được còn được gọi là chanh dây (passion fruit) hoặc chanh leo rất phổ biến trong công nghiệp nước giải khát.

Sẽ là một thiếu sót lớn khi nói đến hoa Đà Lạt mà không đả động gì đến hoa lan. Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của các bậc vua chúa vương giả. Bố tôi thưở còn sinh thời cũng là một người mê lan đến độ mẹ tôi nhiều lúc phải… bực mình vì thú vui tao nhã của ông.

Vào thập niên 60 nhà tôi có hẳn một vườn lan ở Đà Lạt. Bố tôi dành hết thì giờ cho lan, chỉ để chiêm ngưỡng chứ không hề bán. Ngược lại, ông mua rất nhiều lan của người Thượng để bộ sưu tập của mỗi ngày một phong phú. Ông còn tổ chức các buổi vào rừng để tự săn tìm lan cùng với người Thượng.

Dụng cụ đi rừng của ông chỉ có búa để đóng những cái đinh dài từ 15 đến 20 phân lên thân cây làm bực thang trèo lên lấy lan. Sau đó dùng dây thòng cây lan xuống chứ không ném vì sợ cây và hoa bị dập! Đi săn thú trong rừng là chạy theo một mục tiêu di động trong khi đi lùng phong lan lại phải quan sát một mục tiêu cố định mằn ở trên cao.

Bố tôi bảo tìm được lan trong rừng là cái duyên may của từng người, có người đứng ngay dưới cây lan mà vẫn không ‘thấy’! Hôm nào kém ‘duyên’ ông tìm những khúc cây mục đem về để trồng lan!

Nhìn ông trau chuốt, lau từng chiếc lá của cây lan bằng bông gòn tẩm nước mới thấy một niềm đam mê đặc biệt. Chính sự đam mê này đã khiến những người thích phong lan gần gũi với nhau hơn, bất kể ranh giới xã hội, bất phân giàu nghèo.

Tướng ‘Big’ Minh cũng là người mê chơi lan, dinh của ông ở Sài Gòn còn được gọi là Dinh Hoa Lan. Mỗi khi lên Đà Lạt ông thường ở tại nhà số 7 Lê Thái Tổ (Câu lạc bộ của Ngự Lâm Quân), số 9 ở ngay bên cạnh là Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản có một vườn lan và xuôi dốc khoảng 50m là vườn lan của bố tôi ở số 9/1 Lê Thái Tổ.

Hễ có mặt ở Đà Lạt, Tướng Minh thế nào cũng ghé vườn lan 9/1, chỉ để ngắm hoa. Tôi biết mặt Đại úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Tướng Minh mỗi khi ông ghé thăm vườn từ những năm 60s… Sau này, ông Nhung là người được coi như có liên quan đến việc ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm trong thiết vận xa M113 năm 1963.

Hoa lan ở Đà Lạt có trên 200 loài, trong đó có 5 loài được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới được mang tên Đà Lạt hay Langbiang. Lan Đà Lạt được xếp thành 3 loại chính: thổ lan (lan mọc dưới đất), thạch lan (lan mọc trên đá) và phong lan (lan cộng sinh mọc trên thân của những cây khác).

Ở Việt Nam, theo các tài liệu lưu hành, hoa lan được biết đến và trồng dưới thời vua Trần Anh Tông (1258-1293). Hầu hết các đề tài nghiên cứu về hoa lan Việt Nam đều do các nhà khoa học người nước ngoài thực hiện. Mới đây, qua bộ sách Cây cỏ miền Nam Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ đã liệt kê và bổ sung thêm các loài phong lan nâng tổng số lan có ở Việt Nam lên 755 loài.

Lan được đặt tên theo hình dáng và màu sắc của hoa. Có những cái tên nghe rất văn vẻ như bạch hạc, nhất điểm hồng, thủy tiên, tiên hài, hàm lân, kim điệp, long tu, hoàng lan, hạc đính, giáng hương… cũng có những tên rất dân giã như bò cạp, gấm đất…

Có nhà nghiên cứu nào đó đã ghép tên 24 loại hoa lan thành một bài thơ mang âm hưởng thơ Đường luật, thất ngôn bát cú :

Ngọc điểm, Long tu, Nhất điểm hồng

Mặc lan, Ý thảo, Tục đoạn lông

Huyết nhung, Phượng vĩ, Hàm lân cứng

Hạc đính, Hoàng long, Thanh đạm trung

Trân châu, Gấm đất, Chu đinh tím

Bạch diệp, Luân trần, Mao Tuyết nhung

Dã hạc, Giáng hương, Hồng câu thảo

Thủy tiên, Hạc vĩ, Bạch huệ đồng”. (theo Nguyễn Ngọc Chính)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Bản tin số 170/2695 – Ngày 19/6/17

VỢ CHỒNG

ĐINH VĂN THI

ĐANG Ở SÀIGÒN

Các bạn,

Có lẻ ảnh hưởng từ một cơn áp thấp nhiệt đới, trời Sài Gòn bỗng có cơn mưa giông tầm tả từ 15giờ chiều (18/6/17). Cao Bồi Già không đi “tám” được nên đang nằm nhà, bỗng nghe có tiếng chuông điện thoại, nhìn thấy một số lạ gọi đến, tưởng rằng một thân chủ gọi đến nhờ tư vấn tâm linh như mọi khi, Không ngờ đó là giọng nói của người bạn từ phương xa đang ở Sài Gòn (Thủ Đức). Đó là giọng của người bạn trong nhóm NK6067 : Đinh Văn Thi – A4/6067.

Vợ chồng Đinh Văn Thi mới từ Nam Úc bay về quê hương trong ngày, đã nhớ đến nhóm ACNVTVHT, muốn họp mặt sau nhiều tháng trở về Úc, nay mới có dịp trở lại, Nhưng vì trời mưa tầm tả nên đành hẹn lại dịp khác, anh em sẽ họp mặt nói chuyện nhiều hơn.

Cao Bồi Già

NHỮNG ĐIỀU THÚ VỊ

VỀ TRÁI ĐẤT

Một số thung lũng của trái đất chìm sâu dưới biển. Nhiều ngọn núi lại vươn chồi lên trên lớp không khí mỏng. Bạn có thể nêu tên điểm thấp nhất trên trái đất ? Đỉnh cao nhất ? Bạn có biết đường vào trung tâm trái đất là bao xa và có gì ở đó? Nơi nóng nhất, lạnh nhất, khô nhất, lộng gió nhất là ở đâu ?

1/. Nơi nào nóng nhất trên trái đất ? Nếu bạn đoán là Thung lũng chết ở California, Mỹ, thì bạn hoàn toàn sai. El Azizia ở Libya đã đạt được nhiệt độ kỷ lục 57,8 độ C vào 13/9/1922. Thung lũng chết chỉ đạt 56,6 độ C vào 10/7/1913.

2/. Nơi lạnh nhất trên thế giới ? Các nhà khoa học Mỹ mới đây xác định khu vực lạnh nhất trên Trái Đất nằm ở Nam Cực với nhiệt độ dưới -93 độ C. Nhiệt độ được ghi nhận ở khu vực sườn núi nằm giữa Trạm quan sát và nghiên cứu Dome F và Dome A (màu đỏ), đông Nam Cực, năm 2010 và 2013.

3/. Cái gì tạo nên sấm sét ? Nếu bạn đoán rằng “tia chớp” thì cũng xin bái phục. Nhưng có một câu trả lời sáng tỏ hơn. Không khí xung quanh tia chớp bị hâm nóng lên gấp 5 lần nhiệt độ của mặt trời. Sự hâm nóng đột ngột này khiến không khí nở ra nhanh hơn tốc độ của âm thanh, làm cho không khí xung quanh bị nén lại và tạo nên shock wave, chúng ta nghe thấy như tiếng sấm.

4/. Đá có thể nổi trên nước ? Trong những đợt phun trào núi lửa, lớp khí bị bắn ra mạnh mẽ từ dung nham tạo nên một loại đá sủi bọt gọi là đá bọt, chứa đầy các bong bóng khí.Một số hòn đá này có thể nổi trên mặt nước.

5/. Đá có thể to lên không ? Có, nhưng theo dõi quá trình này thì còn chán hơn là xem sơn khô. Những hòn đá này (iron-manganese crusts) lớn lên trên các ngọn núi ở dưới biển. Chúng kết tủa chậm rãi vật chất từ nước biển, to lên khoảng 1 mm trong 1 triệu năm. Móng tay của bạn cũng mọc lên từng đó trong 2 tuần.

6/. Bao nhiêu lượng bụi từ không trung rơi xuống trái đất mỗi năm ? Con số này vô định, nhưng USGS cho rằng có ít nhất 1.000 triệu gram, tức là khoảng 1.000 tấn vật chất rơi vào bầu khí quyển mỗi năm và hạ cánh xuống bề mặt trái đất.

7/. Bụi có thể bay bao xa trong gió ? Một nghiên cứu vào năm 1999 cho biết bụi từ châu Phi đã tìm đường tới Florida và khiến nhiều nơi ở bang này vượt giới hạn chất lượng không khí cho phép do Uỷ ban bảo vệ môi trường Mỹ quy định. Số bụi đó được những cơn gió lớn ở Bắc Phi đón đường và đưa lên cao 6.100 m, nơi đó bụi lại gặp gió mậu dịch và được đưa qua biển. Bụi từ Trung Quốc cũng đã vượt đại dương tìm sang Bắc Mỹ.

8/. Thác nước cao nhất thế giới ở đâu ? Với độ cao 979m, thác Thiên thần (Angel Falls) tọa lạc tại công viên quốc gia Canaima của Venezuela được công nhận là thác nước cao nhất thế giới.

9/. Hai thành phố lớn nào của Mỹ sẽ bị nhập vào nhau ? Khe nứt San Andreas chạy theo hướng bắc nam đang phân tách với tốc độ 5 cm/năm, khiến cho Los Angeles tiến gần về San Francisco. Ước đoán Los Angeles sẽ trở thành khu vực ngoại ô của Thành phố bên Vịnh trong 15 triệu năm nữa.

10/. Trái đất có phải hình cầu ? Do hành tinh của chúng ta xoay tròn và linh hoạt hơn bạn có thể tưởng tượng, nó phình ra ở phần giữa, tạo nên hình giống như quả bí ngô. Chỗ phình ra này đang giảm dần qua hàng thế kỷ, nhưng nay bỗng nhiên nó lại phát triển. Chính sự băng tan ngày càng nhiều trên trái đất chính là nguyên nhân khiến vành xích đạo nở ra. (Còn nữa – Mai tiếp)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NHỮNG NHÀ KHOA HỌC

NGƯỜI VIỆT Ở NASA

1/- Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh : Khi có dịp đến thăm phòng trưng bày thành tựu chinh phục không gian của NASA ở Houston, bang Texas, những người Việt Nam sẽ không khỏi cảm thấy tự hào khi thấy tên của một người Việt được trang trọng tôn vinh, đó là giáo sư – tiến sĩ toán học Nguyễn Xuân Vinh, người đã vạch quỹ đạo cho những phi thuyền Apollo của Mỹ lên được mặt trăng.

Nhà khoa học Nguyễn Xuân Vinh đã nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về tính toán quỹ đạo tối ưu cho những chuyến bay lên mặt trăng dưới sự bảo trợ của Cơ quan Hàng không và không gian Mỹ NASA. Ông là người Việt Nam đầu tiên và cũng là người đầu tiên ở Đại học Colorado được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian vào năm 1962 với công trình này.

Những lý thuyết của Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công và sau này được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền con thoi trở về trái đất.

Ngoài tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, suốt 40 năm qua hàng trăm chuyên gia người Việt các thế hệ đã nối tiếp nhau để lại nhiều dấu ấn trong những thành tựu của NASA. Chỉ tính riêng cơ quan Ames Research Center của NASA ở Moffett Field, bang California đã có hơn 100 chuyên gia là người Việt.

2/- Bay vào vũ trụ dài ngày : Một trong những chuyên gia người Việt như vậy là Tiến sĩ vật lý thiên văn Trịnh Hữu Châu (Eugene H. Trinh), làm việc trong Phòng thí nghiệm phản lực (Jet Propulsion Laboratory – JPL) của NASA. Tiến sĩ Trịnh Hữu Châu sinh năm 1950 tại Sài Gòn, đỗ Tiến sĩ vật lý ứng dụng Đại học Yale năm 1977, ông đã trở thành nhà du hành vũ trụ trên chuyến tàu con thoi Columbia 12 số hiệu STS-50 năm 1992, bay lên trạm không gian Skylab trong chuyến bay dài 13 ngày – dài nhất trong toàn bộ chương trình tàu con thoi.

Cùng làm việc ở Phòng thí nghiệm phản lực còn có tiến sĩ Nguyễn Thành Tiến, người đã được NASA trao Huy chương ngoại hạng vì những đóng góp quan trọng trong chương trình Galileo đưa phi thuyền thám hiểm sao Mộc.

3/- Thế hệ khoa học 6X : Hiện nay, những gương mặt thuộc thế hệ 6X trở về sau chiếm đa số trong cộng đồng các nhà khoa học người Việt ở NASA. Trong đó, có thể kể tới Tiến sĩ hàng không và không gian Bùi Trí Trọng, hiện đang làm việc ở trung tâm nghiên cứu Dryden Flight Research Center ở Edwards, bang California.

Bùi Trí Trọng, sinh 1965 tại Sài Gòn, đỗ Tiến sĩ tại Đại học Stanford, sau đó anh làm việc cho Glenn Research Center của NASA từ 1997 với công việc khởi đầu là kỹ sư hàng không, hiện anh đang làm việc với tư cách chuyên gia nghiên cứu và thử nghiệm các loại tên lửa. Tiến sĩ Bùi Trọng Trí là một trong những tên tuổi của ngành hàng không thế giới.

4/- Tham gia chế tạo kính thiên văn : Từ khi còn là học sinh cấp 2 ở Đà Nẵng, Nguyễn Trọng Hiền đã say mê Vật lý và Thiên văn học. Năm 1981, khi sắp tốt nghiệp cấp 3, anh đi sang Mỹ định cư theo sự bảo lãnh của người anh. Vừa đặt chân đến thành phố Los Angeles , với vốn tiếng Anh khá thành thạo đã được chuẩn bị từ khi còn ở Việt Nam , Nguyễn Trọng Hiền đã theo học khoa Vật lý của trường Đại học Berkeley ( University of California at Berkeley ). Tốt nghiệp, anh tiếp tục theo học bậc Tiến sỹ tại Đại học Princeton với chuyên ngành nghiên cứu bức xạ nền vũ trụ. Anh là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sỹ tại đại học này.

Công việc Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hiền là phụ trách mảng nghiên cứu chế tạo thiết bị quan sát thiên văn vũ trụ. Dự án mới nhất anh đang thực hiện là nghiên cứu chế tạo kính thiên văn cho đài thiên văn vũ trụ hợp tác giữa NASA và Cơ quan không gian châu Âu (ESA), dự kiến sẽ hoàn tất vào năm 2007..

Ngoài những công việc nghiên cứu tại NASA, Tiến sĩ Hiền còn cộng tác rất tích cực với Hội Thiên văn Vũ trụ Việt Nam . Được biết, anh cũng đang xúc tiến cùng các nhà khoa học trong nước thành lập một cơ sở đào tạo khoa học cho các em học sinh ở Việt Nam .

Đó mới chỉ là một số gương mặt tiêu biểu trong số hằng trăm nhà khoa học gốc Việt đã và đang làm việc, góp phần xây dựng và phát triển nên ngành khoa học không gian hùng hậu và nổi tiếng của nước Mỹ ngày nay.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

BÍ ẨN VỚI NHỮNG VỤ

MẤT TÍCH NHẤT LỊCH SỬ

Mỗi ngày, trái đất đều xảy ra các trường hợp mất tích mà không tồn tại một dấu vết nào. Đôi khi được tìm thấy nhưng cũng có trường hợp họ biến mất hoàn toàn. Nơi họ đã đi hoặc những gì đã xảy ra với họ vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải quyết.

Các chuyên gia không ngừng tìm kiếm và hi vọng điều may mắn sẽ đến với họ. Nhưng dường như tất cả đều là vô vọng. Dưới đây là những trường hợp mất tích kỳ lạ nổi tiếng nhất trong lịch sử.

1/- Nhà soạn nhạc Glenn Miller : Glenn Miller là một nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhà biên đạo kiêm nhạc trưởng của Mỹ. Ông được biết đến như là nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất từ năm 1939 đến năm 1943. Vào ngày mất tích, Miller đã bay từ Vương quốc Anh đến Paris, Pháp để chơi nhạc cho những người lính. Máy bay của ông đã rời khỏi RAF Twinwood Farm, Clapham và biến mất trong khi bay qua Kênh đào Anh. Lý thuyết cho rằng chiếc máy bay của ông ta đã bị ném bom bởi những chiếc máy bay Đồng minh.

2/- Không tặc DB Cooper ; Dan Cooper lên chuyến bay Northwest Orient 305, năm 1971. Anh ta lên máy bay và đốt thuốc lá. Sau đó, ông chuyển giấy báo cho Florence Schafner, một tiếp viên hàng không, viết : Tôi có một quả bom và Cooper yêu cầu tiền chuộc là 200,000 USD và bốn dù để ông có thể cho phép 36 hành khách rời khỏi máy bay khi nó hạ cánh.

FBI đồng ý và chiếc máy bay cất cánh lại và theo lệnh của Cooper, nó sẽ bay tới Mexico ở độ cao dưới 10.000 feet. Cooper nhảy lên với một chiếc dù nhảy gắn trên lưng tới một nơi nào đó trên dải Cascade thấp hơn ở vùng Tây Nam Washington. Tới nay, anh ta vẫn chưa được tìm thấy.

3/- Nhà phê bình Ambrose Bierce : Ambrose Bierce là một nhà văn Mỹ nổi tiếng và nhà phê bình xã hội. Ông được biết đến với The Devils Dictionary và nhiều truyện ngắn khác về ma và cuộc nội chiến. Ông là một nhà văn nổi tiếng của The San Francisco Examiner, nơi ông có biệt danh “Bitter Pierce”, vì sự mỉa mai không khoan nhượng và những quan điểm hoài nghi. Ông quyết định đi du lịch các chiến trường phía Nam vào năm 1913.

Ông tới Mexico và dành thời gian cho quân đội Pancho Villa trong cuộc Cách mạng Mexico. Ông đã biến mất một cách kỳ lạ ở đâu đó gần Chihuahua ở Mexico vào cuối năm 1913 hay đầu năm 1914. Không ai tìm thấy ông ta ngay cả sau khi điều tra được hoàn tất.

4/- Thẩm phán Crater : Thẩm phán 41 tuổi đã biến mất trong đêm. Vào ngày mùng 6 tháng 8, anh ta rời văn phòng và đi ăn với bạn mình là William Klein và tình nhân Sally Lou Ritz. Họ cho biết lần cuối cùng họ nhìn thấy anh ta là lúc anh ta đi ra ngoài đường phố của nhà hàng. Tin tức về sự biến mất của anh ta đã nổ ra vào ngày 3 tháng 9 và một cuộc tìm kiếm đã xảy ra.

Sự biến mất của anh ta có khả năng do những hành vi đáng ngờ của thẩm phán trước khi anh biến mất. Thư ký luật sư của ông cho biết rằng thẩm phán đã tiêu hủy một số tài liệu vào ngày 6 tháng 8, chuyển một số danh mục giấy tờ sang căn hộ của ông ta và ông ta đã rút 5.000 USD (113,6 triệu đồng) từ tài khoản cá nhân của ông ta.

5/- Máy bay MH370 : Vào thứ bảy, 8 tháng 3 năm 2014, chuyến bay 370 của hãng hàng không Malaysian biến mất trong khi đi từ sân bay Kuala Lumpur, Malaysia đến Bắc Kinh và cuối cùng đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Không tìm thấy bất kỳ một đống đổ nát nào về máy bay MH370. Chiếc máy bay này đã bị mất hoàn toàn và có rất nhiều lý thuyết kỳ lạ về những gì xảy ra với máy bay.

6/- Sự biến mất của ngôi làng Inuit : Phóng viên Emmett E. Kelleher đã viết câu chuyện trên Danville Bee vào ngày 27 tháng 11 năm 1930. Kellehernói về một làng người Inuit bị mất tích. Labelle nói rằng ông thường xuyên đến làng Inuit, trên bờ Hồ Angikuni. Tuy nhiên, khi anh đến làng, anh đã có một cảm giác đáng sợ.

Khi vào làng, anh ta tìm thấy những con chó đã chết đói nhưng không ai ở trong làng. Khi ông bước vào các túp lều, ông thấy chậu và dụng cụ nấu với thức ăn vẫn còn trong đó. Anh ta cũng tìm thấy một khẩu súng trường. Các nhà chức trách đã được thông báo nhưng không ai từng được tìm thấy.

7/- Nữ phi công Amelia Earhart : Amelia Earhart là phi công. Cô lên đường vào năm 1937 với người dẫn đường Fred Noonan, cho một chuyến bay vòng quanh thế giới. Đây là thành tích cao quý của cô. Earhart gặp phải một số vấn đề thời tiết trong chuyến bay gần cuối cuộc hành trình dài 29.000 dặm của mình, ở Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nữ phi công không thể tìm thấy hòn đảo mà cô ấy muốn tiếp nhiên liệu. Mọi liên lạc với máy bay của cô đã mất vào ngày 2 tháng 7 và một cuộc tìm kiếm hai người bắt đầu.

8/- Nhà phát minh Le Prince : Le Prince là một nhà phát minh. Ông là người đầu tiên chụp ảnh động trên giấy bằng phim và một máy ảnh có ống kính đơn. Ông được mọi người biết đến với biệt danh “cha đẻ của điện ảnh”.

Vào tháng 9 năm 1890, Le Prince đã tới Vương quốc Anh để cấp bằng sáng chế máy ảnh mới của mình. Sau đó là một chuyến đi đến Mỹ để quảng bá máy ảnh. Ông quyết định đi thăm bạn bè và gia đình. Ông lên tàu đi Paris vào ngày 16 tháng 9 nhưng khi tàu đến, ông không ở trên tàu. Không có hành lý hay xác chết nào từng được tìm thấy và không ai nhận thấy bất kỳ hành vi kỳ lạ nào trên chuyến bay Dijon-Paris. Các cuộc tìm kiếm triệt để đã được thực hiện nhưng họ vẫn không thể tìm thấy ông.

Xuân Mai chuyển tiếp

NHỮNG MÓN ĂN

“SỚM NỞ CHÓNG TÀN”

Ở SÀI GÒN

Câu nói: “Sài Gòn ăn theo trào lưu” quả đúng là không sai, bởi những món ăn nổi tiếng một thời lại nhanh chóng bị “khai tử” chỉ trong chớp mắt.

Những trào lưu ăn uống “hot” nhờ mạng xã hội. Chưa cần biết món ăn đó như thế nào, nhưng bỗng một ngày khắp facebook, người người nói về món ăn đó, nhà nhà đăng ảnh món ăn đó lên trang cá nhân, thế là nhiều người trẻ lập tức lùng sục địa điểm, “lập team” đi ăn món mới. Sau khi đến địa điểm ăn vặt đó, họ lại tiếp tục chụp hình rồi đăng lên trang cá nhân facebook. Cứ như thế, nhiều món ăn vặt đột nhiên nở rộ, được săn đón nhiệt tình.

Thế nhưng, vì chỉ là trào lưu nên những món ăn nổi tiếng này cũng không tồn tại được lâu và cũng dần biến mất khi giới trẻ không còn ưa chuộng. Hãy cùng điểm qua những món ăn “sớm nở chóng tàn” đã từng khuấy đảo giới trẻ Sài Gòn nhé !

1/.- Xoài lắc và “tùm lum lắc” : Đầu năm ngoái, những món ăn họ nhà “lắc” đã từng “làm mưa làm gió” khuấy đảo thị trường. Con đường Đặng Văn Ngữ và khu vực bờ kè đường Trường Sa (phường 14, quận Phú Nhuận) luôn chật kín người mua xoài lắc. Cứ thấy xe xoài lắc của anh chủ Hải (cha đẻ món xoài lắc) vừa tới con hẻm trên đường này thì hàng chục người vây kín để mua xoài.

Rồi món ăn này lan rộng ra khắp Sài Gòn, từ quận 1 đến Bình Chánh, Bình Tân, đâu đâu người ta cũng bán xoài lắc. Vì dễ làm nên xoài lắc được bày bán ở khắp đường phố Sài Gòn, nhưng cũng vì số lượng người kinh doanh món ăn này quá nhiều, lại trong thời gian dần “bão hòa” nên số lượng khách mua ít dần.

Chưa dừng lại, họ nhà “lắc” lại tiếp tục “đẻ” thêm cóc lắc, khoai tây lắc. Tuy nhiên món “lắc” bây giờ đã không còn được quan tâm nữa. Cho đến hiện tại số lượng xoài bán ra mỗi ngày cũng chỉ xoàng, có khi thấp hơn thời điểm lúc trước, thậm chí thời gian bán phải kéo dài hơn nhiều so với lúc còn “hot”.

2/- Bánh mì nướng muối ớt : Sau xoài lắc không lâu, chính là “cơn sốt” ăn vặt bánh mì nướng muối ớt. Món ăn có nguồn gốc từ An Giang này du nhập vào Sài Gòn từ giữa năm 2016 và bất ngờ nổi lên thành món ăn vặt đường phố “hot” một thời của giới trẻ Sài Gòn.

Bánh mì nướng muối ớt hầu như có mặt khắp mọi ở các quận huyện của thành phố. Lúc ấy, ngoài địa điểm bán nhiều nhất ở đường Lê Quang Sung (quận 6) thì hầu như ở các quận huyện khác trong thành phố đã bắt đầu bày bán bánh mì nướng muối ớt. Thậm chí có con đường chỉ cách vài chục mét đã có quầy bán bánh mì kiểu này như đường Phan Văn Trị, Phạm Văn Đồng (quận Bình Thạnh), Lê Văn Thọ (quận Gò Vấp)…

Sở dĩ bánh mì nướng muối ớt trở thành trào lưu lúc đó là món này “lạ” và có những biến tấu để hợp khẩu vị của người Sài Gòn. Khi “đổ bộ” đến Sài Gòn, bánh mì nướng với muối ớt sau đó được thêm các gia vị làm cho bánh vừa ngọt, vừa mặn rất hấp dẫn. Lúc ấy, đi đến đâu cũng thấy bán bánh mì nướng muối ớt, không những người lớn tuổi mà còn có các bạn trẻ cũng mở bán món ăn đang “hot” này”.

Đã là trào lưu thì sẽ có lúc phải thoái trào, dù có một bước khởi đầu vô cùng hành tráng tại Sài Gòn nhưng do không chịu đổi mới về hình thức lẫn chất lượng, cũng như sở thích ăn uống “sớm nắng chiều mưa” của giới trẻ nên món bánh mì nướng muối ớt cũng phải cùng chung số phận “thất sủng” với món xoài lắc.

3/- Mì cay 7 cấp độ : Có thể nói năm 2016 chính là một năm bội thu của những trào lưu ăn vặt của giới trẻ Sài Gòn. Mì cay 7 cấp độ cũng không ngoại lệ, thậm chí khi mới “hot”, món này đã tạo thành một trào lưu “check-in” khiến giới trẻ “thích mê” trên mạng xã hội.

Khi mới du nhập vào Việt Nam, mì cay 7 cấp độ ngay lập tức trở thành cơn sốt trong giới trẻ nhờ công thức lạ vào thời điểm đó: món ăn mới + thử thách. Hàng loạt quán mì với những thương hiệu ăn theo kiểu Hàn Quốc nhanh chóng mọc lên, như Sasin, Naga, Seoul… ở mọi ngóc ngách Sài Gòn, đặc biệt chiếm cứ những điểm bán gần trường đại học và khu vui chơi lớn.

Nhưng không tồn tại được nhiều mùa như trà sữa hay pho-mai que, mì cay 7 cấp độ thoái trào quá nhanh khiến không ít nhà đầu tư lỗ nặng vì lỡ bỏ tiền mở hệ thống lớn. Chất lượng không tương xứng, món ăn thiếu đặc trưng… là những điểm yếu chí mạng của trào lưu này.

Mặc dù dễ làm và buôn bán có lời như vậy nhưng nghề kinh doanh theo phong trào nhất thời này chỉ để kiếm lời trong thời gian ngắn chứ không thể lâu dài được. Bên cạnh đó, một cách giải thích khác cho sự thoái trào của các trào lưu này là do tâm lý giới trẻ thường thích cái mới, muốn trải nghiệm thử một lần nên việc hành động theo đám đông là điều dễ hiểu, và một khi có một món ăn khác hấp dẫn, mới lạ hơn tất nhiên những món cũ đành phải “nhường ghế” cho những món mới hấp dẫn hơn lên ngôi.

Mặc dù biết những dạng trào lưu này chỉ là hiệu ứng đám đông đa phần đến từ mạng xã hội nhưng cũng là sự phản ánh gu ẩm thực đa dạng của đa phần giới trẻ Sài Gòn nói riêng và họ cũng đang hứng thú chờ đợi món ăn “lên ngôi” kế tiếp là gì.

Lan Hương chuyển tiếp