THẾ GIỚI QUANH TA (14)

SUÝT NGẤT VỚI MUÔN KIỂU

ÔN BÀI CỦA SĨ TỬ MÙA THI

Có lẽ, sự nghiệp học hành chưa bao giờ gian nan đến thế mỗi khi mùa thi về. Tùy theo khả năng hấp thu “vitamin kiến thức” mà mỗi đứa sẽ chọn một kiểu “nạp bài” khác nhau. Vậy các sĩ tử sẽ chọn sắc thái ôn thi nào dưới đây để “vượt vũ môn” an toàn toàn nhất ?

H1: Khi kì thi bắt đầu đúng vào mùa nước lũ thì có lội nước cũng phải… học.  H2: Học, học nữa, học mãi, học mọi lúc, mọi nơi.  H3: Một trong những phương pháp hệ thống lại kiến thức.

H4: Nỗi lòng sinh viên ở trọ ôn thi mùa nắng nóng.  H5: Đậu thì cùng đậu mà rớt thì cùng rớt ha.  H6: Thanh niên cứng của năm, chưa học bài đủ là chưa ngủ, chưa đi chơi.  H7: Nét đẹp ôn thi của sĩ tử xứ sở nông nghiệp.

H8: Lớp học phút chốc trở thành bệnh viện, vừa học vừa… truyền nước.  H9: Trẻ không học già hối hận. H10: Không phải ai cũng có quyết tâm cao như cô gái ấy.  H11: Gió mưa là chuyện của trời, ôn thi là chuyện cả đời sinh viên !

H12: Sĩ tử trước và sau mùa thi.  H13: Làm thế nào để ngồi học được như vậy nhỉ ?  H14: Sau động đất, nhà sập thì dựng lều ôn thi.  H15: Nếu không muốn bị hói đầu sau mùa thi thì đừng dại… ngủ gật.  (theo Hồng Vi –  the gioi tre)

MANDALAY,

NƠI… ĐỨC PHẬT

ĐẶT CHÂN ĐẾN

Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Miến Điện ra đời vào thế kỷ 19 (năm 1857) với Mandalay Hill là ngọn đồi cao nhất thành phố. Theo truyền thuyết Miến Điện, người ta tin rằng Đức Phật đã có lần đặt chân đến ngọn đồi thiêng này.

Có thể vì vậy, một vị vua Miến Điện vào giữa thế kỷ 19 muốn xây dựng một kinh thành mới ngay dưới chân ngọn đồi Mandalay Hill để kỷ niệm 2,400 năm đạo Phật hiện diện trên thế gian. Đó là vua Mindon Min, người mang tham vọng biến khu vực này thành một “kinh đô Phật Giáo của Burma.” Vì thế, Mandalay bỗng dưng trở thành vừa là kinh đô vương triều Burma, vừa là một trung tâm văn hóa Phật Giáo lớn nhất của Miến Điện trong thế kỷ 19-20.

Những ai đã có dịp viếng thăm Miến Điện đều nhận thấy rằng đây là xứ sở của Phật Giáo Tiểu Thừa hết sức phong phú và được xem như là quốc giáo. Đâu đâu người ta cũng thấy các bảo tháp Phật Giáo được xây cất khắp mọi nơi, trên những ngọn đồi nhỏ, trên các đỉnh núi cao, ở các vùng sông hồ và biển. Có lẽ người dân Miến Điện tin vào công đức cúng dường Tam Bảo mỗi khi họ hoàn thành được một ngôi bảo tháp trong kiếp sống hiện tại.

Mindon Min lên ngôi vua lúc ông đã 45 tuổi, ông trị vì Miến Điện trong suốt 25 năm từ năm 1858 đến 1883. Ông là một nhà vua có đời sống hoàng gia rất sung túc, ông có đến bốn hoàng hậu và bốn mươi chín thứ phi. Về con cái, ông có bốn mươi hoàng tử và hơn sáu mươi công chúa. Nhưng đặc biệt, vua Mindon rất tôn sùng đạo Phật. Ông là người có công rất lớn khi biến thành phố Mandalay thành “một trang kinh” khổng lồ trong cuốn kinh điển Phật Giáo Miến Điện vĩ đại.

Cũng giống như tất cả những thành phố khác trong xứ Miến, trong mọi ngõ ngách thành phố Mandalay đâu đâu cũng là chùa, là bảo tháp. Nhưng nổi bật nhất là ở Madalay Hill và Sagaing Hill, đây là hai ngọn đồi rất đẹp với vô số những bảo tháp tường trắng, đỉnh tháp vàng nhọn in trên nền rừng xanh lá với ánh nắng chói chan của mùa hè hoặc màu mây trắng xám của mùa mưa.

Chung quanh thành phố, các di tích lịch sử như các bảo tháp Kuthodaw và Mahamuni Pagoda, tu viện Golden Palace Monastery, hay cung điện Mandalay Palace cộng thêm những con phố điêu khắc tượng Phật đã biến Mandalay thành “một trang kinh khổng lồ” trong cuốn sách kinh điển của Phật Giáo Miến Điện. Các di tích này như là những “chữ biếc” tuyệt vời nằm giữa “trang kinh thơm Mandalay.”

Mỗi một di tích vừa là một nghệ thuật kiến trúc, vừa là một di tích văn hóa lịch sử Phật Giáo được vua Mindon đích thân sáng tác chăm lo. Có đến Mandalay dừng chân thưởng ngoạn di tích Kuthodaw Pagoda, lữ khách mới thấy được nét đẹp “chữ biếc giữa trang kinh Mandalay” thấm đậm dần vào tâm tư sâu lắng của mình.

Kuthodaw Pagoda ở chân đồi Mandalay Hill là một ngôi chùa bảo tháp Phật Giáo được vua Mindon Min cho xây dựng cùng một lúc với thành phố Mandalay năm 1857. Bảo tháp Kuthodaw cao 57 mét và dưới chân bảo tháp có 729 bia đá vây quanh, mỗi bia đá được đục khắc các trang kinh của bộ kinh Phật Giáo Tiểu Thừa. Một mặt bia được khắc bằng ngôn ngữ Miến Điện, một mặt khác của bia được khắc bằng chữ Phạn. Đây là những “thạch bia kinh/ kinh điển khắc trên bia đá” lớn nhất thế giới.

Bộ kinh này có tất cả 729 trang kinh, nghĩa là có 729 bia kinh được dựng lên và mỗi bia kinh đều được đặt trong một “đình nhỏ” che chở nhằm bảo tồn với khí hậu mưa nắng của thế gian. Đình nhỏ này có bốn cửa ra vào bốn bên để bất cứ ai cũng có thể ra vào đọc những dòng kinh khắc viết trên bia đá. Tuy nhiên, ngày nay người ta đã cho làm các song cửa sắt, giảm bớt sự ra vào của tín đồ.

Thâm ý của vua Mindon Min muốn kéo dài thời gian hiện hữu của kinh điển Phật Giáo Miến Điện cho hậu thế. Cũng có thể nhà vua không muốn tạo lòng tham cho những người phương Bắc (Trung Hoa) thường hay đến đánh chiếm hay phá hủy đi kinh điển Phật Giáo của xứ sở ông như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Sự mộ đạo của nhà vua đã khiến ông tạo ra một số công trình cho Phật Giáo Miến Điện vào giữa thế kỷ 19. Công trình “Thạch Bia Kinh” to lớn này phải mất đến tám năm mới hoàn thành và đã làm kinh ngạc mọi người. Năm 1993, UNESCO chọn Kuthodaw Pagoda là một di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ.

Năm 1871, vua Mindon Min là người đã tổ chức triệu tập hội nghị Phật Giáo Tiểu Thừa Miến Điện lần thứ năm tại Mandalay. Cũng trong năm này, nhà vua còn “cúng dường Phật pháp” bằng cách cho trùng tu lại Đại Kim Tháp (Shwedagon Pagoda) tại Yangon thành một bảo tháp mới, có mạ vàng và nạm thêm đá quý kim cương trên đỉnh và Đại Kim Tháp này cao gần 105 mét.

Nhà vua mất năm 1878, thọ 70 tuổi.Ông là một nhà vua vào cuối thế kỷ 19 và được người dân Miến Điện kính trọng. Người con lên kế vị là vua Thibaw. Tuy nhiên, vua Thibaw là một vị vua tầm thường đã để đế quốc Anh thôn tính Miến Điện vào năm 1885. Chế độ vương triều Miến Điện cáo chung từ đó.

Trong tác phẩm “Con Đường Mây Trắng” do nhà văn Nguyễn Tường Bách biên dịch của tác giả Anagarika Govinda có một chương nói về sự tái sinh “U Khanti: Nhà Tiên Tri Trên Núi Mandalay,” câu chuyện nói về một nhân vật ẩn tu tạm gọi là (Mr.) U Khanti.

Sau khi đế quốc Anh chiếm đóng Miến Điện, khu vực Mandalay Hill bị bỏ hoang phế, không còn con người lui tới vì giặc giã cướp bóc đầy dẫy nơi đây.

Nhưng, bỗng một ngày người ta thấy có một người lạ mặt không ngại sự hiểm nguy cướp bóc, ông đã đến ẩn tu tại đây và bỏ hết công lao tâm sức trùng tu lại công trình Kuthodaw Pagoda của vua Mindon Min lúc đó đã bị hư hại xuống cấp trầm trọng. Người ẩn tu U Khanti đã thành công trong việc bảo tồn kho tàng “729 trang bia đá kinh” của Kuthodaw Pagoda.

Người ta cho rằng ông chính là “người tái sinh” của vua Mindon Min, nhà vua trở lại thế gian để hoàn tất công trình mà kiếp trước ông vẫn chưa hoàn tất. Câu chuyện quả thực hết sức linh động trong đời sống tâm thức dành cho những ai tin vào kiếp sống luân hồi.

Những người như nhà ẩn tu U Khanti, không biết còn được bao nhiêu người ở thế kỷ 21 này. Viếng thăm các ngôi đền chùa ở Miến Điện nói chung, nhìn các Phật tử thành tâm tụng kinh lễ Phật trong sự trang nghiêm làm tôi chợt nhớ đến một thánh địa Phật Giáo bên xứ Ấn. (theo Trần Nguyên Thắng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NHỮNG PHÁT MINH CỦA NGƯỜI ÚC

LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Úc là quốc gia rất nổi tiếng với tính sáng tạo và có những phát minh tác động mạnh mẽ đến thế giới. Dưới đây là những phát minh của nước Úc giúp toàn thế giới tiến bộ.

1/. Hộp đen máy bay : Vào năm 1961, Dave Warren đã tạo nên các hộp đen ghi lại hành trình, tiếng nói từ buồng lái, dữ liệu máy bay. Những chiếc hộp này được thiết kế để phát lại những khoảnh khắc cuối cùng trước khi máy bay gặp nạn, tiết lộ những điều bí ẩn. Ngày nay, ở mỗi chiếc máy bay thì hộp đen được gắn ở mặt sau máy bay để giảm nguy cơ hư hỏng sau vụ tai nạn. 2/. Google Maps : Từ năm 2003 – 2004, anh em Lars và Jens Rasmussen đã phát triển nền tảng cho Google Maps.

3/. Tiền giấy Polymer : Tiền giấy nhựa đã được phát triển trong nỗ lực kết hợp của Ngân hàng Dự trữ Úc và CSIRO. Chất liệu polymer rất bền và chống làm giả. Những đồng tiền đầu tiên từ chất liệu này được lưu hành lần đầu tiên tại Úc vào năm 1988.

4/. Máy khoan điện : Kỹ sư điện người Úc Arthur James Arnot đã được cáp bằng sáng chế cho chiếc máy khoan đầu tiên trên thế giới vào năm 1889. Phát minh ban đầu được thiết kế để khoan đá và đào than. 5/. Bè và bơm hơi thoát hiểm : Jack Grant của Qantas đã phát minh ra bơm hơi thoát hiểm trên máy bay, mà bây giờ là thiết bị an toàn bắt buộc trên tất cả hàng không lớn. Các slide có thể được sử dụng như thiết bị tuyển nổi nếu máy bay hạ cánh trên mặt nước.

6/. Ống kính Frazier : Năm 1993, ống kính tập trung sâu của Jim Frazier đã được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ. Với chiếc ống kính này cho phép và chủ thể và bối cảnh được focus cùng lúc. Nó cũng có khả năng xoay mà không cần đến sự chuyển động của máy ảnh.

Hiện nay, các ống kính rất thông dụng trong các bộ phim và phim điện ảnh trên khắp thế giới. Jim đã chiến thắng giải Oscar năm 1998 cho những đóng góp của mình.

7/. Camera hành trình : Năm 1997, Channel 7 đã phát sóng chương trình truyền hình trực tiếp từ những chiếc xe đua, cho phép người xem xem cuộc đua từ góc nhìn của người lái xe. Hôm nay, các camera hành trình đã được điều chỉnh để phù hợp với các sự kiện thể thao như trượt tuyết, bóng rổ, cricket. 8/. Tủ lạnh : Năm 1856, James Harrison là người đầu tiên chế tạo một chiếc máy làm đá cục và một tủ lạnh dùng hệ thống hơi nén. Tuy nhiên, chiếc tủ lạnh đầu tiên mà James chế tạo ra lớn hơn tủ lạnh bây giờ rất nhiều. (Minh Tâm theo Australian geographic)

Lan Hương chuyển tiếp

CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

CÓ MÁI TÓC DÀI NHẤT VIỆT NAM

Với mái tóc dài 2.4m, người phụ nữ với biệt hiệu ”Lan tóc dài” (quê Thái Bình) tiết lộ, vì mái tóc của chị mà cả gia đình phải ngủ ngược giường, để mái tóc dài không ảnh hưởng đến giấc ngủ của chồng, con.

Chị Hoàng Thị Lan (TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình) Tổ chức Kỷ lục Guinness Việt Nam trao xác lập là người phụ nữ có mái tóc dài và thẳng nhất Việt Nam vào ngày 27/10/2012.

Theo lời chị Lan chia sẻ với báo chí, chị đã không cắt tóc kể từ 20 năm trước. Bí quyết của chị Lan để giữ mái tóc lúc nào cũng đen, mượt và thẳng, đó là suốt bao nhiêu năm nay, chị không sử dụng dầu gội bên ngoài mà chỉ dùng lá cây như lá chanh, lá bưởi, sả… để gội dầu. Nó làm cho mái tóc của chị chắc khỏe, đen mượt và thơm tự nhiên.

Chị tâm sự, khoảng 3, 4 ngày chị gội đầu một lần, mỗi lần gội cũng phải mất hàng tiếng đồng hồ. Tuy nuôi tóc dài tiêu tốn lượng nước lớn và các loại lá, dầu gội nhưng đổi lại chị thấy vui vì mỗi khi ra đường đều có người ngoái nhìn.

Phương Lan cho biết, vất vả lớn nhất của chị là những khi sấy tóc bằng quạt máy. Chị không dùng máy sấy vì sức nóng máy sấy dễ làm xơ tóc. Mỗi lần sấy tóc bằng quạt chị phải tốn khoảng vài chục phút. Cách sấy cũng cầu kỳ, phải sấy lần lượt từ ngọn tóc đến chân, từ trong đến ngoài nên mái tóc bồng bềnh như một dải lụa.

Mùa hè còn đỡ chứ mùa đông là nỗi cực khổ vô cùng đối với chị khi cái lạnh buốt thấu xương của mùa đông Bắc bộ đổ về mà vẫn phải bật quạt để làm khô tóc. Những người đã biết chị thì gọi chị là “Lan tóc dài”, người không biết lại hỏi có phải chị người Nhật Bản, Trung Quốc hay người dân tộc Thái (Việt Nam) hay không.

Nhiều người tấm tắc khen mái tóc của chị, có người hỏi chị nuôi tóc vậy có vất vả hay không ? chị Lan thật thà tâm sự, chị thấy rất bình thường, chỉ vất vả khi đội mũ bảo hiểm và khi đi ngủ.

Khi đội mũ bảo hiểm hơi khó vì búi tóc quá cao và to, lúc gội đầu phải gỡ bằng tay, nếu dùng lược tóc sẽ gẫy hết nhưng sau nhiều năm, chị Lan cảm thấy những điều khó chịu đó lại rất bình thường. Chị cho rằng, nuôi tóc dài rất gọn gàng vì tóc búi suốt ngày và không mất tiền gội, sấy, nhuộm tóc như những chị em khác.

Chị Lan cũng cho biết thêm, vì mái tóc của chị mà cả gia đình chị phải ngủ ngược giường. Khi đó tóc chị xõa xuống nền nhà, không ảnh hưởng đến giấc ngủ của chồng, con.

Chị bảo, có được mái tóc này là nhờ công chồng chị rất nhiều. Bởi cũng có lúc cảm thấy vướng bận, chị đã tính cắt phăng cho gọn. Nhưng ý nghĩ mới chợt lóe lên đã bị chồng chị phản đối kịch liệt. Chồng chị nói, anh ấy yêu chị vì mái tóc này đây.

Nếu chị cắt tóc đi đồng nghĩa với việc cắt cả tình yêu của chồng dành cho mình suốt bao năm nay. Nói như vậy để thấy rằng, Phương Lan đã nhận được sự ủng hộ hết mình từ phía những người thân yêu nhất của mình.

Hiện tại, thỉnh thoảng chị cắt, tỉa một chút ở phần ngọn cho tóc đỡ mọc dài ra vì chị chỉ muốn để tóc dài như vậy chứ không muốn dài thêm nữa.

Trong khi lớp trẻ ngày nay đang mải miết chạy theo những trào lưu thời thượng, du nhập từ bên ngoài vào thì mái tóc dài của chị Phương Lan là một biểu tượng đẹp duyên dáng về phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Một mái tóc dài tự nhiên, đen bóng, mượt mà thuần túy, mang đậm phẩm chất hiền hậu, thướt tha mà chỉ người phụ nữ Á Đông mới có.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CÒN ĐÂU, MỘT THỜI

XÍCH LÔ MÁY SÀI GÒN

– Trần Tiến Dũng

Một người bạn nay đã ở tuổi trung niên kể : “Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham Taxi, không ham xe bus… mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích lô máy. Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô tô, tiếng pô xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Một người bạn già khác lại nói : “Tài tình nhất là cảnh xe xích lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể. “Trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích lô máy có chút mạo hiểm. Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.” Ở góc độ ký ức đô thị hẳn nhiều người không bao giờ quên hình ảnh xe xích lô máy.

Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc chở khách tỉnh lên Sài Gòn tấp vào tiệm nước làm ly cà phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu. Cảnh phố khuya thanh vắng tiếng xe xích lô máy vang lên.

Một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính nào đó say mèm đang trên đường với xe xích lô máy. Tiếng xe xích lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chúng cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích lô máy túc trực; người ta cũng không quên rằng những bác tài xích lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Theo tìm hiểu thì xích lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Chiếc xích lô máy ngày xưa với nhiều màu sơn sặc sỡ, xe có thể chở với trọng lượng vài trăm ký lô là bình thường. Người chạy xe xích lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích lô đạp, bởi vì sở hữu được một chiếc xe xích lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá.

hành ra bác tài chạy xe xích lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. Ngày xưa xe xích lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu… có những hãng chuyên cho thuê xe xích lô máy.

Ngày nay với chủ trương cấm lưu thông xe cũ nhằm tạo điều kiện để đưa một loại xấu xí nhất thế giới là xe ba-gác Trung Quốc vào chiếm lĩnh thị trường, thì xe xích lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá.

Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự. “Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích lô máy còn zin là được. Cha ơi ! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết !”

Tất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước bị đảo lộn bị đánh tráo dưới chế độ hiện nay; thôi thì níu kéo làm cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích lô máy.

Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm. (theo Trần Tiến Dũng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: