CHUYỆN BÂY GIO MỚI KỂ (11)

LÝ DO VÌ SAO HỌ NGUYỄN

CHIẾM 40% DÂN SỐ NƯỚC VIỆT

Gần một nửa người Việt mang họ Nguyễn ?

Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt. Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này ?

Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc.

Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần : Họ – tên đệm – tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi).

Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất và đông nhất ở Việt Nam ? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.

Thời cổ đại 

Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy, Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam. Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ Nguyễn.

Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản địa ở Việt Nam.

Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý (1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm.

Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới tên họ của người Việt.

Đó là việc gì ? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành họ Nguyễn.

Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên.

Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như sau : “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”. 

Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn.

Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.

Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc.

Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng. Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Thời cận đại  

Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các  vương tôn quý tộc mới có họ.

Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất trên khắp Việt Nam. Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức lớn, đó là : Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên không có cách nào để thống kê tổng kết.

Vào lúc này phải làm như thế nào ? Người Pháp liền nghĩ ra một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.

Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không thể không kể tới tác động của người Pháp. Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này. (theo Kiên Định) 

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Đọc thêm :

TRẦN THỦ ĐỘ

NGƯỜI KHÔNG BIẾT CHỮ,

NHƯNG BIẾT CÁCH

DỰNG LÊN

CẢ MỘT VƯƠNG TRIỀU

Ngoài những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt còn là một triều đại có những thành tựu văn hóa rực rỡ. Các hoàng đế nhà Trần, từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều là những triết gia, những thi sỹ đứng ở đỉnh cao của văn hóa Đại Việt giai đoạn trung đại. Thế nhưng, một thực tế không sao phủ nhận được là những ông vua bề bề chữ nghĩa ấy đều phải sâu sắc chịu ơn của Trần Thủ Độ – một người vốn không biết chữ. Không biết chữ, nhưng biết cách dựng lên một vương triều.

Sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, ở phần nói về các sự kiện xảy ra dưới triều vua Lý Huệ Tông, có chép : “Giáp Thân, năm thứ 14 (1224). Dùng em họ của Hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ… Thủ Độ quản lĩnh điện tiền chư quân hộ vệ cấm đình, xét xử tất cả mọi việc” (Tập I, tr 418).

Sự bổ nhiệm này, có thể nói, chính là yếu tố chuẩn bị cực kỳ quan trọng cho việc nhà Trần soán lấy thiên hạ của nhà Lý. Trò đùa (hoặc sự báo ứng) của lịch sử chăng ?

Ta nhớ lại rằng trước đó hơn hai trăm năm (năm 1009), sau khi Lê đế Long Đĩnh băng hà, Lý Công Uẩn đã được bách quan tôn làm thiên tử. Giang sơn đã từ tay nhà Tiền Lê về tay nhà Lý. Chức quan của Lý Công Uẩn khi ấy cũng là Điện tiền chỉ huy sứ, nắm quyền thống lĩnh toàn bộ quân cấm vệ. Chỉ có một khác biệt giữa hai người: Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn trở thành vị hoàng đế khai mở vương triều Lý, còn Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ thì trở thành một đại công thần, người khởi dựng và đã dùng trọn đời mình để bảo vệ sự tồn tại của vương triều Trần.

Hãy thử xem lại một lần cái tấn kịch lịch sử của sự chuyển giao vương quyền từ họ Lý sang họ Trần: “Trần Cảnh lên 8 tuổi, đến phiên vào hầu. Chiêu Hoàng thấy Cảnh, đem lòng yêu thích, thường vời vào hầu, nô nghịch cười đùa. Trần Cảnh đem việc đó mách bảo Thủ Độ. Thủ Độ nói : “Nếu quả vậy thì họ ta sẽ là họ nhà vua hay là cả họ sẽ bị giết sạch ?”.

Một hôm Chiêu Hoàng lại lấy cái khăn trầu ném cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lạy, nhận lấy, rồi mách với Thủ Độ. Thủ Độ liền đem gia thuộc và họ hàng vào trong cung cấm, sai đóng các cửa thành lại. Trăm quan tiến triều không vào được. Thủ Độ nhân thế loan báo cho mọi người: “Bệ hạ có chồng rồi !” Các quan đều vâng lời và xin chọn ngày vào chầu để làm lễ yết kiến. Ngày 21 tháng 12, bầy tôi tiến triều, lạy mừng. Nhà vua xuống chiếu truyền ngôi cho Trần Cảnh” (Sđd, tr 420).

Không hồ nghi gì nữa, tham vọng soán ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ là một sự thật hiển nhiên. Bởi thế ông mới có động lực để ngang nhiên “phiên dịch” những hành vi đùa nghịch vô tư của đám trẻ con vương giả theo lối giải nghĩa biểu tượng : Chiêu Hoàng ném khăn trầu – khăn đựng các đồ ăn trầu, cau, vỏ, ống vôi – cho Trần Cảnh, tức là muốn… làm dâu họ Trần ! Tuy vậy, ở đây cũng phải thấy óc phán đoán nhanh nhạy và sự chủ động trong xử lý tình huống của Trần Thủ Độ.

Buổi mạt vận của nhà Lý, đỉnh điểm cho sự hợp thức hóa việc “sang tên” vương quyền là tờ chiếu truyền ngôi, có đoạn : “Trẫm xét thấy ngôi báu rất là trọng đại mà trẫm là vua đàn bà, phải gánh vác lịch số do trời giao cho, riêng những nơm nớp lo sợ, như sắp sa xuống vực sâu. Nghĩ sao tìm được hiền nhân quân tử để giúp đỡ về chính trị. Duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, uy nghi đường hoàng, thực có phong độ bậc quân tử, có thể nhường cho ngôi báu để chống đỡ trong buổi gian nguy. Vậy rất mong Trần Cảnh đồng lòng hợp sức, dẹp yên loạn lạc, cứu vớt sinh dân để cùng hưởng phúc thái bình” (Sđd, tr 421).

Có thể tin được đây là lời của một bé gái bảy tuổi nói về một bé trai tám tuổi chăng ?

Trần Thủ Độ dù ít học, độc ác nhưng hết lòng với nhà Trần. Muốn trừ hết con cháu nhà Lý, Trần Thủ Độ sai đào hầm ở dưới, đặt phên nứa lên trên, rồi bắt con cháu nhà Lý vào làm lễ vua Lý. Phên nứa sụt, mọi người rớt xuống hố. Trần Thủ Độ cho đổ đất lên chôn sống tất cả.

Vương quyền đã về tay, nhưng nhà Trần liệu có thể yên tâm kê cao gối mà ngủ ? Trong bối cảnh những ngày đầu của triều đình nhà Trần, vai trò người hộ giá mẫn cán mà Trần Thủ Độ gánh lấy là cực kỳ quan trọng. “Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ sâu” – triết lý hành động sặc mùi chuyên chế như vậy, Trần Thủ Độ lần lượt bức tử Lý Huệ Tông (năm 1226, lúc này cựu hoàng nhà Lý chỉ là một ông sư ở chùa Chân Giáo), rồi lập kế chôn sống toàn bộ tôn thất nhà Lý (năm 1232).

Trong con mắt hậu nhân, đây chính là vết đen rất khó tẩy rửa trên chân dung của Trần Thủ Độ. Dực Tôn hoàng đế Tự Đức, ông vua nổi tiếng nghiêm khắc của nhà Nguyễn hạ bút : “Thủ Độ là công thần nhà Trần, tức là tội nhân nhà Lý. Huống chi làm những nết xấu như chó lợn (câu này chỉ việc Trần Thủ Độ lấy vợ của Lý Huệ Tông, cũng tức là chị họ của ông) dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được?” (Sđd, tr 426).

Tuy vậy, thử đặt câu hỏi : “Ở buổi đầu của triều Trần, nếu Trần Thủ Độ không xuống tay trước, liệu tôn thất nhà Lý và các thế lực phò Lý có chịu ngoan ngoãn thúc thủ sau khi đã bị tước đoạt quyền lực một cách tức tưởi?”, ta sẽ có đầy đủ lý do để biện hộ cho hành động tận diệt Lý gia của Trần Thủ Độ.

Có nhiều người phàn nàn là Trần Thủ Độ quyền hành quá lớn, dễ lấn át vua Trần. Được tin này, Trần Thủ Độ đã không giận dữ, mà còn bảo : “Họ nói đúng. Có điều là họ chưa hiểu lòng ta !” Rồi từ đó Trần Thủ Độ giữ gìn ý tứ, theo đúng đạo vua tôi để mọi người yên lòng.

Thái độ, cung cách ứng xử của Trần Thủ Độ với vua Trần cũng là điều rất đáng nói. Với sức mạnh và uy thế mà Trần Thủ Độ thực có, ta có quyền hình dung một kịch bản: sau khi đã cướp ngôi nhà Lý về cho nhà Trần, vua còn nhỏ, Trần Thủ Độ sẽ giữ quyền nhiếp chính, chờ một cơ hội thuận tiện, một lý do khả dĩ là lập tức tự đưa mình lên ngôi đế. Quá nhiều tiền lệ lịch sử để ta tin vào khả năng kịch bản đó xảy ra. Thế nhưng, Trần Thủ Độ không hành xử theo lối như vậy. Với vua Trần, ông là một bề tôi tuyệt đối trung thành.

Khi Trần Liễu, anh trai của Trần Cảnh (Trần Thái Tông) nổi loạn không thành, lẻn lên thuyền em để xin hàng, thì : “Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền nhà vua, tuốt gươm lên quát rằng : “Giết thằng giặc là Liễu”. Nhà vua thấy thế vội vàng đẩy Trần Liễu ẩn vào trong thuyền rồi bảo Thủ Độ rằng ; “Phụng Kiền vương đến xin đầu hàng đấy”. Miệng nói nhưng lấy mình che đỡ cho Trần Liễu. Thủ Độ giận lắm, vất gươm xuống sông nói rằng : “Tao thật là con chó săn, biết đâu anh em mày hòa thuận với nhau hay trái ý nhau” (Sđd, tr 437).

Trước tình thế hiểm nghèo khi giặc Nguyên Mông đến xâm lược nước ta. Vua đi hỏi Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ tâu : “Đầu tôi chưa rớt xuống đất, thì xin Bệ hạ chớ lo !” Thấy Trần Thủ Độ nói cứng như vậy, Trần Thái Tông mới quyết tâm đánh giặc.

Có thể nói, đây là đoạn văn phản ánh rất sinh động về con người và tính cách của Trần Thủ Độ : lòng trung thành và sự bộc trực. Ông tôn Trần Cảnh lên ngôi vua, ông quyết liệt bảo vệ cho sự tồn tại của ngôi vua ấy. Mọi thế lực đe dọa nó, cho dẫu đó là anh em cùng máu mủ ruột rà, với ông đều là “giặc” và đều cần phải “giết”. Tuy vậy trong trường hợp này Trần Thủ Độ không tính đến sức mạnh thiêng liêng và sự bền chặt của những quan hệ huyết thống. Hành động “vất gươm xuống sông”, rồi câu nói có cả giận lẫn dỗi ngay sau đó vừa thể hiện sự “ngớ ra” vừa cho thấy cái bộc trực đến mức cục mịch của ông Quốc thượng phụ (mù chữ) quyền hét ra lửa !

Triều Trần, ngoài những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt còn là một triều đại có những thành tựu văn hóa rực rỡ. Các hoàng đế nhà Trần, từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều là những triết gia, những thi sỹ đứng ở đỉnh cao của văn hóa Đại Việt giai đoạn trung đại. Thế nhưng, một thực tế không sao phủ nhận được là những ông vua bề bề chữ nghĩa ấy đều phải sâu sắc chịu ơn của Trần Thủ Độ – một người vốn không biết chữ. Không biết chữ, nhưng biết cách dựng lên một vương triều.

Lan Hương chuyển tiếp

THIÊN TÌNH SỬ VĨ ĐẠI VÀ ĐẪM LỆ

ROMEO & JULIET

CÂU CHUYỆN CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ

Hàng ngày, tôi đều đến ngồi trong một góc hội trường mà nghe Romeo và Juliet, chìm đắm trong thứ âm nhạc đầy đam mê và lay động lạ kỳ ấy. Nó mở ra cho tôi một chân trời mời đầu màu sắc của âm nhạc vĩ đại…

Có thể nói, một trong những tác phẩm nghệ thuật gây nên sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất cho mọi thời đại chính là vở kịch Romeo & Juliet của William Shakespeare. Có đến hàng trăm tác phẩm phim, nhạc, ballet… được lấy cảm hứng từ hay xây dựng trọn vẹn nguyên gốc câu chuyện tình bị kịch này…

Thiên tình sử Romeo & Juliet là một câu chuyện có thật trong lịch sử.

Romeo và Juliet được viết vào khoảng 1594 – 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ. Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời.

Romeo, con trai họ Montague và Juliet, con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet, do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó. Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ tu sĩ Friar Laurence bí mật làm lễ cưới.

Đột nhiên xảy ra một sự việc : do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ.

Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona.

Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu.

Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn.

Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, với cái chết vĩ đại của họ, mối thù truyền kiếp trở nên quá nhỏ nhen và ích kỷ. Trong nước mắt, hai dòng họ đã cùng nhau quên đi mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ.

Thiên tình sử Romeo & Juliet vĩ đại như thế nào qua ngôn ngữ âm nhạc xuất chúng ?

Mời quý độc giả thưởng thức những tác phẩm vô cùng xuất chúng viết về thiên tình sử này. Qua đó chúng ta có thể thấy rằng, ngôn ngữ âm nhạc có sức biểu đạt mãnh liệt, mang chứa được những câu chuyện vĩ đại và lớn lao, thậm chí cả những điều mà ngôn ngữ con người đôi khi cũng không diễn đạt nổi:

Tác giả Nino Rota (1911 – 1979) : Tác phẩm kinh điển A time for us cho Romeo & Juliet mà khắp nơi trên thế giới đều thuộc giai điệu và ca từ, trên nền bộ phim Romeo & Juliet sản xuất năm 1968, cho đến nay vẫn là bản phim được đánh giá cao nhất :

– Ca khúc Romeo – Juliet :  https://youtu.be/yHX62cG-ui8

– A time for us Romeo and Juliet 1968:  https://youtu.be/4FHpmn-KYec

– Lời Việt qua giọng ca của Quang Dũng : https://youtu.be/2_LP8nVRyBo

KIỆT TÁC :

CÁI CHẾT CỦA THIÊN NGA

Và câu chuyện về sự phản bội niềm tin

Được viết cho violoncelle (cello) chơi trên nền hòa âm của hai đàn piano, bản nhạc Le Cygne, hay Thiên Nga là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, của nhà soạn nhạc người Pháp Camille Saint-Saens..

Một piano thể hiện tiếng mặt nước lao xao, một piano thể hiện tiếng sóng cuồn cuộn. Và trung tâm là violoncell- thiên nga nhẹ nhàng duyên dáng trên mặt hồ. Và khi kết hợp với vở ba lê Cái chết của Thiên Nga của Anna Pavlova, nó đã tạo nên một kiệt tác hoàn hảo.

Giấc mộng thiên nga

Giấc mộng thiên nga kể về câu chuyện nàng Thiên Nga đã đặt hết niềm tin vào chàng Hoàng Tử, người có thể cứu vãn kiếp Thiên Nga mà nàng bị phù thủy biến thành. Nhưng với một chút cả tin và sai lầm, chàng Hoàng Tử đã phản bội lời thệ ước tình yêu với nàng. Kết cục ra sao ?

Giấc mộng thiên nga. Giai điệu thấm đượm một nỗi buồn thánh thót trên cao như tiếng đàn cello đang lột tả cùng dàn nhạc. Tác phẩm đã khắc đậm lên tâm hồn khán giả những người yêu nhạc classic một lòng bi mẫn sâu xa và cao thượng.

Tiếng cello trải dài mượt mà uyển chuyển không khác nào vẻ đẹp kiều diễm của thiên nga trên hồ nước. Ta cũng có thể liên tưởng màu của thiên nga với mầu mây bồng bềnh cùng phản chiếu dưới mặt hồ.

Hình ảnh lãng mạn ấy cho ta cảm nhận về cái đẹp thường mong manh hiếm hoi, không bền vững. Sự thương cảm trước cái đẹp sẽ luôn xuất hiện, đó cũng là sự gợi nhắc cho việc đi tìm chân giá trị cuộc sống thật sự.

Một nhà phê bình đã cảm nhận : “Chạm vào giấc mộng thiên nga, giống như một lần ta được chạm vào sự thanh khiết để rồi mừng rỡ hóa ra mình vẫn có thể chảy nước mắt vì một thứ quá đỗi mong manh và dễ tổn thương. Vượt khỏi trải nghiệm mang tên giải trí, thấy mình được tiếp xúc với một thế giới nhẹ bẫng và đầy an ủi, được tạm quên đi sự xấu xí đang bủa vây đến ngạt thở cuộc sống mà mình đang chìm trong nó.”

Nàng thiên nga trắng muốt với sức căng mạnh mẽ ở những động tác đập cánh, những bước chân uyển chuyển, những cánh tay mềm mại. Và khi cái chết đến gần, những cú đập cánh run rẩy khiến người xem không khỏi rơi lệ trước vẻ đẹp bi tráng…

Với những cố gắng cuối cùng, đôi cánh đập mạnh liên hồi…Phút cuối, đôi mắt mở to và nàng thiên nga từ từ lịm đi, gục xuống. Không thể nào có sự thể hiện hoàn hảo và diễm lệ hơn thế nữa…

Mời quý độc giả thưởng thức Cái chết của thiên nga qua phần trình diễn được nhận xét là hoàn mỹ nhất cho tới nay của nghệ sĩ Uliana Lopatkina.

Triết lý mà Cái Chết của Thiên Nga gửi gắm lại nằm ở chính vẻ bi thương đẩy đến mức tuyệt mỹ: khi chúng ta không còn giữ được sự trong trắng của tâm hồn mình, khi chúng ta phản bội niềm tin, thì tình yêu tuyệt đối sẽ chết ! Và sự tha thứ có đến cũng không còn quan trọng, khi người ta buộc phải đối diện với phía tối của chính mình.

https://youtu.be/Rj_XljrBcW8

https://youtu.be/nPNilUw1YQ4

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: