O HUẾ VÀ PHỤ NỮ SÀI GÒN

TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”

Bà xã của tôi là một cô gái Huế, nói theo kiểu Huế là một o Huế. Dù cho bây giờ o Huế của tôi đã phần nào không còn là “rặc” Huế nữa, nhưng chỉ cần là sinh ra tại làng Phú Xuân và đi học ở trường Đồng Khánh, là đủ tiêu chuẩn o Huế rồi.

O sinh ra và đi học ở Huế, nhưng lớn lên một chút thì theo gia đình dọn vào Đà Nẵng, rồi khi lên đại học thì vào Sài Gòn.

Như thế là qua thời gian “chất Huế” của o cứ “loãng” dần theo mỗi chặng đường xuôi Nam. Nhưng có lai thì cũng chỉ lai một chút ở cái giọng nói nhẹ bớt đi thôi, chứ o vẫn là một o Huế chính hiệu.

Tôi gặp o khi lần đầu bước chân vào trường ĐHSP. Hình ảnh ban đầu ấy cho tới bây giờ vẫn còn in đậm trong trí tôi. Một o Huế với mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, với chiếc “băng đô” màu tím Huế đi kèm với cặp kính cận sẫm màu trà rất hợp với khuôn mặt của o. Chiếc áo dài trắng đơn sơ, vừa kín đáo vừa quyến rũ của o, cứ bay bay theo gió khi o ngồi trên chiếc Yamaha màu xanh đời cũ của những năm 66-67, đi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm.

Có khi o đi một mình, có lúc o chở thêm cô bạn thân cùng lớp. Hình ảnh đó cứ lập đi lập lại mà trở thành quen thuộc, đến độ mới gần đây tôi tình cờ thấy một tấm ảnh trên “net” được chụp từ phía sau o với cô bạn gái, làm cho tôi chợt kêu lên : “Ai chụp tấm hình nầy vậy ?”. Cũng mái tóc đó, dáng dấp đó, chiếc áo dài đó, cũng chiếc xe cùng hiệu, cùng đời, cùng màu với xe của o.

Tấm ảnh giống đến 99,5%, khi tôi gởi tấm ảnh nầy cho cô bạn của o xem, thì cô bạn cũng kêu lên : “Tấm hình nầy chụp hồi nào vậy ?”. Sau đó tôi xem kỹ lại thì thấy có một chi tiết làm tôi ngờ ngợ là không có… bảng số xe và cái giỏ phía trước.

Thế đấy, tôi giật mình khi thoáng thấy lại cái hình ảnh của o hơn 40 năm trước, tôi cũng hồi hộp xôn xao giống như khi nhìn o lần đầu vậy. Lạ lắm, không biết có ai giống tôi không ? !!!

Có đôi lúc, o thỏ thẻ cất giọng nhẹ nhàng như rót mật vào tai mà hỏi tôi rằng : “Sao mình không chọn một o Nam giống mình hay o Bắc, mà lại chọn o Huế vậy ?”. Thiệt là không biết trả lời sao, khi “thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng em”.

Chính o cũng nhìn nhận một cách hết sức chủ quan là các o Huế…. “không đẹp” như hoa hậu, nhưng nếu làm người mẫu chụp ảnh thì…. điệu không ai bằng. Còn o Nam hay o Bắc thì tôi không dám lạm bàn, nếu lỡ nói bậy rất dễ…. cháy nhà lắm. Chỉ dám nói tới o Huế của tôi thôi, thì o “dễ thương chi lạ” !!!

Mà không phải đến khi gặp o trong sân trường đại học thì tôi mới thích cái “chất Huế” của o, với giọng nhỏ nhẹ đầy dấu nặng hay qua dáng vẻ dịu dàng khép nép rất bắt mắt của một nữ sinh Đồng Khánh ngày nào.

Tôi đã từng kể chuyện cho o nghe về việc học hành thời niên thiếu của mình.

Khi ấy vào khoảng năm học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó (lớp 8, lớp 9 bây giờ) ở trường HNC Gia Định, có một cô giáo trẻ mới ra trường về dạy lớp của tôi. Đó là cô N, dạy Anh văn. Giờ đầu tiên của cô giáo làm cho tôi rất thích thú với giọng Huế khá nặng của cô, nhưng lại rất êm tai. Các bạn trong lớp cũng hào hứng khi bỗng đâu một cô tiên thật là ngọt ngào hiền dịu lại lạc vào cái đám nam sinh quỷ quái chúng tôi.

Những giờ học sau đó của cô càng chứng tỏ cái “sức Huế” nó mãnh liệt biết chừng nào. Bọn học sinh chúng tôi cứ mong đến giờ Anh văn, cả lớp im phăng phắc ngóng cổ lên để nghe cô giáo….. nói tiếng Huế, chứ nào có thiết gì đến bài học tiếng Anh đâu. Sự trật tự của lớp tôi dành cho giờ dạy của cô giáo mới chưa bao giờ nặng lời quát mắng học trò, là một ngoại lệ hiếm có.

Nhưng rồi những ngày vui thường qua mau. Khoảng chừng ba bốn tháng sau, cô giáo N không còn dạy lớp tôi nữa vì nghe đâu cô đi… lấy chồng và đổi về trường khác.

Thế là tôi hụt hẫng, mất ăn mất ngủ nhiều tháng trời sau đó. Kỷ niệm của tuổi mới lớn nầy đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tôi cho mãi đến bây giờ.

Từ khi tôi biết o Huế đến nay là tròn 43 năm, thời gian không dài lắm nhưng có đôi lúc tôi quên béng đi là tôi có một o Huế bên cạnh, nếu không có vài sự kiện thỉnh thoảng cứ xảy ra “nhắc nhở” tôi.

Vợ chồng tôi khi ra ngoài đi phố, đi chợ búa hay đi đâu đó chút việc, nhiều khi tình cờ gặp một dân Huế nào đó bắt chuyện, thì sau câu chào xã giao thông thường là đến câu thứ hai với giọng điệu mừng rỡ của vị khách lạ:

– “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?”

– “Dạ, tui ở gần cầu Kho Rèn”.

Rồi sau đó là những câu thăm hỏi rối rít vồn vã thân tình giữa hai người, làm như thể cả hai đã quen nhau “từ kiếp trước” rồi. Khi đó tôi bắt đầu đóng vai kẻ thứ ba nhìn hai người nói chuyện mà tôi chẳng hiểu gì cả. Chỉ nội mấy cái địa danh, mấy cái tên ông Nghè, ông Tổng gì đó đã lạ hoắc, nói chi nó được phát âm bởi giọng Huế đặc sệt thì… hết biết luôn.

Hồi lâu sau khi mãi mê với “Huế của mình”, người khách lạ mới sực nhớ lại quay sang hỏi tôi :

– “Còn anh là người ở mô ?”

– “Dạ, tôi là dân Sài Gòn”.

Người khách nhìn tôi như có ý tò mò, nhưng tôi đoán trong đầu anh ta đang thắc mắc là không hiểu sao tôi là dân ở tuốt trong Nam mà lại rinh được một o Huế xa lắc xa lơ “ngoài nớ”. Cái tình cảnh vừa kể trên không phải tôi chỉ đụng một lần, mà hễ gặp dân Huế đâu đó là y như rằng cái điệp khúc “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?” lại bắt đầu và rồi….. cứ thế tới luôn !!!

Các bạn nào có bà xã là o Huế thử xem tôi nói có đúng không ? Dân Huế cứ gặp nhau là rất mừng rỡ, nhất là ở hải ngoại nầy. Họ coi như “chất Huế” là tài sản riêng của con dân đất Thần Kinh, tất cả ai có dính dáng chút xíu đến Huế là đương nhiên trở thành thân thuộc, là người trong nhà với nhau từ thời…. ông Bành Tổ !!!

Đây có lẽ là một đặc điểm trong văn hóa ứng xử của riêng dân Huế, vì tôi không thấy điều nầy ở người miền Nam hay miền Bắc. Chưa hề có một người Nam nào hỏi tôi: “Bộ anh là người Nam hả ?” !!!

Tôi chỉ hay nghe nói “người Nam”, “người Bắc”, chứ hình như ít ai nói “người Trung”. Người Nam thường không phân biệt miệt nào, còn người Bắc đôi lúc có xác định “người Hà Nội”, “dân xứ Nghệ”…..

Riêng “dân Huế” nhất định không cho mình lẫn lộn vào cụm từ “người miền Trung”, mà phải chỉ đích danh “Huế” mới chịu. Mà cũng phải thôi, có lẽ do ở khúc giữa nầy thường bị chia vụn ra như “người Đà Nẵng”, “dân xứ Quảng”, “gốc Bình Định”, “người Nha Trang”, “dân Phan Thiết”. v.v…, nên người Huế “buộc lòng” phải dành riêng cho mình một vương quốc “quý tộc”.(?) Chứ chẳng phải các o Huế kênh kiệu đâu….

Mới đây có người bạn email cho tôi một truyện ngắn dí dỏm “Vợ chồng như khách khứa” của NTTD. Tựa truyện nầy phát xuất từ câu “Phu phụ tương kính như tân”. Ở đây tôi không bàn đến nội dung truyện mà chỉ muốn nói đến chữ “tân” là “khách”.

Tại sao vợ chồng lại phải đối xử với nhau như là khách. Đã là khách thì khách sáo rồi. Đã là khách thì còn gì là chân thật, còn gì là tình tứ lãng mạn nữa. Đã làm khách với nhau thì miệng mồm xởi lởi, rào trước đón sau, tay bắt mặt mừng, nhưng không biết câu nào là thật, câu nào là giả. Đã là khách thì phải dè dặt xem lời nào là nói suông miệng, câu nào là gài độ, khi nói bông đùa mà nghe ra như xiên xỏ !!!

Thế mà cứ bảo vợ chồng phải xem nhau như khách khứa thì quả thật chả còn tình nghĩa đầu ấp tay gối gì nữa.

Đó là chưa nói đến cái kiểu khách khứa bây giờ. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bỗng dưng sếp vi hành đến nhà nhân viên “làm khách” khiến chủ nhà mặt mày tái mét, ngồi căng tai nghe cả buổi cũng không hiểu nỗi sếp mình muốn vòi vĩnh cái gì để mà… liệu cơm gắp mắm. Hay là gặp lúc Tết nhất thì thuộc hạ phải đến “làm khách” nhà ông chủ để chúc Tết, mà đã chúc thì phải làm sao…. coi cho được thì làm !!!

Như thế làm khách đâu phải là dễ chịu. Mình là khách của người ta hay người ta là khách của mình thì cũng chỉ là hai cách…. chết khác nhau thôi. Trong hoàn cảnh nầy tôi liên tưởng đến nghĩa khác của chữ “tân” là “cay”, là cay đắng, cay nghiệt .

Cho nên tôi muốn hiểu “tân” là “mới”. Vợ chồng đối xử với nhau lúc nào cũng như lúc mới biết, mới quen, mới cưới. Dù qua thời gian, vẫn giữ gìn lời ăn tiếng nói cho cẩn trọng, đúng lễ nghĩa, biết kềm chế, biết tôn trọng đừng làm tổn thương nhau, việc gì cũng đúng mực, không bất cập, không thái quá.v.v…

Nếu hiểu như thế nầy thì o Huế của tôi đúng là “tương kính như tân” rồi.

Mỗi khi tôi hỏi o một chuyện gì hoặc làm giúp o một việc lặt vặt nào đó, thì o luôn nhỏ nhẹ: “Dạ, em làm rồi mình à “, “Dạ, cám ơn mình”…. Những chi tiết như vậy xem ra cũng là vặt vãnh thôi, vã lại lâu dần tôi quen rồi nên có khi không “thấy” nữa. Nhưng hễ ra ngoài nghe vợ chồng người ta ăn nói với nhau nhát gừng, không đầu không đuôi, thì tôi lại nhớ ra o Huế khác xa cái kiểu ngang phè đó.

Hỏi như vậy thì làm sao mà tôi không mê o cho được !!!

Thập niên 60 là khoảng thời gian nhiều “sóng gió” trong đời tôi. Những năm đầu là ngẩn ngơ trước cô giáo Huế ở trung học, những năm cuối là mê mẩn với o Huế ở đại học. Còn những năm lơ lửng giữa chừng thì bận…. mơ mộng đến các người đẹp trong phim “xi nê”.

Vào thời đó, các rạp chiếu phim bình dân đều chiếu thường trực suốt ngày, giá vé chỉ 5 đồng xem hai phim. Những tên tuổi lớn vẫn còn “theo” tôi đến giờ như Audrey Hepburn trong phim “Roman Holiday” (1953), hay Romy Schneider trong “Sissi” (1955), hoặc những ngôi sao hạng nhì như Giorgia Moll với “The Thief of Bagdad” (1961).

Khi lớn hơn một chút thì trong bóp của tôi đã có ảnh của Sylvie Vartan, cô nàng hát bài “La plus bell pour aller danser” trong phim “Cherchez l’idole” (1964), lúc đó đang chiếu tại rạp Casino Dakao gần cầu Bông. Còn ca khúc vượt thời gian “The house of the rising sun” được ban nhạc The Animals trình diễn trong phim “Pop Gear”(1965), đã gợi cảm hứng cho tôi nuôi mộng trở thành tay trống chuyên nghiệp, nhưng chỉ mãi đến những năm gần đây tôi mới được cầm đũa chơi trên dàn “Tama” trong một thời gian ngắn.

Nhưng từ khi ra đi dạy, tôi không còn cái thú xem phim nữa, kể cả sau nầy khi có thể xem phim online tại nhà. Cho nên những cái tên mới còn nhớ được ngày càng hiếm dần, như Julia Roberts (Pretty Woman, 1990), Sandra Bullock (Speed, 1994), hay Natalie Portman (The Professional, 1994)

oOo

Còn o Huế của tôi thì rất mê xem phim, nhất là phim bộ nhiều tập. Có lúc tôi thấy o cắm cúi rà tìm phim trên web, tôi hỏi, thì o nói  : “Mình ơi, hết phim cho em coi rồi”. Thì ra mấy hãng phim đó quay…. không kịp cho o coi. Vì mê phim như vậy nên chẳng những o không lạ gì các khuôn mặt Chương Tử Di, Phạm Băng Băng, hay Choi Ji Woo, Kim Hye Soo…. mà đôi khi còn nhập tâm cả lời thoại lồng tiếng trong phim nữa. Những lúc đó, o thỏ thẻ vào tai tôi:

– “Mình à,……. Huynh có thích muội không ?”

– “Trời, không thích muội thì thích ai chứ ?”

– “Vậy hả mình,……vậy còn cô bạn gái ở Văn khoa khi xưa….. thì răng ? “

Nghe đến đây tôi bỗng bủn rủn tay chân. Nếu sơ sẩy thì “bể dĩa” như chơi. Thế nên nói chuyện với o phải thật cẩn thận, phải biết câu nào nên trả lời ra sao, chứ mà cứ vô tư thì có ngày sẽ dính chấu với hoạt cảnh “trắng đêm không ngủ”. Lúc đang diễn cái cảnh thỏ thẻ vào tai nầy, tốt nhất là phải nhớ câu “tương kính như…. khách khứa” mới an toàn.

Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ kho rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy ?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi !!!

Đến đây, dám có người cho là tôi sinh ra ở gần “kho đạn” Long Bình lắm. Làm gì có chuyện đó. Không tin thì cứ…. đi hỏi o Huế coi. (theo Bùi Thanh Đoàn)

– Huế Xưa – Anh Bằng & Vân Khánh

https://www.youtube.com/watch? v=cTn49Dwvbec

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA

NỬA THẾ KỶ TRƯỚC, PHỤ NỮ SÀI GÒN

ĂN MẶC ĐẸP NHƯ THẾ NÀO ?

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó.

H2: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H3: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H4: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông.

H5: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H6: Nhóm kích động nhạc “3 trái táo” (Appe Three) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm. H7: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H8: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H9: Kiểu tóc pin-up rất đặc trưng của phụ nữ Sài Thành thời trước. H10: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H11: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H12: Một cô gái đang chăm chú đọc tạp chí Salut Les Copains magazine – tạp chí Pháp rất nổi tiếng vào những năm 60 tại Sài Gòn. H13: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước.

H14: Phụ nữ Sài Gòn ngày trước cũng rất ưa đi mua sắm, vào những buổi cuối ngày mát mẻ, chị em hay rủ nhau đến các thương xá để chọn mua những món đồ yêu thích. H15: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt với chiếc Honda PC.

H16: Một người phụ nữ Sài Gòn mặc áo dài phi bóng tím, tay cầm dù đang ung dung dạo phố tại Công Xã Paris trước 1975. H17: Váy suông cùng họa tiết đơn giản luôn là món đồ được những chị em trẻ tuổi Sài Gòn yêu thích. H18: Khi phụ nữ Sài Gòn đi lễ chùa đầu năm.

H19: Một lối nhỏ kinh kỳ hoa lệ có cô gái Sài Gòn đang vội chân đi. H20: Xe Lam mini, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ? H21: Những quý bà thành đô đang qua đường trong những ánh nhìn ngẩn ngơ. H22: Thật không ngoa khi nói Sài Gòn là phố thị đài các của phương Đông.

H23: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H24: Một góc phố giai nhân của Sài Gòn. H25: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H26: Những chiếc đầm rất mốt đã được phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước diện chỉ “chậm” hơn xu hướng của thế giới vài tháng.

H27: Quý cô Sài Gòn xưa vừa hiện đại, vừa đài các. H28: Nghinh tân những vẫn thủ cựu, Sài Gòn vẫn luôn là một bức tranh lập thể tuyệt vời như thế. H29: Một cô gái mặc áo dài trắng, đeo khăn trắng và tạo điểm nhấn bởi cặp kính đen, trông không khác nào một bức ảnh bìa của tạp chí nước ngoài. H30: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

9 Tuong Duc me 1BÍ ẨN BỨC TƯỢNG

ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH

TỰ PHÁT SÁNG

Rất nhiều cảnh sát trong thị trấn yên bình Jalhay, Bỉ đã được huy động để bảo vệ bức tượng khi sự phát sáng bí ẩn này đã thu hút đến 500 người đến thăm chỉ trong một ngày.

Một bức tượng Đức Mẹ Maria phát sáng bí ẩn đang thu hút hàng trăm khách du lịch đến với thị trấn nhỏ này. Các nhân chứng khẳng định, vào ban đêm, bức tượng nhỏ này luôn phát sáng, thu hút một lượng khách du lịch đông đảo đổ về để được tận mắt chứng kiến điều kì lạ này, buộc cảnh sát phải hành động.

Hơn 500 người đã đổ về khu nhà nơi đặt tượng Đức Mẹ, gây nên một sự hỗn loạn, khiến lực lượng cảnh sát buộc phải vào cuộc để ổn định tình hình và đảm bảo 9 Tuong Duc me 2việc tham quan có quy củ. Vẫn chưa có bất cứ lời giải thích nào hợp lí cho hiện tượng kì lạ này, tuy nhiên, các giáo sĩ đã gửi bức tượng đi để kiểm chứng tính xác thực.

Cha Leo Palm cho biết : “Chắc chắn có một cái gì đó đang xảy ra nhưng tôi không thể nói cho các bạn biết liệu đó là một hiện tượng tự nhiên hay một điều kì diệu”.

Sau khi được phát hiện vào tháng 1, hiện tượng kì bí này đã thu hút hàng trăm du khách tìm đến Jalhay. Một số người còn khẳng định họ đã được chữa khỏi bệnh sau khi đến thăm bức tượng linh thiêng này. (L.H theo nguồn: Mirror)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỮNG “CHUYỆN TÌNH” YAMAHA…M

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỌC THƠ

Người đàn ông gầy còm, mái tóc cắt trùi trủi nên khuôn mặt ông ta trông hóp héo như ruột người bệnh mới từ nhà thương về.

Bốn giờ sáng mà điện đã cúp. Chung quanh trời tối mênh mông. Ông mò cái bật lửa bật lên tìm cây nến. Cây nến nằm trong một góc tủ. Chiều qua hình như ông ta nhậu hơi nhiều nên đến giờ nầy đầu óc vẫn chưa tỉnh táo ra. Vẫn lơ mơ trong đầu ông ta câu chuyện nơi quán rượu. Cái quán nầy như có ma lực khiến ông không thể xa nó, đi đâu ông cũng nhớ nó, nhớ những câu chuyện quanh nó.

Quán nầy lạ lắm, nó được che phủ bởi hai cây si già rể thả xuống đong đưa như một bầy rắn. Thêm một cây cao su ở đâu lạc loài về đây hàng trăm năm, da lên xanh rêu mốc. Về mùa đông xuân lá cây su trở nên vàng ánh bỏ rơi từng bầy lá sau mỗi cơn gió nhẹ. Lá vàng phủ trên mảnh sân rộng, phủ lên bốn năm tảng đá sắp không đều hàng.

Theo một khách nhậu, mấy tảng đá nầy được dựng ở đây một cách có ý thức chớ không phải vô tình: nó được xếp đặt theo phong thủy. Bên cạnh mấy tảng đá buồn thiu ủ dột đó là một cây đàn đá kiểu Nhật Bản có hai chân được chôn sâu dưới đất.

Người đàn ông hay ngồi nơi cái bàn đặt sát cạnh mấy tảng đá bí ẩn bên thềm quán. Một cảm giác lạ lùng đã ám ảnh ông ta không sao rứt ra nổi. Đó là … Ừ, cứ mỗi buổi chiều mưa khi ngồi ở đây rượu đã ngà ngà say, khi một ánh chớp lóe lên ông lại thấy những hòn đá cử động, chúng lắc lư như đang say rượu. Và những lúc đó hình như ông nghe chúng trò chuyện. Chúng cứ thì thầm to nhỏ điều gì đó bí mật trong mưa.

Có một tảng đá thấp gầy nói giọng nữ, một tảng đá cái ư ? Một tảng đá cái duy nhất giữa những tảng đá đực có vẻ gì đó khá bí hiểm hiện ra mỗi lần có một tia chớp lóe lên nhoáng qua mặt sân.

Ông Tư già một khách rượu thường xuyên ở đây trầm trồ về mấy tảng đá : “Ở đây người ta bố trí mấy hòn đá nầy theo phép ngũ hành. Không phải là ngẫu nhiên đâu. ‘I’hế đất ở đây hơi bị hãm nên mới dựng ra mấy viên loạn thạch nầy để trấn yểm lấy lại thế cân bằng. Chủ nhân của ngôi nhà cổ trên mảnh đất nầy hẳn xưa phải là một tay giàu có và rất sành khoa phong thủy. Những viên đá nầy tương sinh tương khắc, vừa nương tựa lại vừa chế ngự lẫn nhau. Và như thế thì ngôi nhà và những người sống nơi đó sẽ được bình an làm ăn phát đạt”.

Người đàn ông cứ bị mấy hòn đá ám ảnh. Cũng theo ông bạn Tư già, trong rừng có thần rừng, trong núi có thần núi. Những viên đá là một phần của núi. Đá lâu năm nó có thần ở trong đó. Vậy nhóm loạn thạch lâu năm nầy nằm đây hẳn phải có một duyên sự gì đó bí mật.

Ở đây khách nhậu đông lắm, quen mặt nhưng khó nhớ tên. Quán chỉ bắt đầu hoạt động lúc 11 giờ sáng đến 10 giờ đêm thì đóng cửa, bất kể xuân hạ thu đông. Không có ngày nghỉ, rượu chảy suốt bốn mùa.

Cô phục vụ tên Phấn kể rằng hồi cô mới vào làm việc bưng bê cô chỉ mới tròn 18 tuổi. Vậy mà nay đã sắp sửa ba mươi, tính ra hai chân cô di chuyển mỗi ngày suốt hơn mười năm bằng con đường vòng quanh trái đất. Đã có bao nhiêu người chọc ghẹo cô, bao nhiêu gả say và giả say tỏ tình với cô, cô quên mất.

Phấn cười nói khi quán rượu đã đầy lúc ấy mắt cô chỉ nhìn thấy mơ hồ những khuôn mặt giống nhau, đỏ khé mờ mịt hơi men. Phấn sợ những đôi mắt soi mói nhưng chủ quán quy định các cô phải mặc áo rộng cổ với lý luận : khách nhậu không chỉ nhậu bằng môi miệng mà còn nhậu với con mắt. Với một phần ngực đẹp của các cô gái sẽ góp phần cho bữa nhậu hào hứng thêm, khí thế thêm.

Vậy đó hơn mười năm áo hở rộng cổ, một phần ngực nửa kín ngửa hở dành cho những cái nhìn chăm bẳ, miễn phí. Phấn đi qua tuổi xuân hồi nào chẳng hay. Bây giờ quen mặt áo rộng cổ rồi; quen những đôi mắt háo hức, Phấn hết còn quan tâm đến bọn đàn ông nhấp nhô trong cái không gian mênh mông của quán rượu.

Người đàn ông mỗi khi đến quán hay ngồi ở cái bàn gần mấy hòn đá nơi những rể si lòng thòng phất phơ trong gió.

Người đàn ông gọi Phấn bằng em và xưng mình là bố : “Phấn ơi, em choo bố mấy chali bia”. Phấn đặt hai chai bia với cái ly đá trước mặt ông, nheo mắt cười : “Bia đây mời bố”. Cái nheo mắt, nụ cười và chất giọng thanh tao của Phấn đã thường xuyên đến với ông ta trong những giấc mơ. Có lần trong một cơn say la đà, ông ta đã nói với Phấn như lời thú tội… trước hoàng hôn : “Giá mà bây giờ bố được trẻ lại hai mươi năm tuổi chắc bố sẽ cưới em làm vợ”.

Chẳng hiểu Phấn nghĩ gì khi nói nhỏ vào tai ông : “Nếu như bố trẻ lại thì em đâu có cho bố đi nhậu và em cũng sẽ chẳng làm cô gái phục vụ quán bia…”, nói xong em cười và biến đi.

Người đàn ông mơ màng : Ừ, mà trẻ lại để làm gì, để hai đứa được sóng đôi nhau chăng ? Biết đâu sau hạnh phúc lại đến lúc bất hòa rồi ly thân, ly dị… chi bằng mỗi ngày cứ đến ngồi đây nhăm nhi bia bọt, cứ bố bố em em há chẳng hạnh phúc hơn sao ? Người con gái đẹp hay một tình yêu đẹp có lẽ nên có một quãng cách ở ngoài tầm tay với để ta luôn mơ tưởng, chiêm ngưởng nó như chiêm ngưởng một bức tranh một pho tượng quý nơi viện bảo tàng. Cấm sờ nó, cấm sở hữu những báu vật của thế gian, tình yêu thật sự là cái ta yêu và luôn tưởng mơ về nó.

oOo

Ngọn nến chập chờn rồi phụt tắt. Bên ngoài cửa sổ gió nổi to. Trời đang chuyển cơn mưa sớm. Bầu trời chưa kịp sáng đã trở nên tối lại.

Người đàn ông thấy con mắt mình ríu lại. Chợt thấy mình ngồi nơi cái bàn cũ gần bên mấy tảng đá sù sì. Nghe tiếng hòn đá cao to cất tiếng trầm trầm : “Bố yêu em, chúng ta phải đi suối đường trần”. Không thấy miệng đá nhót phép vậy mà lời của nó nghe rõ mồn một. Hình như hòn đá cái ngọ nguậy trong cái khoảng mờ mờ tối đồng thời một giọng nói có vẽ giận dữ :

“Xin chớ đụng tôi, hãy lui ra vì tôi sắp vỡ và sắp nổ đây”, “Hãy vỡ và nổ đi, chúng mình sẽ về cõi vĩnh hằng”, tiếng hòn đá đực nói như van lơn. Im lặng một lát giọng nữ lại cất lên : “Hãy lánh xa em bố ạ, em cần có khoảng trống bao la để biến tan trong ánh nắng, hòa chảy trong ánh trăng. Đừng nhìn em như thế”. Hình như trong giọng nói ấm ức có cả tiếng sụt sịt khóc. Ủa lạ, sao giọng người con gái nào lại giống giọng nói của Phấn ?

Bất chợt trời đổ ào mưa. Xuyên qua màn mưa những làn chớp loé sáng. Mưa nhả xuống hiên quán dội trên mấy tảng đá. Gió gầm rú trên cây si làm những chiếc rể si quẩy lộn dữ dội.

Bây giờ là mấy giờ ? Là sáng, trưa hay chiều tối ? Người đàn ông hoàn toàn chẳng còn ý thức được thời gian. Cái quán sao mênh mông và lặng yên một cách kỳ lạ. Khách ngồi giương những đôi mắt sâu hoắm tăm tối hướng ra bầu trời ủ dột mưa như đang chìm đắm vào một mối trầm tư gì đó khó hiểu.

Không nghe tiếng ly cốc khua động, nhưng chai lọ đứng yên trên mặt bàn hứng những làn gió và tia chớp tạt vào. Lẫn trong tiếng mưa lời của một giọng nam cất lên run rẩy : “Em cho bố một cơ hội nếu như bố trẻ lại hai mươi năm tuổi. Bố yêu em, ta đi với nhau đến cuối đường trần nầy”. Tiếng người nữ thút thít : “Xin bố chớ đến gần em, coi chừng hạt linh hồn em bám phải sẽ vươn rất nhanh cành lá, rể quấn nhằng nhịt hút lấy máu bố… “.

Người đàn ông rùng mình. Gió hất đám rể cây si quất vào thềm quán uốn éo như bầy rắn lục đang động tình. Chúng sẽ vươn tới và quấn chặt ông ta. Bầy rắn sẽ hút sạch máu ông ta bởi những cái miệng đỏ như ngậm hòn than nóng. Bất giác ông ta nhích vào phía trong một chút. Gió đột nhiên gồng mình lên gầm rú qua hàng cây xô đẩy, vặn bứt chủng. Có tiếng gãy đứt răng rắc, rồi một súc gỗ thật to bị ném ầm xuống chỗ mấy tảng đá. Súc gỗ nhảy tưng mấy cái rồi nằm im. “Trời đất, nếu như ta chẳng chịu nhích vào một chút thì có lẽ bây giờ hồn đã lìa khỏi xác”, ông ta ôm ngực thở hổn hển.

Có tiếng cười ngặt nghẽo ở đâu đó trong mấy hòn đá nổi lên. Bọn chúng thích chí đang cười cợt ông vừa trải qua một cơn sợ muốn đứng tim. “Phấn ơi, nếu như ban nảy cành cây đòi nạng nầy rơi vào bố thì giờ đây bố sẽ ra sao ? Bố sẽ hóa thành một ngọn gió, một ngàn mây cuồn cuộn bay đi hay một hồn ma ngơ ngác thấy mình bất ngờ bị vất ra khỏi xác ? Liệu lúc đó bố còn nhớ em, còn yêu em như tấm hình hài nầy ?”, người đàn ông nghe thấy tiếng mình buồn bã cất lên trong lòng ngực. Bên trong lòng ngực ông, dường như đó mới chính là con người thật của ông, nó luôn ở bên ông và nói và nghĩ suy thay ông. Yêu thương, giận hờn, mừng vui hay sợ hãi… tất cả mọi thứ đều xuất phát từ trong cái lồng ngực ấy. Nó vô cùng sống động, vô cùng bao la trong cái cõi gần gũi kề bên mà ông hình như chẳng bao giờ chạm đến được nó.

Người đàn ông bỗng nghe vùng cơ ngực co thắt nhói đau. Tiếng ho của ông làm ông giật mình mở mắt ra ngơ ngác. Ủa, ông đang ở nhà trong buổi sáng trời mưa tơi tả mà.

Đã sáu giờ sống mà trời vẫn tối thầm thầm. Khí lạnh len qua cánh cửa sổ mở hé lọt vào căn phòng yên ắng. Mấy con muỗi vo ve tìm chút máu làm ông tỉnh hẳn. Hóa ra ông vừa rời khỏi một giấc mơ. Mò tìm cái bật lửa thắp lại ngọn nến. Ánh lửa chập chờn soi mặt bàn bừa bộn sách vở. Lâu nay ông thường bị những giấc mơ kéo đến bất chợt.

Đang ngồi đọc sách hoặc viết lách đột nhiên ông rơi vào giấc ngủ chẳng biết lúc nào. Và trong mỗi giấc ngủ lại có nhiều mộng mị khác kéo về khiến nhiều khi ông phân vân tự hỏi khi ông đang tỉnh, là lúc ông mơ hay khi đang mơ lại là khi đang tỉnh ?

Ông đứng lên đốt một cây nhang trên bàn thờ vợ ông. Bà mất đã 20 năm rồi, lúc đó ông mới vừa 30 tuổi. Cái chết của bà là nỗi đau thương lớn nhứt đời ông. Nhưng 20 năm qua, vết thương cũ đã lành, ông thôi xót xa. Tuy nhiên nhìn ảnh vợ ông cũng không sao khỏi chạnh lòng. Những ngày yêu nhau, ông cũng si mê bà như bây giờ ông si mê Phấn. Bà cũng hiền từ dễ thương như Phấn, bao giờ cũng chịu thương chịu khó mà nét mặt vẫn tươi cười.

Có bà, ông chẳng phải lo nghĩ gì từ miếng ăn giấc ngủ. Bà vừa như một người mẹ lo cho con trai, vừa như người chị chăm nom đứa em nhỏ. Có những lúc vui hay giận ông bà thường trách yêu : “Nếu như không có em chẳng biết anh sẽ sông ra sao ?”.

Quả vậy, ông sống một cách phiêu bồng với cây bút ngòi viết, chẳng hề biết sửa cái cầu chì, công tắt điện, chỉnh sửa cái vòi nước hư… áo quần ông mặc vất ra có bà giặt. Thay đồ mới đã có y áo ủi kỹ treo trên móc. Ông đi đâu về gọi “Em ơi đói bụng rồi” là có sẵn mâm cơm. Vậy mà 20 năm nay ông chỉ còn nói chuyện với cái bóng của mình, ông tự kêu đói và tự đi nấu ăn; tự vất quần áo bẩn ra và tự đi giặt lấy…. Thiếu sự hiện diện của bà đời ông bơ vơ, cơ cực. Nhưng nói gì thì nói vết thương của 20 năm cũng dần liền da liền thịt và người đàn ông bắt đầu nghe một mùa xuân mới trở về trên cánh đồng khô hạn của đời mình.

oOo

Ngoài trời vẫn chưa sáng. Người đàn ông dụi mắt thắp lại ngọn nến. Trên bàn trước mặt ông gió lật mấy trang thơ một cuốn thơ cũ ố vàng. Ông ta cúi xuống đọc. Những con chữ như có ma thuật chúng đang nhảy múa. Hình như có tiếng ai đó ca hát ê a trong thơ, giọng lạnh lẽo, gay gay….

Hồi này sao thế, mới tảng sáng mà ông cứ chợt tỉnh chợt mê. Những khoảnh khắc chợt thức chợt ngủ cứ đan nhau làm ông lẫn lộn giữa hư và thực.

Lại nữa rồi, giọng đọc thơ ấy vẳng lên sao giống như giọng nói lạnh lẽo phát ra từ hòn đá cái : “Xin chớ gần tôi, thuyền tôi sắp vỡ”, vừa xua đuổi lại vừa thiết tha van xin ở lại. Những tảng đá ấy không còn yêu nhau nữa chăng ?

Hôm kia Phấn nghiêng người xuống rót rượu cho ông. em nói rất nhỏ : “Bố ơi, em sắp sửa xa bố, em đi lấy chồng. Bố sẽ không còn gặp em nữa đâu. Nhưng bố đừng buồn”. “Tại sao không buồn khi chẳng còn em ngày ngày bố gặp ?”, ông nói mà như khóc. Hơi thở Phấn lướt qua trên mái tóc lốm đốm bạc của ông : “Đừng buồn bố ơi, vì sao bố biết không, vì dù em đi lấy chồng nhưng em yêu bố, em yêu bố, em yêu bố…”

Người đàn ong chợt nghe trái tim mình đau thắt, lòng ngực như đang bị ai kéo dãn ra. Trước mắt ông ta có những bóng đen như có bầy ruồi đen bay lơ lững. Ông thấy chếnh choáng như những hôm say rượu, mắt hoa lên. Ông gục xuống cuốn thơ cũ ố vàng dưới ánh nến đang lụng dần, lụng dần….

Trương Đạm Thủy

TẠI SAO NHIỀU ÔNG

THÍCH VỀ VIỆT NAM CẶP BỒ ?

Đàn ông đều thích ăn quà

ăn quà rồi lại về nhà ăn cơm

ăn cơm như thể nhai rơm 

cho nên cứ phải vừa cơm vừa quà.

Từ cảm giác ‘không có chỗ đứng ở Mỹ’…

Thấy mình “không có chỗ đứng ở Mỹ” là cảm giác của ông Nghĩa Nguyễn, người sắp mừng thọ 75 tuổi và là cư dân thành phố Orange.

Không xuất thân là một tướng tá lên xe xuống ngựa có người săn đón, nhưng hình ảnh của người chồng, người cha trụ cột trong nhà, một viên chức hành chánh của một quận trước 1975, đã khiến ông Nghĩa Nguyễn trở nên có uy quyền đối với vợ con, một lời ông nói ra là “cả nhà ai cũng sợ.”

Như một kiểu gia đình nề nếp, gia giáo, nên dù có lúc “giận nhau bầm gan tím ruột” vợ ông cũng không bao giờ bộc lộ ra ngoài cho con cái hay người ngoài biết để mà còn “giữ thể diện gia đình.”

Năm 1995, lúc ông Nghĩa về hưu cũng là lúc vợ chồng ông sang Mỹ theo diện con cái bảo lãnh. Với ông, cuộc sống ở Mỹ khi đó “giống như địa ngục”. Bởi, ông “không biết lái xe, không biết tiếng Anh, xin đi làm thì không ai nhận”. Những đứa con đi vượt biên ngày nào giờ đã hấp thụ văn hóa Mỹ, không còn răm rắp nghe lời ông như ngày xưa. Mấy đứa cháu nội, ngoại thì chỉ toàn nói tiếng Mỹ, và dĩ nhiên chúng cũng không muốn nghe lời ông. Vợ ông cũng vậy. Bà dường như không còn thói nín nhịn như ngày xưa. Bà sẵn sàng “đốp chát” lại với ông ngay khi có thể.

Ngột ngạt và tù túng, ông Nghĩa “chỉ muốn quay trở lại ngay Việt Nam,” nhưng các con ông không cho, vì “tụi nó nói dù gì thì đời sống ở Mỹ cũng tốt hơn vạn lần ở Việt Nam.” Thế là việc trở về Việt Nam trở thành niềm “khao khát” đối với người đàn ông có tuổi đang sống ở thành phố Orange này. Khi dành dụm đủ tiền con cái cho, ông Nghĩa mua ngay vé máy bay về Sài Gòn.

Tương tự như vậy là trường hợp của ông Hai Lý, một cư dân ở Midway City, người cũng đã bước qua tuổi 70, “cổ lai hy”. Theo lời ông Hai Lý, ông sang Mỹ từ năm 1975, sau thời gian đi làm “assembly” ở hãng, hiện tại ông Hai đã về hưu, “ly dị lâu rồi,” và “mấy đứa con cũng đều có gia đình ở riêng.”

Ông Hai không có nhà, cũng không có xe vì ông cho rằng “già rồi đi xe bus cho tiện.” Ông không nói lương hưu của ông bao nhiêu, chỉ nói mỗi tháng ông trả $300 tiền thuê phòng, và phải ra ngoài ăn uống một cách tiết kiệm vì “chủ nhà không cho nấu ăn.” “Ở đây, người ta nhìn tình cảnh của tôi chẳng khác gì thằng cơ hàn,” ông Hai tự đưa lời nhận xét. “Nhưng khi về Việt Nam thì tôi khác à!”

Ðến ‘anh’ Việt kiều được chìu chuộng chăm sóc

“Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn. Trong khi mỗi lần về Việt Nam, tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”

Ðó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”

Người đàn ông đậm người, tóc được nhuộm đen không thể nhìn ra một sợi trắng, nói rất tự nhiên, “Về Việt Nam, tôi ít khi ở Sài Gòn, ở đó cái gì cũng mắc mỏ. Tôi còn bạn bè ở Vĩnh Long. Mỗi lần tôi về là họ dẫn tôi đi chỗ này chỗ nọ.”

“Chỗ này chỗ nọ” của ông Hai là những quán cà phê, những tiệm massage cũng “sạch sẽ tươm tất” nhưng giá cả không quá đắt. Ông Hai nói không cần che giấu, “Mình bỏ ra có ba bốn trăm ngàn, chưa đến hai chục đô, mà có người gội đầu, người ngồi cắt móng tay, móng chân, người mát-xa mặt thì còn muốn gì nữa. Ðàn ông mà”.

Ông Hai cũng nhắc đến những nơi ông thích lui tới như “cà phê vườn,” “cà phê võng” nhưng khi được hỏi ở đó có gì khiến ông thích thì ông chỉ cười không trả lời, rồi bắt qua chuyện khác.

Không nhận xét “con gái Việt Nam rẻ như bèo” như kiểu ông Hai Lý, nhưng cảm giác được “chìu chuộng chăm sóc ngọt ngào” cũng là điều ông Nghĩa Nguyễn tìm thấy trong những lần về Việt Nam sau đó.

Ông Nghĩa kể mấy lần sau về Việt Nam, nhiều bạn già, bạn nhậu của ông người thì chết, người thì bệnh bởi những chứng tiểu đường, cao máu. Buồn, thiếu người nói chuyện, ông Nghĩa “đi cắt tóc thanh nữ cho quên sầu”.

Học được cách cho tiền “tip” từ Mỹ, ông Nghĩa “bo” cho cô thợ cắt tóc một ít tiền. Thế là “cô thợ thua hơn 20 tuổi kêu tôi bằng anh ngọt xớt”. Ông Nghĩa kể lại mà gương mặt vẫn còn giữ nguyên nét hồ hởi, “Tôi nghe khoái quá ! Bởi lâu lắm rồi người ta chỉ kêu tôi bằng chú, bằng bác, vợ tôi thì khi nói chuyện cũng kêu tôi bằng ông. Giờ nghe có người kêu mình bằng ‘anh’ thấy lạ tai và thấy mình trẻ ra.”

Cứ vậy mà ông Nghĩa mê trò “đi cắt tóc, gội đầu, mát-xa.”

Rồi ông cũng chợt nhận ra là ông chưa từng bao giờ hưởng được sự dịu ngọt, chìu chuộng như vậy từ vợ con, họ chỉ từng “sợ” ông khi ông còn là trụ cột trong nhà. Ông cảm thấy hình như đã đến lúc ông cần “phải lo cho bản thân ông nhiều hơn.”

Ông Nghĩa bắt đầu có thú vui mỗi khi về Việt Nam là đi “khám phá” những “tiệm cắt tóc gội đầu máy lạnh” và đi nhậu ngoài quán chứ không còn nhậu với mấy ông bạn già ở nhà như những lần trước..

Ông lại vui hơn nữa là mấy cô gái nơi đó đều gọi ông bằng “anh” Mà tính ông lại “thương người” nên cứ nghe cô nào ngồi thủ thỉ chuyện gia cảnh khó khăn phải đi làm thế này là ông lại cho tiền, “mỗi lần 50 đô hay có khi cho 100 đô.”

Khi được hỏi, “Ông không nghĩ là những cô gái đó ngọt ngào với ông vì chỉ muốn tiền của ông thôi sao?” ông Nghĩa tỉnh bơ trả lời, “Sao lại không biết ! Nhưng tôi cảm thấy tôi happy trong những khoảng thời gian đó thì tôi làm thôi.”

Chỉ muốn ‘ăn bánh trả tiền’ hay thực sự muốn chuyện trăm năm?

“Ăn bánh trả tiền” là điều ông Nguyên Phạm, gần 60 tuổi, chủ một business nhỏ ở Santa Ana. Ông Nguyên xác định rất rõ, “Cuộc sống vợ chồng tôi ở đây không hạnh phúc. Nhưng cũng không ly dị vì không muốn giải quyết chuyện phân chia tài sản. Mỗi năm tôi về Việt Nam một đôi lần là để đi chơi, hưởng thụ.”

Theo lời ông Nguyên kể, mỗi lần về Việt Nam, qua lời giới thiệu của “người quen,” ông sẽ “cặp kè” với một cô. Trung bình ông sẽ trả cho cô gái $1,000 cho cuộc sống “già nhân ngãi, non vợ chồng” trong vòng một tháng. Còn những khoảng ăn ở, đi chơi nơi này nơi khác, ông Nguyên cũng là người chi trả hết.

Người đàn ông này giải thích thêm, “Mỗi lần về Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi như vậy chỉ thấy mình được chìu chuộng, nâng niu. Không có chuyện cãi lộn, gấu ó. Không bị căng thẳng đầu óc vì công việc.”

“Cũng có lúc gặp mấy cô dễ thương, khi qua đây rồi cũng có gọi điện về nói chuyện chơi. Nhưng khi thấy cô nào bắt đầu than ‘má em bệnh, ba em đau, xe em mất’ là tôi ‘bái bai,’ cắt liên lạc luôn để khỏi phiền.” Ông Nguyên nói.

Ông Hai Lý cũng xác định chuyện muốn “hét ra lửa,” vung tay cho tiền những cô gái quê để được chăm sóc, nâng niu cũng chấm dứt khi rời khỏi Việt Nam, bởi ông không muốn có những ràng buộc, “qua đây thân tôi lo còn chưa xong nữa mà đèo bòng thêm chi.”

Riêng ông Nghĩa Nguyễn thì có hơi khác. Không chỉ có cảm giác là mình “thật sự trẻ ra” khi “bước vô quán nào người ta cũng kêu tôi bằng anh,” mà ông còn muốn nếu có ai đó chịu đứng ra bảo trợ tài chánh thì ông sẵn sàng ly dị vợ để cưới ngay một cô từ Việt Nam qua để suốt ngày nghe tiếng “anh” cho thỏa cái lỗ tai.

Ước mơ của ông Nghĩa đang lưng chừng thực hiện được “phíp-ty pờ xen” (50%) vì các con ông chia hai phe.

Một phe ủng hộ, “ba già rồi hãy làm điều gì cho ba vui thì làm”. Nhưng phân nửa kia thì cật lực phản đối, “không chịu được cảnh nhìn ba tung tăng đi công viên với một đứa đáng tuổi cháu ngoại.” Vợ ông Nghĩa đương nhiên biết chuyện “cặp bồ” của ông ở Việt Nam, nhưng bả nói : “Già từng tuổi này rồi, tui chẳng có gì để ghen tuông, mà tui chỉ thấy phát gớm !” hích hích

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHỐN CŨ ĐƯỜNG XƯA

KÝ ỨC MỘT THỜI SÀI GÒN

Hồi trước, ở Sài gòn, cánh đây lâu lắm, tròm trèm… nửa thế kỷ lận nhen… Tất cả cái loại xe hơi, hai đèn trước, đều phải có “mắt mèo” nghĩa là phải sơn màu vàng lên 1/3 bên trên mặt kiếng của đèn trước, ý là… hỏng cho bác tài pha đèn ban đêm, làm chói mắt người hay xe chạy ngược chiều ! Bởi vậy, bác tài có muốn… chơi ác pha đèn, cũng… bó tay !!!

Khúc đường gần bịnh viện đều có bảng “cấm nhận kèn” để bịnh nhân khỏi giựt mình!

Xe đậu trong đường Sàigon đều phải tuân theo bảng đậu “ngày chẵn lẻ”… Tất cả xe tắc-xi đều sơn trùng một màu xanh hoặc vàng xanh, ý là để “khách bộ hành” biết nó từ đàng xa để… quơ tay đón và cũng. có ý là nếu, hỏng… phải xe tắc xi, mà là xe du lịch tư nhân lại đi ”dù” rước khách… kiếm chút cháo là biết liền, cũng dĩ nhiên, xe nào “nhảy dù” như vậy, bị bắt là bị phạt, lớ quớ còn bị tịch thu bằng lái !

Xe tắc xi phải có đèn hộp “bắt chết luôn” trên mui xe, về đêm, hộp đó có đèn cháy sáng để khách biết mà… dơ tay đón… để cho khỏi lộn với xe du lịch !

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng riêng để dể phân biệt với xe đò… Ví dụ Xe Buýt Vàng thì… sơn màu vàng đặc trưng… khác thiên hạ… Bến xe nầy ở gần Bà Quẹo… mà bà con gọi là Bến-Tô-Bít-Vàng…  Kế bến xe buýt vàng nầy có hãng cơm xấy Hồng Hoa (?) làm cơm xấy cho lính…

Bắt đầu 18 – 20 tuổi… mới cho thanh niên lái xế hộp 4 bánh du lịch… để lấy le, sau đó vài ba năm, bác tài… trẻ mới lên được 1 “hạng”, rồi cày vô lăng… vài năm nửa, mới cho… mó tới xe tải, rồi “chạy xe” thêm vài niên, mới “đủ ngày” để lấy dấu E để lái xe đò, nghĩa là khi bác tài lái… mấy chục tánh mạng hành khách, thì bác tài… vô tuổi trung niên rồi, nên… hết máu thanh niên, háo thắng, ưa nóng gà… chạy ẩu !!! Chớ không có cái chuyện “giao trứng cho ác” được !

Ở ngã tư đèn đỏ, có vạch sơn trắng, tất cả xe cộ đều ngừng sau vạch đó, xe nào cáng mức sơn, mà nhè ông đạp xích lô thấy được… ổng chửi cho tắt bếp, quê lắm nhen !!!

Nhà bán thuốc tây, thì bảng hiệu đề Nhà Thuốc Tây hoặc Nhà Thuốc Gác (đó là danh từ chung) chớ khộng ai lấy Tên Riêng (danh từ riêng) để đề bảng hiệu bán thuốc tây ! Hai bảng hiệu nầy luôn luôn là bảng màu xanh đậm và chữ trắng, nó còn có hộp đèn chữ thập xanh gắn thêm, để đêm hôm, người mua thuốc… đứng ở xa, cũng thấy ! Tiệm nào bán thuốc bắc thì có chữ “đường” ở sau, Ví dụ : Vĩnh Sanh Đường, Nhị Thiên Đường, Thiên Hòa Đường…

Còn chùa thì có chữ “tự”… dính ở sau, ví dụ : Huỳnh Kim Tự, Thới Hòa Tự, Long Vân Tự, Linh Sơn Cổ Tự…

Tiệm bán vàng thì bảng hiệu chỉ có 2 chữ, chũ  đầu luôn luôn là chữ “kim”, ví dụ: Tiệm vàng… Kim Hưng, Kim Liên, Kim Sen, Kim Hoàng, Kim Phát…

Địa Danh ít khi dùng chữ Thái (kỵ húy vua Thành Thái ?) mà dùng chữ Thới : Ví dụ: Thới Bình (Cà Mau), núi Châu Thới (Biên Hòa), Bình Thới (quận 11), Tân Thới Hiệp (chỗ tập lính QT) Thới Tam Thôn, Thới Hòa (Vinh Lộc) Thới Nhứt, Thới Nhì, Thới Tam, Thới Tứ (Hóc Môn), Xuân Thới Sơn (chỗ đương trạc, giỏ tre… )

Nhà dân cất dọc đường lớn, xa lộ, người ta luôn luôn tự động cất nhà thụt lùi vô trong, ở xa lộ, cách Xa Lộ ít nhứt là 50 mét ! Lý do là để cho an toàn chuyện xe cộ, thứ 2 nếu có mở rộng đường xá thì khỏi phải dời nhà… Nhà mà dời đi, dời lại là điều ông bà xưa kiêng kỵ, nên, hỏng ai ham lú mặt ra đường ! Dọc đường cái trống trơn, hỏng ai… dám gan, tới chỗ đó… tự nhiên cất nhà…

Nếu gan cùng mình, cất nhà đại… thì cứ cất, đợi cất xong, bên Điền Địa hỏi Bằng Khoán đất, hỏng có, thì “coi như”… gia chủ xách tụng đi ăn mày… ở tòa bố ! Còn những tên cất nhà, mà lấn từng tấc đất, bà con nói nhẹ rằng “thằng đó hết xài” ! Thằng nào “hết xài”… thì nó, chỉ còn nước… đội quần mà đi, nhục lắm !!!…

Ở Sàigon, cái vụ học hành, có ba thứ trường để học :

Trường Công Lập, Trường Tư Thục và Trường Hàm Thụ

TRƯỜNG HÀM THỤ là trường… mà… hỏng ai tới trường ! Bất kể ai, vì hoàn cảnh gì đó không tới trường học trực tiếp được, thì cũng có cách học để tiến thân, đó là “học trường hàm thụ”. Nghĩa là, cứ… đi làm sở, làm sùng tà tà hay làm việc nhà nấu cơm hoặc cày sâu cuốc bẩm đồng sâu nước mặn…

Nếu muốn tiến thủ trong cuộc đời… thì ghi danh học Trường Hàm Thụ, trường sẽ gởi Bưu Điện bài học, bài làm tới nhà và làm bài xong, gởi bưu điện tới cho trường chấm bài, rồi trường gởi bài tiếp… Cứ thế… cứ thế… Chỉ tới ngày thi, thì thí sinh phải đi thi mà thôi… Bởi vậy, anh em nào có tinh thần cầu tiến, cứ học, nếu thi đậu thì đáng nể lắm !!!

TRƯỜNG TƯ THỤC thì học sinh phải “đóng tiền trường” hàng tháng và bằng Tú Tài cũng giống y như học sinh Trường Công Lập…

TRƯỜNG CÔNG LẬP là… trường công, học sinh không đóng tiền trường suốt 7 năm Trung Học… Đặc biệt, trường Công Lập nam nữ… lại cho học riêng, như :

– Nữ Trung Học : Lê Văn Duyệt, Gia Long, Trưng Vương… vv…

– Nam Trung Học: Hồ Ngọc Cẩn, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký, Lý Thường Kiệt, Quốc Gia Nghĩa Tử… vv… Mạc Đỉnh Chi (nam nữ cùng trường)

Ở trường công nam, Nam Sinh mặc đồng phục Quần xanh áo trắng… bỏ áo vô thùng, trên miệng túi áo, có ghi tên trường hẳn hẹ… nên đố thằng nào… dám hó hé! Ở trường công nữ, Nữ Sinh đồng phục là mặc áo dài trắng, quần trắng… Có… thời khắc “mấy nhỏ áo dài trắng”… bắt chước mấy cô ca sỹ Sàigòn, bận áo dài vạt “lửng”… còn tay áo thì kiểu “rặc lăn”… là… tay áo dài nối vô thân áo…

Mấy anh chàng Nam Sinh trường công vì học chung “tòn-là đực rựa”… nên nhiều thằng dòm… quí nàng áo dài… vạt lửng… bước đi với tà áo (cố tình) thước tha yểu điệu, tụi đực rực… áp nhau thấy, tụi nó… rụng rúng bầy bầy !!! Hì hì…

Bởi vậy, mới có chuyện, mấy “tay tổ” trường công nam, cúp cua vô Lăng Ông Sở Thú Tao Đàn… để “trồng cây si” mấy nàng áo trắng, thây kệ chuyện, bị… cồng-sing !!! Và… thấy tiếp… ở Sàigòn năm xưa…

Cây xăng nào cũng có “vòi bơm bánh xe gắn máy, xe hơi” đứng ở giữa hai trụ xăng… Đang chạy xe, thấy bánh xe mềm, tấp vô cây xăng, dựng xe trước “cây bơm”, lấy tay “quây” cây kim hơi, về số 5 (5 năm ký hơi)… rồi ung dung ngồi xuống, mở nấp vòi, ịnh đầu bơm hơi vô vòi ruột xe… để cho nó tự bơm, cây kim bơm hơi, quơ quơ nghe cạch cạch cạch, tới khi, nghe kêu cái teng, đủ hơi, là máy bơm tự động ngừng bơm… Bơm xe như vầy, nghe… nó phẻ cách gì, chớ 2 tay “thụt ống bơm”… mệt lắm !!!

Nhưng… úi chà… cứ bom cây xăng riết, ruột xe Honda tòn – là… nước không hà ! Biết được ruột xe có nước là do vô vá xe tại tiệm sửa xe “Sĩ Solex” kề bên trường Lê văn Duyệt và bên kia đường… có rất nhiều ruộng rau muống xanh um !

Trên đường Phan Đình Phùng Sàigòn 3, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng. Cho mướn sách là cho độc giả… mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang bìa, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày… răng rắc !

Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản… hỏng vui với Cảnh Hưng… Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn… hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, vì sách nằm trong kệ… đen nghẹt, bít kín từng trệt và 2 từng lầu… Ông Cảnh Hưng… tướng tá… hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học trò khoái lắm ! Thằng học trò nào mê Kiếm Hiệp, muốn luyện chưởng hay… muốn đột nhập “cái bang vài ba túi”… thì tới đây… tìm bí kíp !!!

Ông Cảnh Hưng… biết tẩy học trò hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười hì hì, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… là cái… giá-ghẽ-ghề…  Bởi vậy, học trò “mê đọc sách” Cảnh Hưng… quá xá cỡ là vậy đó đa !!!

Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách… theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ”…

Ông Cảnh Hưng có trí nhớ… siêu phàm tàn canh gió lốc…

Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ :

– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2…

– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà ?

– Thì ờ… người ta mượn hết ráo rồi, giờ còn cuốn 3… Cuốn 1 và 2 mai trả…

–… vậy đi… lấy tui cuốn 3… cũng được !

Ông Cảnh Hưng ra lịnh :

– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai !

Học trò Đệ Lục nghe ông Cảnh Hưng… nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất… thấy mà xám hồn luôn !!!

Ông Cảnh Hưng có quen với nhiều nhà xuất bản, như Yên Sơn (Phú Nhuận) chẳng hạn, khi đang sách in, ông… được ưu tiên “thộp” một mớ… đem về cho mướn trước, khi nào in đủ số, sách… mới phát hành ! Bởi vậy, coi sách “nóng hổi” là vậy !  Mỗi loại sách, Cảnh Hưng có ít lắm 15 bộ mới đủ cho mướn…

Đặc biệt, những cuốn sách hồi xưa, xa lắc, xa lơ… xuất bản từ hồi… bà cố hỉ cố lai 8 đời vương ông hoãnh… nhà Cảnh Hưng cũng có !!! Như cuốn Tôi Kéo Xe của Tam Lang hay cuốn Con Trâu của Trần Tiêu in năm 1940 hoặc cuốn Chồng Con in năm 1941 !!!  Biết “rõ” như vậy là do Cô dạy Việt Văn cho “thuyết trình” ở lớp những Tiểu Thuyết xưa, mà sách… xưa ơi là xưa, thì chỉ có ở nhà Cảnh Hưng !!! Thế là học trò Đệ Lục tức tốc mượn về, để… mần thuyết trình trong lớp…

Sách cho mướn, được bao thêm bìa giấy xi măng, trên đó, viết chi chít ngày mượn…

Ngoài ra, học trò muốn mượn “cuốn nào hây hây”, thì… hỏng hiểu “do đâu”, ông Cảnh Hưng liền nói tuốt luốt một lèo cho nghe, cái nội dung cuốn “sách hây” hoặc là bất kể cuốn nào mà học trò còn… mù mờ, nghe xong, thế là học trò mượn liền ! Ông Cảnh Hưng còn… quảng cáo cuốn sách… thứ dữ… “chỉ tao mới có”…

Sách nầy thuộc loại “cái ban môn phái” mà học trò khi ấy… đang muốn luyện thử !  Đó là cuốn Lục Tàn Bang (quên tên tác giả) Đây là cuốn sách viết về… cái bang bảy tám túi, coi… hay hết kỵ luôn:

Lục Tàn là 6 nhân vật (tàn tật) gồm : Thằng đui, thằng điếc, thằng mất 2 giò, thằng mất 1 tay, thằng mất 1 chưn, thằng cụt 2 tay. Thằng đui làm… Bang Trưởng Lục Tàn !!! (ối trời… *&%#?><… ) Sáu ông cố tàn nầy… luyện chưởng, luyện gồng, luyện nghe, luyện thấy, luyện chạy… thuộc hàng cao thủ võ lâm… để trả thù cho sư phụ bị sát hại năm xưa…

Giới giang hồ cho rằng “môn phái” đó bị tiêu diệt, khi 6 đệ tử sau cùng bị thương nặng trong rừng, không ai cứu chữa và ai cũng tưởng… chết hết rồi ! Mấy thằng học trò Đệ Lục coi say mê Lục Tàn Bang luôn !!! Có thằng còn “luyện thử”… cách dòm xuyên màn đêm của cao thủ Lục Tàn Bang !!! Bởi vậy, thằng nào… non tay ấn, luyện nhản riết, tới độ mang kiếng cận dầy cui, chớ ở đó mà đổ thừa “tại bị”… rồi nói dóc là “tao lo học” tới cận thị!!! Ba-xạo quá nha mấy cha!!!

Trên đường Phan Đình Phùng, sáng sáng có xe lấy rác, có gắn cái chuông kêu leng keng. Cuối hẻm 376 là đình Phú Thạnh, là chỗ con nít ưa tụ tập, thả diều, bắn đạn… Trước nhà số 380 Phan Đình Phùng Sàigòn 3 có “phong tên” nước công cộng… Ở đó có đông người “chuyên gánh nước mướn”, được bà con các hẻm xung quanh “mướn” gánh nước mỗi sáng sớm, gánh từng đôi nước về nhà… Mấy bà (cô) gánh nước khoái đọc cuốn tiểu thuyết Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên !

Nước phong tên ở đây được chảy từ cái sa-tô-đô cũng nằm ở đường Phan Đình Phùng… và và… nếu ai… hà tiện, thì khi khát nước, cứ lại phong-tên khòm lưng mở vòi uống… chùa… Bà con gọi là “uống nước khum”…

Cùng phe gánh nước mướn ở phong-tên, cũng có mấy người “ở đợ” nhưng được gọi nghe cho… nhẹ hơn là “con sen”, sáng sớm cũng ra gánh nước về nhà cho chủ… Lúc đó và sau đó, Tân Nhạc với điệu Boléro thịnh hành trên khắp nẻo đường và có nhiều bản nhạc “hợp với tâm trạng – hoàn cảnh” nên Ca Sỹ thứ thiệt hát là rung động trái tim, nên được mấy bà chị gánh nước khoái, cứ nhè mấy bản đó hát mãi, tiếng ca “nhảo nhẹt” mà hát… hoài hoài hỏng biết chán, bà con nghe riết phát nhàm…

Dần dà, cộng thêm mấy chị… ma-ri-sến ”làm sở Mỹ”, rồi dân vũ nữ quán Bar, phòng trà… thuộc loại quá “date”… cũng hát những bản điệu Boléro thịnh hành ! Ma Ri Sến thất nghiệp cũng về gánh nước và cũng hát “bản tủ” như mấy chị kia… Cứ hát riết, phát ngấy, bà con gọi giọng hát đó là… giọng rên… ma ri sến !!!

Mấy chị… sáng sớm vừa chờ nước vô thùng vừa hát tân nhạc véo von, chỉ có vài bài tủ, mấy chị cứ hát riết nghe… phát mệt… (Đã vậy, nó còn “cộng hưởng” rồi “trùng tên” với… cái vụ con gái rơi của ngài thượng sĩ – tổng thống da đen Bocasa bên châu phi, tên cô là Mary… Cô Mary gái lai đen nầy ở vùng Ngã Năm chuồng chó, ngài tông-tông Bocasa nhờ báo Trắng Đen tìm dùm, thế là cô Mary… trở thành ngọc ngà châu báu… ) Và “miệng thế gian”… đặt cho chết tên cho giọng ca… mới nổi, giọng ma-ri-rến !

Giọng marisến… làm mệt lỗ tai… thính giả ! Hát “bản nhạc tủ” miết, làm cho nó… lờn, tới độ, bà con nằm nhà hay đi ngang… nghe… thì biết là tiếng hát của con Sến nào !!! Khi ở nhà bà chủ, tên là Con Sen, sau đó, nàng ra Vũng Tàu làm “ma ri sến”… ở mấy cái Bar Thiên Thai, Ạc-ăng-Sen… ở Bãi Trước… Vì vậy, giọng ca con sen hay con sến… đều như nhau… Và bà con… giận, khi nghe hoài mấy bản nhạc “tủ”, nên nói : – Mấy con nhỏ đó… là sến nướng… nên ca hoài !!! – Mấy con sến đó… ca đi ca lại miết, nghe mệt thấy mẹ !!!

Ở đầu đường Phan Đình Phùng, có nhà số 3 đó là Đài Phát Thanh Sàigòn… Ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt có tòa đại sứ Miên, bên kia đường là cây xăng rất lâu đời và ở ngã tư nầy, năm 63 hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu… Cũng ở ngã tư nầy, có tiệm cơm tàu, ở đây có món “cơm thố”… ngon bá chấy !!! Cơm thố được hấp trong cái xửng tre có cả chục ngăn, thố là chén nhỏ rí, chừng 3 muỗng cơm, vì vậy, ăn xong, thố chất 1 chồng 15 cái… cao như núi !!! Một số… dân chơi cầu 3 cẳng, loại tứ hải giai huynh đệ… tới ăn cơm thố ở đây, ý là, để khoe chồng thố cao nghệu… để “lấy le” với thiên hạ… đó nha bà con !!!

Phan Đình Phùng… cụng vô đường Lý Thái Tổ… ngay tại ngã ba… Ở ngã ba nầy, có Phòng Trà Lệ Liễu và chủ Phòng Trà là chị Ba Liễu ! Quán “Chị ba Liễu” là chỗ gặp mặt mỗi chiều tối của rất nhiều Nhạc Sỹ – Ca Sỹ Sàigon trước khi đi hát Phòng Trà hay Hát Rạp hoặc quán Bar… Đây là “quán ruột” của Thanh Kim, Đệ Nhất Danh Cầm Hạ Uy Di… DK, MLH, GL… hát ở Phòng Trà Lệ Liễu cho khách (rất đông) thưởng thức…

Thí dụ : DK ca bài Ai Ra Xứ Huế thì chị ba Liễu “trả công” là 1 ngàn 8… Có “chàng – lính” bận đồ trận bốn túi, đội Bê Rê đen, vì là em (đệ tử) của Thanh Kim, nên chàng ta… xâm mình, bậm gan, đổ lỳ, dám… thót lên sân khấu Lệ Liễu để hát bài Đường Xưa Lối Cũ và bài Tàu Đêm Năm Cũ… (cũ mèm không hà) .

Chàng hát… một cách khơi khơi, trong khi Nghệ Sỹ thứ thiệt ngồi lủ khủ ở đó… Chàng lính trận nầy, vì ỷ có Thanh Kim… lo, nên hỏng lo trật nhịp, chàng ta cất tiếng… véo von liên tiếp hai bài tân nhạc, thì Chị Ba Liễu… coi bộ… nghe được được, chị… tức tốc tiến ra sân khấu, liền… móc bóp, xỉa cho chàng 9 trăm đồng… gọi là “lính góp vui”, rồi Chị Ba còn… xúi… (quá đã) – Đêm nào, nếu rảnh… em tới hát nhen !!! Lính mà… hát vậy, được đó…!!!

– Dà dà… $%%$!!! (vô mánh) Anh chàng lính nầy, về đơn vị… móc xấp tiền, dứ dứ lên trời… hét: – Bữa nay, tao đãi anh em cả làng một chầu… cơm tấm – cà phê – thuốc lá !!! – Chắc còn… dư bộn tiền đó ông thầy !!! – Thì thì… Băm 3 mí lỵ tôm khô củ kiệu… cho sạch nhách luôn !!! – Hoan hô thẩm quyền !!! – Hé hé… cho xin chữ ký đi ông… khò khò…

Phòng trà Lệ Liễu là chổ Nghệ Sỹ Sàigòn… tụ lại nói dóc, trước khi đi hát… Và cũng là chỗ “tụ tập” của những tay tổ đờn vọng cổ Văn Vỹ, Năm Cơ, Ngọc Sáu… Khi Ca Sĩ hát xong tới khua, trước khi về nhà, lại tụ nhau ở quán Cháo Đêm sau hàng cây… dái ngựa cổ thụ ở đường Hồng Thập Tự, quán cháo cũng gần đường xe lửa từ bên đường Phan Đình Phùng chạy qua…

Cũng ở đường Phan Đình Phùng, ngay trong vòng chợ Vườn Chuối là nhà của Soạn Giả Nguyễn Phuong, khi ấy anh Nguyễn Phương có đứa con gái nhỏ cỡ trên 10 tuổi và nó cùng với Ba Má… đặt lời thoại cho vở cải lương !!! Cô gái nhỏ cùng ba má ngồi 3 góc trong phòng, đóng làm 3 nhân vật… nói chuyện, rồi đánh máy luôn, đó là ”làm thoại” để Nguyễn Phương “lấy câu trẻ con” soạn tuồng cải lương… Đó là cách Nguyễn Phương đang soạn tuồng và… bị bắt tại trận… hì hì…

Nguyễn Phương là Đạo Diển cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga và mỗi tuồng cải lương được đánh máy sáu bảy bản để cho anh em “nhắc tuồng” đứng sau màn nhung hay cánh gà… đọc câu cho Đào Kép đứng ở ngoài sân khấu… nói hay ca !!! (cứ tưởng Đào Kép học thuộc lòng hết vở tuồng, hỏng có đâu nhen !!!)

Từ ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt chạy lên tí nữa là Ngã 6 Sàigon, ngay “bùng binh” ngã 6 nầy, có xe lửa chạy qua và là chổ bắt đầu của đường Yên Đổ, ở đây, trên đầu đường Yên Đổ,có khu Kiều Lộ (sửa, tráng dầu đường hư… ) Nằm chung trong khuôn viên khu Kiều Lộ… là Sở Phú De đó đa!!! Phú De là chổ… nhốt chó chạy rong, bị “xe bắt chó” bắt được trong đường phố! Ai mất chó, cứ vô Phú De tìm là y như rằng… nó ngự ở đó và bỏ tiền chuộc chó về! Bởi đó, hồi xưa, DA trong báo CO có viết bài Phú De Giao Chỉ, đọc nghe nhức xương Trong khu Kiều Lộ nầy có cái… cưa tay, bự chà bá, dùng xẻ gổ lóng…

Ở đây có Kỹ Sư Bê và Hồ Lợi và Hồ Lợi là dân chơi tài tử… chánh cống bà lang trọc. Trong văn phòng khu Kiều Lộ của Hồ Lợi… có tùm lum… đờn cò, gáo, xến, ghi ta thùng, ghi ta phím lỏm… treo tá lả trên tường, để nhân viên nào… quởn mà khoái đờn vọng cổ thì cứ vô… tập dợt thả giàn và… Hề Minh và danh cầm Thanh Kim, Tạo Minh Đời… vv… xuất thân từ đây ! Hề Minh là danh hề diễu có tiếng trên bầu trời Cải lương một thời…

Tạo Minh Đời cười được 18 giọng riêng biệt và còn có khiếu một mình vừa nói giọng ông nội, giọng cháu nội trai, gái, giọng con gái… rất hay, giống y giọng… như trong “gia đình bác tám”… nhất là giọng chó mèo cắn lộn… là nghe hay hết phản luôn ! Nhứt là… mở đầu câu… a… bê… cê… ca… nháy giọng xe lửa đề pa… của bản Chuyến Xe Lửa Mồng Năm của Trần văn Trạch… y chang Trần văn Trạch !… nhưng “hỏng có thời” nên anh Đời không nổi tiếng như anh Minh và anh Kim… Thanh Kim là Đệ Nhất Hạ Uy Di Cầm chuyên đờn 6 vọng cổ… nhưng né… ló mặt trước bàn dân thiên hạ truyền hình,

Thanh Kim chỉ đờn cho gánh hát và chơi tân nhạc cho quán Bar và Phòng Trà và học trò Thanh Kim là TKH… – Anh Kim, sao anh chỉ “thâu dỉa” mà hỏng thấy anh lên sân khấu hay truyền hình ? – Tao… xí-giai thấy bà… miệng rộng tàn hoạt, cười hô hố, tướng tá như đấu bò ! – Thì… có sao đâu… – Tao… trốn… để khán thính giả tưởng tao… đẹp trai đó mầy… hỏi hoài !!! – Ờ ờ… hehehe…

Năm 1965 đường Xa Lộ Saigon – Biên Hòa làm xong và dọc bên đường xa lộ đang đào để xuống ống cống vuông vuông lọt lòng trên 2 mét của Sàigòn Thủy Cục… Lúc đó, chạy xe gắn máy ở Xa Lộ thiệt… là êm, êm như mơ… Do đó, mấy tay anh chị… mới dám đi Gobel, Sachs, Rummi… chui lòn qua bụng xe be trên có 3 lóng gỗ… dài thòn bự tổ kền, đó là… chọt lét tử thần !!!

Cũng thời… xa xưa ấy, khi chở “người đẹp” ngồi đằng sau Xe Gắn Máy thì hai chân người đẹp Để Về 1 Bên, không Cô nào… dám gác cẳng 2 bên !  Nếu xe chở là chiếc Vespa Spring… thì thấy “nàng” ngồi sau… ôm eo ếch bác tài… thì… thì… ngó, thấy… đẹp như mơ luôn !!! Còn nói gì “mấy nhỏ áo dài trắng” đi Vélo Solex… thì dòm… hết phản nghen!

Gỗ rừng đem về đổ đống ở chỗ ngã ba xa lộ đi Vũng Tàu, nên ngã ba nầy có tên Ngã Ba Bến Gỗ… Từ ngã ba Bến Gỗ tới một xí là Căn Cứ Long Bình của Quân đội Mỹ… Chỉ mỗi phút buồn mà… quá xá chuyện xưa tích cũ…(theo Chàng Hiu 374)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

ĐÈN HOA KỲ VÀ

HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

Nước Mỹ còn được gọi là Hoa Kỳ hay Huê Kỳ (cờ hoa). Danh xưng này đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19 qua thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ”. Vũ Trọng Phụng trong Vỡ đê, xuất bản năm 1936, có đoạn viết “Dung tìm bao diêm ở ô kéo, đốt một cây đèn Hoa Kỳ lên, tắt phụt ngọn lửa ở đèn dầu xăng. Nhìn ra sân, thấy trời tối om, Dung bèn bỏ bao diêm vào túi…”. Nguyễn Công Hoan trong Nhớ và ghi về Hà Nội giải thích “Đèn Hoa Kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn dầu hoả. Muốn bán được dầu hoả, nó phải làm đèn cho người mua dầu dùng (…).

Như vậy, thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ” (còn gọi là đèn “hột vịt” tại miền Nam), đốt bằng dầu hỏa (còn gọi là dầu lửa hay dầu hôi), đã xuất hiện từ rất lâu, trước khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam. Người ta còn dùng từ ngữ dầu Tây để gọi dầu hỏa khi mới du nhập vào Việt Nam. Ngày xưa, loại dầu này được đựng trong thùng sắt tây. Loại thùng này sau khi đựng dầu được tái chế thành thùng gánh nước hoặc cắt ra làm các vật dụng khác như đồ chơi cho trẻ em.

Một trường hợp tiếng Anh khác đã du nhập vào Việt Nam từ lâu là trò chơi của trẻ con : “Oẳn tù tì” dịch từ “One, Two, Three”. Hầu như mọi người Việt đều đã từng ra cái búa, cái kéo hoặc cái bao sau khi đọc câu “Oẳn tù tì. Ra cái gì ? Ra cái này !”. Hai người chơi và có một trong 3 lựa chọn, cái búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao và cái bao lại bao được cái búa.

Về mặt giáo dục, tiếng Anh du nhập miền Nam qua hai thời kỳ, dưới hai dạng ngôn ngữ : tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Thời Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), tiếng Anh song song với tiếng Pháp, được chọn làm sinh ngữ chính và phụ, tùy theo sự lựa chọn của học sinh từ bậc Trung học (lớp Đệ thất trở lên). Đệ nhị Cộng hòa (1963-1975) là thời thịnh hành của American English tại miền Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì sự có mặt của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

OK (okay) có lẽ là một từ nổi bật nhất trong tiếng Mỹ được sử dụng rộng rãi tại miền Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Một số người cho rằng từ này bắt nguồn này bộ tộc da đỏ Choctaws ở Châu Mỹ. Chữ “okeh” của người Choctaw có nghĩa tương tự như từ OK của người Mỹ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều tranh cãi về thuật ngữ này.

Theo chuyên gia ngôn ngữ Allen Walker Read, OK là dạng viết ngắn của cụm từ “all correct”. Những người khác thì cho rằng OK là dạng chữ tắt của các từ Hy Lạp có nghĩa là mọi thứ đều ổn cả. Không phải ai cũng đồng ý với những giải thích này nên kết luận hãy còn bỏ ngỏ.

Number one cũng là một cụm từ được dùng thường xuyên tại miền Nam với ngụ ý… số dzách hay số một. Người bình dân dùng number one thay cho good chẳng hạn như trong câu tiếng Anh “bồi” “You number one !”. Phản nghĩa với number one sẽ là number ten, hoặc tệ hơn nữa là “nâm-bờ ten tháo giường” được Việt hóa từ “number ten thousand” (số mười ngàn). Ai dám bảo là dân Việt không có óc khôi hài ?

Cao bồi là thuật ngữ đã đi vào ngôn ngữ miền Nam khi hàng loạt các loại “phim miền Tây” (Western movies) hay còn gọi là “phim cao-bồi”, được chiếu tại các rạp xi nê. Cowboys vốn là những chàng trai chăn bò, có người hành động một cách nghĩa hiệp “trừ gian diệt bạo” nhưng cũng có những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” trong bối cảnh Miền Tây Hoang dã (the Wild Wild West) tại Hoa Kỳ thời lập quốc. Từ ngữ cao bồi sau khi du nhập vào miền Nam lại có những biến thể về ý nghĩa. Người lái xe cao bồi được hiểu là lái ẩu, ăn mặc cao bồi là diện những bộ quần áo lố lăng, khó coi…

Tôi còn nhớ, ngày xưa thường hát Học sinh hành khúc của Lê Thương với những lời ca tụng một thế hệ học sinh của tương lai đất nước “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau. Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…” Thế nhưng bài hát này đã được mấy cậu học trò cải biên thành: “Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô. Thầy trò là người hủ tiếu ăn hai ba tô…” Chả là học sinh chỉ có đồng phục quần xanh-áo trắng nên anh nào mặc áo ca rô thì bị “chụp mũ” là học sinh cao bồi. Còn cái vụ hủ tiếu mà ăn tới “hai, ba tô” thì phải “xét lại”, có thể vì “bí vận” nên câu trước “áo sơ mi ca rô” câu sau có vần “hủ tiếu ăn hai ba tô” chứ học sinh làm gì có tiền mà ăn nhiều đến thế.

Cũng xin nhắc lại chuyện phim ảnh của Sài Gòn xưa. Để diễn tả một một sự kiện có tính cách kinh dị, người ta còn dùng từ ngữ “hít-cốc”, xuất xứ từ cái tên của đạo diễn Alfred Joseph Hitchcock, “ông vua phim kinh dị” của nền điện ảnh Hoa Kỳ với khoảng 50 bộ phim kéo dài suốt 6 thập kỷ. Người Sài Gòn đã có dịp xem rất nhiều phim hít-cốc “toát mồ hôi lạnh” như The Man Who Knew Too Much (1956, với James Stewart và Doris Day – trong phin này Doris Day hát bài What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất); Vertigo (1958, với James Stewart, Kim Novak); Psycho (1960, với Anthony Perkins, Janet Leigh); The Birds (1963, với Tippi Hedren, Rod Taylor)…

Một trong những tác động của người Mỹ đến miền Nam trong cuộc chiến vừa qua là hiện tượng xì-nách ba (snack bar) mọc lên như nấm sau cơn mưa tại Sài Gòn. Khác hẳn với snack bar nguyên thủy ở Hoa Kỳ, thường được hiểu là nơi bán các loại thức ăn nhẹ (snack) như hot dogs, hamburgers, french fries, potato chips, corn chips… còn kèm theo đồ uống. Sang đến Việt Nam, xì-nách ba trở thành nơi lui tới của những người lính Mỹ xa nhà để uống rượu giải sầu và được phục vụ bởi các cô gái bản xứ.

Họ thường là gái quê, ít học và có chút nhan sắc, ăn mặc “thời thượng” với chiếc mini jupe ngắn cũn cỡn. Gái xì-nách ba, hay còn gọi là gái bán ba, thường chỉ ngồi uống nước ngọt hay nước trà với khách nên lính Mỹ gọi đó là Saigon Tea. Các cô làm ở xì-nách ba không hẳn là gái điếm vì không phải cô nào cũng “đi khách”. Cũng từ các cô gái bán ba phát sinh ra loại tiếng Anh “giả cầy” kiểu “broken English”. Người ta nghe loáng thoáng trong câu chuyện giữa các cô “đấu hót” với lính Mỹ “Hello GI, you buy me Saigon tea” (Chào anh lính, anh mua cho em ly Sài Gòn ti nhé) hay còn rùng rợn với câu “No star where”, một cụm từ trấn an mà các cô dịch thẳng từ tiếng Việt: Không sao đâu !

Kinh doanh xì-nách ba là một nghề hái ra tiền tại Sài Gòn bên cạnh những dịch vụ như tắm hơi (steam bath), mát-xa (massage) nhưng cũng chính các nghề này đã khiến cuộc sống trong xã hội mất đi sự lành mạnh, đưa đẩy một số phụ nữ vào con đường tội lỗi. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu đó là những hệ quả không thể nào tránh khỏi của một đất nước trong tình trạng chiến tranh. Xã hội miền Nam bên cạnh nghề thu hút một số người làm việc tại các quán ba còn có một giai cấp cao hơn, họ làm việc cho các hãng thầu tư nhân của Mỹ như hãng RMK được thành lập từ đầu thập niên 60 với các công trình xây dựng xa lộ Biên Hòa, quốc lộ 4 tại Phụng Hiệp… hoặc các cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ như USAID.

Nói chung, họ là những người đi làm sở Mỹ với mức lương cao nhưng phải đạt một trình độ tiếng Anh khả dĩ trong công việc hàng ngày. Những người có trình độ cao hơn thì làm thông dịch viên, ngay như Trường Sinh ngữ Quân đội cũng có những khóa đào tạo thông dịch viên đồng hóa với cấp bậc trung sỹ để về phục vụ tại các tiểu khu có cố vấn Mỹ.

Cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 là thời kỳ Sài Gòn chịu ảnh hưởng từ của phong trào hippy (hippie) của Mỹ. Người ta thấy xuất hiện những từ ngữ có liên quan đến hippy như hoa hippy, hippy bụi đời, hippy choai choai, hippy yaourt…Những kiểu thời trang hippy cũng xuất hiện: váy ngắn (mini jupe, miniskirt), quần ống loe (quần chân voi), áo dài hippy thì ngắn cũn cỡn mặc chung với quần ống loe còn con trai thì tóc dài đến độ nhìn từ xa không thể nào phân biệt được giới tính… Văn hóa hippy bao gồm từ phong cách ăn mặc “bụi” đến những tư tưởng phóng khoáng, chống lại những quy ước cứng nhắc của xã hội. Có thể nói, phong trào hippy là biến tấu của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) theo kiểu “yêu cuồng, sống vội” với Jean Paul Sarte, Françoise Sagan từ văn hóa Pháp.

Cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã nở rộ tại Mỹ với khẩu hiệu “Make love not war“. Biểu tượng của phong trào hippy là hoa không lá (còn gọi là hoa hippy), đó là hình tượng của Power Flower (sức mạnh của hoa) được bắt đầu từ năm 1965 tại khu Berkerly, California. Người ta còn nhớ mãi hình ảnh một cô gái hippy đã gắn hoa trên họng súng của một quân nhân thi hành nhiệm vụ giữ trật tự trong một cuộc biểu tình phản chiến.

Ở Sài Gòn, các người đẹp gắn hoa hippy lên tóc, cài lên tai, dán lên mắt kính để làm duyên. Người ta còn vẽ hoa lên xe hơi, lên xe Honda, thậm chí đôi lúc còn thấy hoa hippy xuất hiện trên cyclo, xe ba gác, xe bò. Cô em gái tôi có một chiếc áo khi ủi đồ bị than rớt cháy thủng một lỗ, thế là cô gắn luôn một cái hoa hippy, trước là để “ngụy trang” sau là chạy theo… thời trang ! Có thể nói Sài Gòn khi đó giống như Trăm hoa đua nở, nhại tên một chiến dịch ở miền Bắc thời đó.

Có thể nói, phong trào hippy cũng lan rộng đến người lính nhưng nói chung, những người lính trận mỗi khi có dịp đi phép về thành phố chắc chắn không thể chấp nhận lối sống hippy của các thanh niên, thiếu nữ tại chốn phồn hoa đô hội. Những người hằng ngày phải đương đầu với súng đạn làm sao có thể “thông cảm” với những người hằng đêm đi “bum” tại các phòng trà, dancing.

Một đằng thì phải hy sinh tính mạng để “tham chiến” còn một đằng thì lại ăn chơi để “phản chiến”. Đó là một trong những “mâu thuẫn” trong chiến tranh Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một trong những lý do khiến miền Nam sụp đổ ? (nguồn Facebook Kim Chi)

Kiều Văn chuyển tiếp

ÔNG TẠ

VÀ NHỮNG NƠI KHÁC

THIÊN ĐƯỜNG VÀ HỎA NGỤC KẾ NHAU

Khu vực Ông Tạ – tính từ chợ Phạm Văn Hai, qua cầu bắc trên một khúc kênh Nhiêu Lộc, chạy thẳng luôn tới đường Cách Mạng Tháng Tám, dài chưa đầy một cây số nhưng tồn tại không dưới chục hàng bán thịt chó. Người mua không cần xuống xe, cứ tấp sát lề đường là có thể tiếp cận những sạp thịt chó. Không giống thịt heo, thịt chó màu đỏ, thớ nhỏ, tầng thịt không dầy, rất ít mỡ, bì vàng rộm (vàng không do thui rơm mà do đèn khò). Giá thịt chó không rẻ, nhưng với người ‘trót mang lấy nghiệp vào thân’, không ai cò kè. Thịt chó tươi bán buổi sáng, tầm trưa là tan. Buổi chiều tối, là giờ của tửu đồ tấp nập rủ nhau ‘đi Ông Tạ hạ cờ tây’.

Mùi thịt chó nướng thơm điếc mũi, khói dầy đặc, la đà như sương mù thành London. Tiếng hô ‘một hai ba, dzô’ sang sảng, nhịp nhàng. Tiếng xe nẹt bô, tiếng cười nói chen nhau sôi nổi, có cảm tưởng ‘hào khí Thăng Long’ đang tụ hết về bàn nhậu thịt chó của anh hùng quân tử đất phương Nam. Một hảo hán nhai miếng dồi chó, thêm lá mơ, lát riềng mỏng, nghiền ngẫm một chốc rồi ngâm ư ử : ‘Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không’.

Tiếng vỗ tay tán thưởng rộ lên. Bia rượu chảy như suối. Thịt chó nướng, rựa mận, xáo (măng) chó, bưng lên tới tấp. Ai cũng sảng khoái khen thịt chó mắm tôm, riềng mẻ, lá mơ đáng mặt quốc hồn quốc túy.

Ấy vậy mà chỉ cách ‘làng thịt chó’ chưa tới chục thước, Ken’s House sừng sững mọc lên, như một sự đối đầu. Ken’s cũng chưng hình chó, cũng mời khách vào ‘zui zẻ’ nhưng không có bia bọt, không có chó bảy món, mà ngược lại, ‘hầu hạ’ chó, cưng quý chó như trời. Lạ một điều là dù đã khai trương cả năm, lại ngay mặt đường, có bảng hiệu hoành tráng nhưng nhiều cư dân khu vực Ông Tạ khi được hỏi về Ken’s House vẫn xài ba ngoại ngữ trong một cái lắc đầu dứt khoát: ‘ngộ nô biết’

Một ngày, một bạn già đưa kẻ viết bài đi ‘thám hiểm’ Ken’s House. Ðó là quán cà phê hai tầng. Tầng dưới bán quần áo, đồ chơi, thuốc bệnh, thức ăn… cho chó, kiêm giữ xe. Tầng trên là nơi khách uống cà phê, chơi với những chú chó giống Alaska to khỏe, đẹp mã. Khách uống cà phê có thể chìa hạt khô mời ‘cẩu xực’, cũng có thể ngồi bệt trên nền nhà, ôm chó nựng nịu, chụp ảnh hoặc vừa uống cà phê vừa chơi đùa với chó. Giá cà phê chó khá mềm, 25,000 một ly nhựa coffee to go (chỉ có cà phê đá, không ‘chơi’ cà phê phin, cà phê nóng). Trong khi các quán cà phê chó khác như Hachiko (số 14 đường Hoa Sữa), Dorae Dog Coffee (47 Nguyễn Phi Khanh), Cheryl Kitten Coffee (25/4 Tôn Thất Tùng) có nhiều giống chó lớn nhỏ khác nhau thì Ken’s House chỉ chuộng giống chó Alaska.

Anh chủ tiệm giới thiệu chó Alaska là giống chó Bắc cực. Người Eskimo, người Nga từ xưa đã biết dùng loại chó này kéo xe đường dài. Ðặc điểm để phân biệt chó Alaska với chó khác, nhất là chó giống Husky (cũng là chó kéo xe vùng tuyết) là dù thân màu xám hay đen thì bốn chân và mõm chó Alaska cũng tuyền một màu trắng, đuôi cong ngược lên lưng, mắt màu nâu.

Chó Alaska rất thân thiện, không sủa, không hiếu chiến, nên dù tầm vóc to cao không kém bẹc giê cũng không thể dùng coi nhà, canh trộm.

Một con Alaska dao động từ chục triệu tới cả trăm triệu tùy thuộc xuất xứ. Rẻ nhất là chó made in Viet Nam. Ðắt nhất là chó nhập thẳng từ Nga. Bầy chó ở quán hơn chục con, đều ra đời ở ngay khu Ông Tạ này, được nuôi dưỡng, yêu thương, cho học hành tử tế.

Kể cũng lạ ! Ông Tạ khét tiếng là điểm tập kết chó bị bắt trộm, bị mua bán đường dài, bị giết mổ, làm thịt. Dám chọn nơi ‘địa ngục trần gian’ để mở ‘thiên đường dương thế’ cho chó, phải nói là một hành động dũng cảm và khá táo bạo của nhóm năm chàng trai trẻ-  năm ngự lâm… không kiếm

Nơi khác !

Xu thế cà phê thú cưng ở Sài Gòn hai năm trở lại đây được khá nhiều bạn trẻ, nhất là cư dân @ hưởng ứng. Ban đầu vì ‘kết mô đen’. Sau thì ‘kết’ thật. Và kết, là chết…tiền. Một quán cà phê ‘chết’ như vậy là cà phê Ichi, một cái tên rất Nhật Bản, có nghĩa là number one- Số Một.

Nếu coi Ken’s House bên Ông Tạ là thủ đô chó thì phải gọi Cà phê Ichi là vương quốc mèo vì số mèo tại đây khá hùng hậu – 26 con ! Toàn mèo ngoại quốc ! Hèn thì mèo Xiêm. Khá hơn thì mèo Anh. Oách nhất là mèo Ba Tư. Mỗi mèo nặng không dưới 3 kg, sở hữu bộ lông vân ám (vằn như mây cuộn), lông xám, lông sô cô la… êm như nhung, mềm như lụa. Tại quầy tiếp tân ngoài hiên, có bán những phụ tùng mèo made in Japan, khách nộp phụ thu 40,000 đồng (tiền chơi mèo). Sau đó gọi đồ uống, trả tiền luôn, trước khi đẩy cửa kính bước vào trong. Vài em gái bị ‘cú đờ phút’, choáng váng ngay lần đầu tiên thấy mèo Ba Tư lông dài, đài các. Các em reo lên, hè nhau ôm mèo, hôn mèo, chụp ảnh lia lịa. Sự ồn ào của đám khách teen có vẻ không được hoan nghênh. Những con mèo mặt tịt đang cuộn khoanh ngủ trong đủ loại tổ ấm ngộ nghĩnh dưới sàn nhà lục tục thức dậy, nhanh nhẹn leo lên hành lang trần nhà, tỵ nạn.

Một khách quen của quán, chị Anna, đến từ Châu Âu, nhẹ nhàng nhắc :‘Bảng quy định dán đó, các bạn đọc đi. Cấm chụp hình có flash, không kéo đuôi, kéo tai mèo, không làm ồn để mèo khỏi bị kích động, sợ hãi…’. Anna kể công ty nơi chị làm việc cũng trên đường Trần Quang Khải, chỉ cách cà phê Ichi một ngã tư. Vào giờ lunch time, chị hay tới đây để ‘đỡ nhớ con Kitty bên nhà’. Cô phục vụ cho biết ‘Muốn có đàn mèo sạch sẽ, béo tốt, đủ sức giữ chân khách, Ichi không thể mở cửa sớm trước 10 giờ rưỡi sáng. Làm gì trễ thế? Dạ, tắm nước nóng cho mèo rồi chải lông, cho ăn, lau dọn. Không như chó, mèo leo trèo, chui rúc bất cứ chỗ nào. Vì thế, bàn ghế, trần nhà, sàn nhà, dính nhiều lông mèo. Quán theo tiêu chuẩn cà phê mèo Nhật Bản, đòi hỏi thơm sạch tuyệt đối nên rất cực! Thế công xá… Dạ, chủ yếu yêu mèo mà làm, không phải vì tiền.

Ngoài cà phê chó, cà phê mèo, hoặc cà phê chó mèo hỗn hợp, Sài Gòn còn cà phê bò sát. Hiện tại, khuynh hướng cà phê thú cưng đang bung nở tại Sài Gòn và một vài tỉnh lân cận như Ðồng Nai, Bình Dương. Hy vọng đấy chỉ là biểu hiện của khuynh hướng đa dạng hóa loại hình cà phê giải khát (kiểu cà phê sách, cà phê chim, cà phê thiền, cà phê vườn, cà phê võng…) thay vì là chỉ dấu của sự cô đơn, nghi kỵ, chán đời, chán người.

Kiều Văn chuyển tiếp

LỜI VỢ DẶN

Ruộng nhà không chịu thâm canh

Không lo cày xới, để dành cho ai ?

Trốn đi cày mướn bên ngoài

Sức đâu còn để trồng khoai ruộng nhà.

Mấy lần chót dại…đã tha

Lần này phải quỳ giữa nhà xử nghiêm

Từ nay nhiệm vụ mỗi đêm

Trước khi muốn ngủ phải xem ruộng nhà !

Phải xem lượng nước chảy ra

Nếu ra nhiều quá… kiểm tra quanh bờ

Nghiêm cấm không được thờ ơ

Chuẩn bị dụng cụ rồi chờ lệnh tôi !

Phía trên còn hai quả đồi

Đất đai, màu mỡ… lâu rồi để không

Tranh thủ dạo lên vài vòng

Khi nào tới đỉnh là xong một ngày

Nhớ lời vợ dặn hôm nay

Nếu không thực hiện… cút ngay khỏi nhà

Điều ước

Cặp vợ chồng 60 tuổi đang tổ chức kỷ niệm đám cưới bạc của họ ở bãi biển thơ mộng. Bỗng một bà tiên từ đâu xuất hiện và ban cho mỗi người một điều ước. Không tin đây là sự thật, cả 2 vợ chồng đồng thanh đáp :

– Có thật không vậy ?

Bà tiên nhìn họ với ánh mắt trìu mến nói:

– Tất nhiên rồi.

Thấy vậy, người vợ nhanh nhảu đáp :

– Tôi muốn đi du lịch vòng quanh thế giới.

Ngay lập tức người vợ có trong tay tấm vé.Tới lượt người chồng, ông liếc nhanh bà vợ rồi bẽn lẽn nói :

– Tôi muốn bà ấy trẻ hơn tôi 30 tuổi.

Bum ! Bà tiên vung đũa thần, biến ông chồng thành cụ già 90 tuổi, rồi biến mất.

– !!!

Bố thắng con

Một ông bố suốt ngày phàn nàn với thằng con :

– Trai tráng ngần này tuổi đầu rồi mà vẫn không tài nào có được con bồ, thằng này kém quá !

Thằng con gân cổ :

– Bố có giỏi thì tán thử xem, con với bố ra ngoài kia, thi xem thằng nào tán được trước ?

Hai bố con ra ngõ ! Thấy một cô bé rất xinh đi xe đạp lướt qua, anh con nhanh nhảu tán tỉnh :

– Em ơi anh yêu em, em có yêu anh không ?

Gặp đúng cô đanh đá, cô này ngoái lại :

– Yêu yêu cái thằng bố mày ý!

Ông bố nhảy cẫng lên :

– Đấy ! Thấy chưa… Mày thua tao rồi! !!!!

Yên Nhàn chuyển tiếp

“SẾN” HAY “SANG” ?

logo-phiem

9-ng-ngoc-chinh“SẾN” HAY “SANG”?

– Nguyễn Ngọc Chính

Kho từ vựng Sài Gòn xưa có một thuật ngữ đã đi sâu vào cuộc sống và cho đến ngày nay người ta vẫn còn dùng với hàm ý miệt thị, chê bai hay chí ít cũng là đánh giá thấp.  Chỉ một chữ “Sến” cũng đủ để gây nhiều chuyện bất bình, thậm chí còn khiến người ta phải đỏ mặt tía tai vì tranh cãi.

Một bức thư tình mùi mẫm với những lời lẽ như “… đêm nay trăng thượng tuần lên cao, anh nhớ em vô vàn, em có biết chăng em một kẻ si tình đang độc hành trong đêm lạnh lẽo ?” sẽ bị cho là “thư viết theo kiểu… sến”. Nhiều người cho rằng tán gái theo kiểu sỗ sàng “Em đi đâu đó cho anh theo cùng ?” cũng là một cách tống tình theo kiểu… sến. Cô gái áo quần lòe loẹt có tông màu xanh đỏ chỏi nhau thế nào cũng bị xem là “diện theo kiểu… sến”.

Bước sang hội họa, họa sĩ Trịnh Cung lại khẳng định, “Trong tranh vẫn có “sến” chứ ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân…”. Tranh vẽ của Lê Trung (1) thường xuất hiện trên các báo “lá cải” như Phụ nữ Diễn đàn,  Sài Gòn Mới… và dĩ nhiên những tạp chí này cũng được xếp vào loại báo… sến !

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc của chữ “sến”. Cho đến nay, có rất nhiều cách giải thích trong việc truy tầm từ nguyên.

9-sen-sang-1-le-trungGiáo sư Cao Xuân Hạo (2) giải thích, “Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở […] Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị.”.

Lối giải thích từ “sen” biến thành “sến” có thể tạm chấp nhận nhưng kể cũng lạ khi giáo sư Hạo theo chuyên ngành ngôn ngữ học lại dùng cụm từ “khẩu vị thấp hèn”. Thường khi nói đến “khẩu vị” người ta liên tưởng đến cái “gu” trong ăn uống chứ làm sao lại có được “khẩu vị” trong văn chương, nghệ thuật ?

Có một cách giải thích khác, không mang tính học thuật như giáo sư Cao Xuân Hạo, mà lại dựa vào thực tế hồi đầu thập niên 60 tại Sài Gòn. Đó là thời thịnh hành của bộ phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov), chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nga, Fyodor Dostoyevsky.

Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano theo điệu mambo – cha cha cha. Cô vũ nữ mặc y phục “nghèo nàn”, thân hình bốc lửa, tóc tai rũ rượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với tài tử Yul Brynner của Hollywood.

https://youtu.be/kbIWfH46PeA?list=PLQWeL_0VczG3wfOyhGDN0zUR_Oho_A7ln

9-sen-sang-2bPhim chiếu tại các rạp ở Sài Gòn cả tháng vẫn chưa hết người xem, sau đó bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell. Người ta nói, cái tên Maria Schell được Việt hóa thành “Mari Sến”.

Tôi không tin là như vậy. Sến xuất hiện trong ngôn ngữ Sài Gòn ngay sau khi có cuộc di cư vĩ đại của người miền Bắc vào Nam năm 1954, nghĩa là trước khi phim anh em nhà Karamazov đến Sài Gòn. Trước 1954, người miền Bắc dùng từ “con sen” để chỉ người giúp việc trong khi miền Nam gọi là “ở đợ” và ngày nay còn được gọi là “Ô-Sin”.

“Sen” thường là những cô gái quê, con nhà nghèo, ít học, phải ra Hà Nội để kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Sau 1954, “Sen” cũng di cư vào Nam. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được đưa tới từng nhà nên chiều chiều các cô sen lại tụ tập quanh máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên “Mari-Phông-tên”.

Và Mari Sến hay Mari Phông-ten cũng đã đi vào thơ văn. Một nhà thơ nào đó đã không hết lời ca tụng người em… Sến :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Cũng có giải thích đại loại như Sến bắt nguồn từ tiếng Anh “sentimental”, có nghĩa là đa cảm, ủy mị… 9-sen-sang-2Tôi không tin là như vậy vì sentimental hoàn toàn không hàm ý miệt thị, chê bai còn Sến của ta lại mang đậm nét mỉa mai, châm biếm. Nói theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “sến” là biểu hiện những dạng thị hiếu thẩm mỹ dưới mức trung bình.

Cứ như thế, chữ “sến” bị lạm dụng trong ngôn ngữ hàng ngày để gán cho những gì thuộc loại “hạ cấp” theo suy nghĩ của người sử dụng từ ngữ. Nổi bật nhất trong lãnh vực âm nhạc là “trường phái” nhạc… sến khởi đầu từ thập niên 60 với tiết điệu boléro, rumba… Những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Lam Phương, Hồ Đình Phương, Vinh Sử, Thanh Sơn…

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, điệu bolero mang âm hưởng bình dị của dân ca Nam Bộ : “Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong đều chuyển qua bolero. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam”.

Bình luận về điệu bolero của Nguyễn Ánh 9, một nhạc sĩ người miền Nam, lại gợi đến một ý cho rằng những người Bắc di cư năm 1954 không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, họ cũng không quen với cách phát âm của các ca sĩ người miền Nam khi hát. Ngoài ra, họ lại sợ cạnh tranh với nhạc tiền chiến của những nhạc sĩ người miền Bắc nên mới đặt ra danh từ “Nhạc Sến” với ý chê bai.

9-sen-sang-3-nguyen-anhNhà thơ Hữu Loan, người miền Bắc, làm bài thơ Mầu tím hoa sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi bộ đội, chồng không chết mà cô ta chết. Một chuyện tình rất lâm ly vào thời kháng chiến với kết cuộc :

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.

Bài thơ này được phổ nhạc thành 2 nhạc phẩm: Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh (nguời miền Nam) và Áo anh sứt chỉ đường tà, của Phạm Duy, người Bắc. Áo anh sứt chỉ đường tà với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát và hình như chỉ những giọng ca điêu luyện của Vũ Khanh, Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới thành công còn Những đồi hoa sim thì ca sĩ nào cũng có thể hát được, từ Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh…

Trong trường hợp này, nếu làm một cuộc khảo sát bỏ túi về sự lựa chọn giữa “nhạc sến” và “nhạc sang”, ta sẽ có ngay kết quả: Những đồi hoa sim là “nhạc sến”. Nhưng thiết nghĩ, đó là sự lựa chọn mang tính cách “địa phương” của những người có gốc từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Sự khác biệt về cá tính giữa người Nam và người Bắc nói riêng và giữa hai miền Nam-Bắc nói chung là người miền Nam thì bình dị, thường nói “huỵch tẹt” ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì lại khách sáo, ưa nàu mè… trong lòng muốn lắm nhưng ngoài mặt cứ giả vờ như không.

Lời ca của dòng nhạc bolero miền Nam rất bình dân, mộc mạc, dễ nhớ và cũng dễ hát. Đó là những lời chân thực từ trái tim, chẳng hạn như trong bài Duyên kiếp của Lam Phương, cô gái cất tiếng hát “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao ? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…” hoặc bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long có 9-sen-sang-4câu “Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng…”.

Rõ ràng là nhạc sến không có triết lí cao siêu, mà toàn là những câu, những chữ mà ngay cả anh xích lô và chị “buôn thúng bán mẹt” ngoài chợ có thể hiểu được vì đó là những lời… “nghĩ sao nói vậy”: “Tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang…” hoặc “Tôi với nàng hai đứa nguyện yêu nhau. Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu…”.

Theo nhiều người, ca khúc Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang là một bản nhạc “đặc sệt” chất sến. Nghe Chế Linh than thở, rên rỉ khiến có người nghe phải… rùng mình, rợn tóc gáy, nổi da gà:

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang / Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi… Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây / Tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay”

9-sen-sang-5– Người yêu cô đơn – Tuấn Vũ

https://youtu.be/HEOH2UEiTqA

– Tuyển tập Chế Linh – 4:00’ :

https://youtu.be/M9INuAmNo8M

– Người yêu cô đơn, Chế Linh :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Che-Linh/ZWZABOW7.html

– Người yêu cô đơn, Ken Nguyễn :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Remix-Ken-Nguyen/ZW6W9969.html

9-sen-sang-6-tuan-vuCũng trong Người yêu cô đơn được remix với tiết tấu nhanh hơn pha trộn những đoạn “nói lối” theo kiểu rap, ca sĩ Ken Nguyễn đã khiến bài hát bớt đi chất sến và dĩ nhiên là được nhiều người chấp nhận.

Thế cho nên, sến hay không là còn tùy cách trình diễn của người hát chứ không phải “một khi bản nhạc đã sến thì ai hát cũng vẫn là sến”!  

Ở một thái cực tương phản, cái gọi là nhạc “sang” lại dùng những ca từ mà chính những người “trí thức” cũng không hiểu hết những gì mình hát.  Mấy ai đã cảm nhận hết những câu hát đại loại như “Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi” hoặc “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.

Tôi nghĩ, ngay chính bản thân người nhạc sĩ khi viết những lời như trên sẽ lúng túng khi có người cắc cớ nhờ giải thích cho rõ!

Phạm Duy với ca khúc Giết người trong mộng là một trường hợp khác hẳn. Từ bài thơ Hành khất của Hàn Mặc Tử ông đã phổ nhạc thành một bài hát mang sắc thái “sắt máu”, lập đi lập lại những động thái “giết người”, “giết người đi”… để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” và để trừng phạt kẻ “quên tình nghĩa phu thê”.

Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

Có lẽ không ai coi Giết người trong mộng là nhạc sến nhưng nhiều người vẫn không thoải mái khi phải hát những câu giết chóc từ đầu đến cuối bài hát. ca-nhac-2Bảo Giết người trong mộng là nhạc sang lại càng không đúng vì nó thiếu tư tưởng “hàn lâm” của một bản nhạc sang trọng.

Cũng cần phải nói thêm, miền Nam trước đây có tới hai dòng nhạc chính. Đầu tiên là Nhạc Vàng và tiếp đến là Nhạc Sến. Vào đầu thập niên 60, nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban Nhạc Vàng trên đài truyền hình Sài Gòn, ông cũng là tác giả những bản nhạc như Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam, Mong ngày anh về, Vui khúc tương phùng…

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với tên gọi “Nhạc Vàng” như Hương Giang, Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và Shotguns của Ngọc Chánh. Tại miền Nam, nhạc vàng khi đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu, có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của người lính chiến.

Những tác giả với tên tuổi gắn bó với Nhạc Vàng phải kể đến Phạm Duy, Văn Phụng, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… và thế hệ nhạc sĩ kế tiếp là Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh…  Đó cũng là thời của các ca sĩ như Thái Thanh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền…

Thời của Nhạc Vàng nổi bật với những ca khúc đã đi sâu vào tâm thức người miền Nam như Giọt mưa trên lá (Phạm Duy), Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo bac-ky-2(Phạm Thế Mỹ)…

Ở Miền Bắc, dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm “nhạc màu vàng” từ Trung Hoa và bị coi “là thứ âm nhạc lãng mạn, bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp hèn”. Phong trào bài trừ “nhạc màu vàng” dưới thời Mao Trạch Đông cũng lan sang miền Bắc nên dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín vì bị cấm.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhạc vàng gần như biến mất và thay vào đó là… nhạc “đỏ” của cách mạng. Thật ra thì nhạc vàng vẫn sống trong lòng người Sài Gòn qua những khúc hát nghêu ngao từ cửa miệng người dân, hoặc nghe trộm qua BBC, VOA hoặc nghe lén qua băng cassette còn sót lại sau chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy”.

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới thì các loại nhạc vàng, nhạc sến mới dần dà được chính quyền “xét lại” và cho phổ biến một cách hạn chế, tùy theo tác giả và tác phẩm.  Năm 1986, lần đầu tiên nhà nước cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Danh sách này sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó là danh sách nhạc cấm có liên quan đến người lính Việt Nam Cộng hòa.

Cơ quan văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới, nhưng xem ra không thành công. Trong khi đó, số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17, ở hải ngọai mà cả ở miền Bắc, thậm chí còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1980.

dan-ong-1Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã thực hiện nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, họ đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát. Vào tháng 8/2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với nhạc sến là Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội suốt nửa tháng trời với giá vé lên đến 1,7 triệu mà mỗi suất vẫn kín chỗ.

Trong một bài phỏng vấn, “Vua Nhạc Sến” Vinh Sử đã lên tiếng : “Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ “nhạc sến” là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình”.

Theo nhạc sĩ Vinh Sử, ở Sài Gòn trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được cả một chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được “đặt hàng” tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại “nhạc thị trường” được viết theo kiểu “mỳ ăn liền”. Đó chính là thời kỳ Vinh Sử tung ra các ca khúc như Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương

Sau 1975, nhạc của Vinh Sử có “e” (air) nhạc dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc, chẳng hạn như Tình ngoại, Bằng lòng đi em, 9-sen-sang-7-vinh-suĐể tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá… Vinh Sử than thở : “Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là… “sến”? […] Tôi đã từng nói : “Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin… lúc đó tôi sẽ viết… nhạc sang !”

Có người lại quả quyết nhạc sến được khai thác từ cổ nhạc. Điều này tôi nghĩ không chính xác vì cổ nhạc, chẳng hạn như vọng cổ, viết theo ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống), còn tân nhạc nói chung và điệu boléro nói riêng có đến 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Phải chăng kết luận như thế vì sự lầm lẫn khi nghe những bài “tân cổ giao duyên” nên cứ tưởng là phần tân nhạc lấy từ cổ nhạc (?).

Nếu nhạc sĩ Vinh Sử được phong tặng là “Vua Nhạc Sến” thì ngôi vị “Nữ Hoàng Nhạc Sến” chắc phải dành cho ca sĩ Hương Lan, con gái của kép cải lương Hữu Phước (3).

Hương Lan vào nghề hát từ ngày hãy còn là “Em bé Hương Lan” và đã được rất đông người ngưỡng mộ với chất giọng miền Nam mượt mà, mùi mẫm. Tuy nhiên, cũng có những người không thích vì họ cho là cô chuyên hát dòng nhạc sến. Ca sĩ Hương Lan khẳng định:

“Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình…, nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu “sến” là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là “sến”.

9-sen-sang-8-ca-siCũng theo Hương Lan, “cải lương” là một loại hình nghệ thuật thì làm sao người ta có thể tùy tiện sử dụng “cải lương” như một tính từ mỗi khi muốn chê cái gì đó, chẳng hạn như “văn chương cải lương”, “ăn nói cải lương”… với ý dè bỉu, coi thường bộ môn nghệ thuật dân gian vốn có từ lâu của người Việt nói chung và người miền Nam nói riêng. Hương Lan thẳng thừng tuyên bố :

“Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới [ca nhạc] cũng nói như vậy. Các em [ca sĩ] dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác”.

Có khoảng hơn 2.000 bài hát được sáng tác dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Điều rõ ràng là không thể phân biệt được bài nào thuộc loại sến, bài nào thuộc loại không sến chứ chưa nói gì đến loại nhạc sang trọng theo kiểu hàn lâm.

9-sen-sang-9-ca-siThiết nghĩ, sến hay sang còn tùy vào nhiều yếu tố bao gồm nhạc điệu, lời ca và kỹ thuật trình diễn. Ba yếu tố đó có tầm ảnh hưởng lẫn nhau vì không phải cứ điệu bolero hay rumba là bài hát trở thành sến, ca từ không phải cứ mộc mạc là thuộc dòng nhạc sến và người hát nếu chú ý đến phong cách biểu diễn cũng có thể biến một bản nhạc cứ tưởng như thuộc loại sến trở thành một ca khúc được người nghe chấp nhận.  (theo Nguyễn Ngọc Chính – Hồi ức một đời người)

Chú thích :

(1) Họa sĩ Lê Trung sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Ông là cựu sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định và trường Mỹ thuật Hà Nội. Lê Trung chuyên về chân dung, phong cảnh, tĩnh vật trên phấn màu và thủy họa.

(2) Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.

9-sen-sang-10Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Ông nổi tiếng cả với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngày 16/10/2007 tại Sài Gòn sau hai tuần nằm bệnh từ một cơn đột quỵ.

Tác phẩm của Cao Xuân Hạo về ngôn ngữ học – Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998). –  Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Nhà xuất bản Trẻ, 2001) – Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006).

hng-huynh-v-yen-1Truyện dịch: · Người con gái viên đại uý (truyện 1959). · Chiến tranh và hòa bình (tiểu thuyết 1962).· Truyện ngắn Goócki (1966).· Con đường đau khổ (tiểu thuyết 1973). · Tội ác và hình phạt (tiểu thuyết – xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa). ·Đèn không hắt bóng (1986). – Papillon (1988).· Nô tỳ Isaura (tiểu thuyết 19??).

(3) Đoạn này người viết Nguyễn Ngọc Chính – có nhận định hơi khập khiểng. Nếu nói hát nhạc sến hay thì p\hải kể đến Hùng Cường và Thanh Tuyền, còn Hương Lan là kẻ “hậu sanh” chỉ nổi vào thập niên 1990 ở Hải ngoại. (admin)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-tu-van

DÂN CHƠI “CẦU BA CẲNG”

logo-phiem

9-tra-ruou-1-con-gai-4MỘT TRÀ, MỘT RƯỢU,

MỘT ĐÀN BÀ

Trong đời sống con người, nhất là nam giới thường mắc phải vài thói hư tật xấu. Tứ đổ tường thường dính phải một, hai. Có nhiều người còn tự hào về những thói hư tật xấu của mình.

Xin đọc câu chuyện vui sau đây : “Một người đàn ông đi làm việc về thấy một gã lạ mặt, quần áo rách rưới đứng trước sân nhà, liền hỏi : – Ông là ai mà đứng trước nhà tôi ?

Gã lạ mặt trả lời : – Thưa ông, tôi lỡ đường, lại đói quá, xin ông vui lòng giúp tôi ít tiền để tôi có được buổi ăn chiều.

Người đàn ông từ chối : – Tôi có thể giúp anh nhưng tôi biết cho anh tiền anh sẽ đi uống rượu hoặc đánh bạc.

Gã lạ trả lời : – Tôi thề với ông, đời tôi chẳng biết tứ đổ tường là gì, thì khi nào tôi lại đi uống rượu hay đánh bạc.

Mắt người đàn ông sáng lên, vui vẻ nói : – Vậy thì mời anh bước vào nhà uống miếng nước rồi tôi giúp anh chút tiền ăn cơm chiều

Gã lạ mặt ngạc nhiên : – Sao lại phải bước vào nhà, áo quần tôi rách rưới, dơ bẩn.

Người đàn ông nói : – Tôi chỉ muốn vợ tôi nhìn thấy một người không có thói hư tật xấu nó như thế nào. Vậy thôi !

Như ông Tú Vị Xuyên : “Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ. Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh.”9-tra-ruou-2

Thế mà ông Tú chẳng ngại miệng đời, ngông nghênh làm thơ nói ra cho thiên hạ biết đời người có tứ khoái : Ăn, ngủ, ấy, ể. Những cái khoái của ông Tú là :

“Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta

Chừa được thứ nào hay thứ nấy

Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.”

Vậy ta hãy tán gẫu về những thứ mà ông Tú là Vị Xuyên vướng phải cho vui:

1/- MỘT TRÀ :

Chẳng được bao lâu. Một lần sau buổi cơm chiều, bà vợ đang rửa chén sau nhà thì nghe chồng gọi : “Bà nó ơi ! Vào xơi chè với tôi.”

Trà là thức uống thanh nhã của người Á đông. Trà, tiếng miền Bắc gọi là chè. Có cặp vợ chồng, chồng Bắc, vợ Nam, cưới nhau

Bà vợ ngạc nhiên la lên : “Mới ăn cơm xong no muốn chết, bụng dạ đâu ăn chè cho nổi”. Ba miền Bắc, Trung, Nam có nhiều tiếng khiến dân ba miền hiểu lầm nhau. 9-tra-ruou-3-tra-2Có lần người viết bài nầy đến thăm cô bạn gái người Huế, thuộc dạng hoàng tộc, cũng là người trong giới cầm bút. Vừa mở cổng, có hai con chó chạy ào ra sủa toáng lên làm tôi sợ hãi. Lúc đó, người bạn từ trong nhà chạy ra vừa xua đuổi hai con chó vừa trấn an tôi : “Không răng mô ! Không răng mô !” Tôi vừa sợ vừa giận, nói lớn : “Chó nhà em răng chơm chởm thế kia, sao bảo không răng ?”

Trở lại chuyện uống trà. Uống trà tinh thần sảng khoái, quên cả mệt nhọc.Trong trà có chất thebaine, giống như chất cafeine có tác dụng giúp cho tỉnh ngủ. Thuở xưa các dân du mục bên Tàu, mỗi lần đi săn hay chinh chiến về, thấy loài ngựa mệt nhọc, thường hay tìm một thứ lá cây để ăn. Ăn xong loài ngựa như khoẻ ra. Loài người thấy vậy bèn lấy lá nấu nước, uống thử, thấy nước có vị hơi đắng và chát nhưng hậu ngọt. Uống vào một lát sau thấy người khoẻ khoắn. Từ đó người ta tìm ra được một thức uống mới và mỗi ngày một cố gắng cải tiến để trà uống được ngon hơn.

Trà uống có nhiều cách. Có người tính tình giản dị, đun nước cho sôi, bỏ trà vào bình rồi châm nước vào đợi một lúc cho ra trà, rót vào chén lớn uống ừng ực đến đã thì thôi. Uống như vậy gọi là “ngưu ẩm.”

Có nhiều người cách uống cầu kỳ. Họ không nấu trà bằng nước mưa mà bằng nước giếng khơi ở trên núi hoặc bằng nước suối. Các cụ bảo: “Tuyền dĩ trà vi hữu.” Suối là bạn của trà. Còn nước giếng thì phải trong, ngọt và không có phèn.

Bậc vua chúa uống trà còn cầu kỳ hơn nữa. Mỗi sáng các cung phi ra vườn, hứng những giọt sương đêm đọng trên lá sen rồi đem nước đun sôi trên cái lò than nhỏ. Than phải đốt đến lúc đỏ rực để không còn khói mới bắc ấm nước lên.9-tra-ruou-4 Nước sôi, châm nước vào cái bình bằng đất nung màu đồng vỏ cua để tráng ấm. Rồi mới châm nước vào trà.

Nước đầu tiên cốt để rửa trà cho sạch, gọi là nước Khất Cái. Kế đó châm nước lần thứ hai, đậy nắp bình lại giữ nóng cho ra trà. Nước nầy gọi là nước Hoàng đế. Xong đổ ra chén tống rồi chuyển sang chén quân, mới uống.

Loại bình trà tốt có màu như gan gà. Thứ nhứt Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần.

Uống trà phải uống thong thả để tận hưởng hương vị trà. Nhiều người chỉ uống một mình vào buổi sáng tinh mơ, vừa uống vừa suy nghĩ chuyện đời. Uống như vậy gọi là độc ẩm. Nếu có thêm một tri kỷ ngồi uống với mình gọi là đối ẩm.

Trà có nhiều loại không sao biết hết. Loại trà Bạch Mao Hầu, trà Thiết Quan Âm, trà Trảm M. thường thấy ở Việt Nam . Vùng Thái Hồ, huyện Bích La bên Tàu có trà Bích La Xuân nước trà màu xanh biếc, rất thơm có vị đắng nhưng hậu ngọt. Vùng Vân Nam có thứ sơn trà danh tiếng được mệnh danh là Điền Trà, màu vàng sậm. đắt tiền nhất là trà Mạn Đà. Trà nầy chỉ có bậc vua chúa hoặc rất giàu có mới dùng nổi. Ngoài ra còn trà Mạn Nguyệt, trà Hồng Trang Tố Lữ, trà Thập Bát Học Sĩ 9-tra-ruou-5có mười tám bông màu sắc đều khác nhau. Trà Phong Trấn Tam Hiệp có ba bông. Trà Nhị Kiều có hai bông và còn nhiều nữa.

Người Tàu và người Việt Nam, không ai không biết uống trà. Miếng trà đậm đà câu chuyện. Có lẽ vì vậy, mỗi lần khách đến, chủ nhà vội vàng nấu nước pha trà ngay. Có một ông khách đến thăm ngay lúc nhà bà bạn đang sửa ống nước. Ống nước chính dẫn vào nhà bị khoá. Trong nhà không còn nước để nấu trà. Bà chủ hoảng quá, chạy vội vào phòng tắm vét hết số nước còn lại trong một cái xô” đem nấu trà đãi khách. Khi khách uống, bỗng thấy ở cổ vương vướng một vật gì, cố gắng khạc ra thì là một sợi lông.

Ông khách là người thiếu tế nhị, đưa sợi lông ra hỏi “Sao trong trà lại có lông ?” Bà chủ nhà đỏ mặt, ấp úng đáp : “Thưa, đó là trà Ô Long”. Ông khách thầm nghĩ Ô Long là con rồng đen đâu phải sợi lông đen nhưng ông khách im lặng. Lúc ra về ông ghé qua khắp các tiệm trà trong phố, hỏi xem thì không có loại trà nào là Ô Lông cả..

Còn một thứ trà rất rẻ tiền, người nghèo cũng có thể uống được. Hương trà rất thơm ngon, tên là trà Thái Đức. Uống vào thức đái suốt đêm.

9-tra-ruou-7-say-ruou-3II/- MỘT RƯỢU :

Rượu chữ nho gọi là tửu. “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Cờ không gặp gió, lá cờ rũ xuống, xem chẳng oai hùng chút nào đàn ông thiếu rượu, giống như lá cờ rũ, kim đồng hồ thường chỉ sáu giờ, trông phát nản.

Rượu cất bằng gạo nếp, nấu xong, dùng men ủ, vài ngày sau mới đem ra cất. Rượu ngon hay dở còn tuỳ vào bí quyết và kinh nghiệm nấu. Rượu là lộc Trời cho.

Bậc vua chúa ngày xưa, đã biết dùng rượu để di dưỡng thiên hạ, dùng vào việc tế Trời, lễ đất, cầu phúc, cầu lợi. Vô tửu bất thành lễ.

Các bậc thánh nhân ngày xưa không ai không uống rượu. Lưu Bang Hán Cao Tổ nhân lúc rượu say, cầm gươm chém rắn bạch, khởi nghĩa, lập nên cơ đồ nhà Hán. Phàn Khoái dự tiệc Hồng Môn Phàn, lấy cao cắt thịt, uống rượu, thi đua múa gươm, mưu đồ đại sự. Khổng Tử lúc hứng uống cả ngàn chung. Tử Lộ uống như hũ chìm. Lã Bạch càng uống, làm thơ càng hay. Nhiều người không quen mùi rượu, đọc xong thơ của Lã Bạch cũng lăn quay ra say khước.

Một lần Kinh Kha rượu đã ngà ngà, uống thêm một chén rượu tiễn đưa, rút gươm chỉ xuống dòng sông Dịch chửi thề : – Mẹ kiếp ! Chuyến nầy không thành công thì ông đíu thèm qua sông nầy nữa. Và lần đó Kinh Kha đã hát bài nhạc Pháp “Aller Sans Retour,” mua tấm vé tàu suốt rong chơi miền tiên cảnh.

9-tra-ruou-6-ruouNgười tài hoa phải biết đủ cầm, kỳ, thi, hoạ, nhưng chưa sành sọi về rượu thì chưa trọn vẹn. Người sành rượu không phải chỉ biết vị, biết hương của rượu mà còn phải nhập vào linh hồn của rượu nữa.

Rượu giúp con người thêm can đảm. Nếu không say rượu thì có cho kẹo, Lưu Bang cũng không khi nào dám chơi dại cầm gươm chém rắn. Chỉ nhờ lúc có rượu làm liều mà dựng nên sự nghiệp. Rượu gây thêm hào hứng cho kẻ anh hùng đàn ông có rượu vào, khí thế oai minh, thái độ hùng dũng như cờ gặp gió, như lân gặp pháo.

Thứ nhất rượu đã ngà ngà,

Thứ nhì chàng ở phương xa mới về.

Chàng ở phương xa mới về thì phải biết đá liên tu bất tận nhưng nói nào ngay đá chẳng được bền. Còn rượu đã ngà ngà thì không thể chê vào đâu được đá mạnh, đá bền bĩ, đá đến lúc các bà ngả nón chào thua mới thôi.

Lờ rằng lờ chẳng sợ ai

Sợ thằng say rượu ấy dai đau lờ.

Đấy, thằng say rượu nó hung hăng đến như thế. Vì vậy các bà có kinh nghiệm sống lại thích có một ông chồng say. Thấy chồng đôi ba ngày không uống rượu thì tìm cách làm thức ăn ngon bày ra trước mắt. Dân nhậu thấy thức ăn ngon thì chém chết cũng đòi rượu mà đòi rượu coi như sụp bẫy các bà.

Đốt than nướng cá cho vàng

Lấy tiền mua rượu cho chàng nhậu chơi.

Dân nhậu có tính thảo ăn. Có thức ăn ngon thì nghĩ ngay đến bạn hiền. Nếu trong lòng tâm sự đa mang, có được người bạn hiền để chén chú, chén anh, nỉ non tâm sự thì còn gì bằng:

9-tra-ruou-8Một ly nhâm nhi tình bạn

Hai ly uống cạn lòng sầu

Ba ly mũi chảy tới râu

Bốn ly ngồi đâu gục đó

Năm ly cho chó ăn chè

Sáu ly vợ đè cạo gió.

Giai thoại về rượu rất nhiều, không sao kể xiết. Mỗi quốc gia có vài thứ rượu đặc biệt. Rượu Pháp nổi tiếng nhất thế giới như rượu vang Champagne . Ai cũng biết Champange là loại rượu sủi bọt (Sparkling wine) thường dùng trong các cuộc vui như đám cưới, sinh nhật v…v… Napoléon, Hoàng đế nước Pháp đã nói một câu để đời về rượu Champange:

– Khi thắng trận ta uống Champange để mừng chiến thắng.

– Khi bại trận ta càng cần phải uống Champange để giải sầu.

Nho để làm rượu Champange phải là loại Chardonnay (chát trắng) và loại Pinot noir (chát đỏ) của vùng Bourgonge mới số dzách. Mở Champagne cũng là một nghệ thuật. Mở thế nào cho rượu nổ một tiếng pop khá lớn mà rượu không vọt ra ngoài do áp suất của khí carbonique trong chai. ruou-3Lan man về Champange đã hơi nhiều, người viết xin nói tiếp về rượu Pháp. Ngoài Champange còn rượu khai vị như Cointreau, Grand Marnier, rượu mạnh có Martell, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin, thứ nào cũng hết xảy nhưng phải loại XO mới tuyệt cú mèo. Đó là rượu Tây.

Người Tàu coi trọng vấn đề ăn uống. Gặp nhau câu hỏi đầu tiên là : – Lứ chía pừng b.i ? hay Nị xực phàn m. ? hoặc Nị sứ phán mĩ dầu ? có nghĩa là Anh ăn cơm chưa ? Vì quí trọng miếng ăn nên người Tàu chủ trương miếng ăn, thức uống phải ngon và bổ nên người Tàu nghĩ ra rượu thuốc như : Nhứt dạ lục giao sinh ngũ quỷ. Một đêm lâm trận với sáu bà sinh ra năm thằng quỷ sống, hoặc nhứt long quần ngũ hổ, một con rồng quần với năm chị cọp cái.

Ngoài ra còn Mai Quế Lộ, Ngũ Gia Bì. Thứ nào cũng cường dương, cũng số dzách.

Nhật bản có Sa-kê. Nga có Vodka, Việt Nam có Whiskyson. Nói lái hai âm ky-song là công xi Rượu công xi Bạc Liêu thì hết xảy. Rượu đế Phước Long rất nổi tiếng. Chất rượu trong như nước mưa, rót ra, bọt nổi vòng quanh miệng ly, uống vào nóng muốn cháy cổ. Thở ra nếu ngồi gần vách lá có ruouthể làm cháy nhà như chơi. Ngoài ra còn rượu Bình tây, rượu nếp than. Sau năm 19 75 , Việt Cộng mang vào Nam loại rượu cà-phê, rượu chanh, uống như đồ bỏ.

Tôi có một người bạn là Công tử Bạc Liêu, tự pha chế một loại rượu thuốc và đặt tên là Phu ẩm phụ hoà hài tửu. có nghĩa là rượu chồng uống vợ khen. Nếu có văn thi hữu nào viếng nhà Công tử Bạc-liêu, nếm thử vài chung xem đức phu nhân có khen không cho biết.

Rượu ngon, thức nhấm ngon, chỗ ngồi nhậu thoải mái, lại có thêm bạn hiền thì uống ngàn chung cũng còn quá ít.

“Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua là tại không tiền không mua.”

III/- MỘT ĐÀN BÀ :

Như trên đã nói, thời tiết có bốn mùa, con người có tứ khoái. Người ta thắc mắc không hiểu tại sao cái khoái thứ ba thường làm người ta điên đảo thần hồn, khốn khổ đến chết lên chết xuống mà vẫn muốn tìm hưởng cho bằng được lại bị xếp vào hàng thứ ba, sau ăn và ngủ? Thật ra cũng chẳng khó khăn gì để thắt mắc. Ca dao có câu :

dan-ba-9Còn ăn, còn ngủ, còn gân,

Hết ăn, hết ngủ, có mần được chi ?

Ăn không được, ngủ không được làm gì có xí quách mà hưởng cái khoái thứ ba. Ăn không được thì thác, ngủ không được cũng đi đong. Không hưởng được cái khoái thứ ba tuy có buồn nhưng vẫn sống phây phây, lại không bị đau lưng nhức mỏi. Con người vốn yếu đuối, thường làm nô lệ cho thói quen. Nghiện rượu, nghiện trà muốn bỏ không phải chuyện dễ nhưng theo cụ Tú Xương nghiện rượu, trà gì cũng có thể bỏ được, còn món đàn bà thì vô phương: Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà. Thế mới biết món đàn bà khó mà thiếu được.

Trà, rượu là sản phẩm của con người. Đàn bà là tác phẩm của Thượng Đế: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời làm cho Adam ngủ mê bèn lấy xương sườn rồi lắp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi Adam làm nên một người nữ, đưa đến cùng Adam. (Sáng Thế K. 2: 21, 22.)

9-tra-ruou-9Từ lúc Adam có thêm bà Eve để đêm đêm đem gà ra chọi chơi cho đỡ buồn thì bao nhiêu chuyện khốn nạn xảy ra cho Adam và cũng từ đó bọn đàn ông thất điên bát đảo luôn cho tới bây giờ. Thế mà cũng không ai tởn.

Nhìn lại đời xưa, nụ cười của Đắc Kỷ làm sụp đổ nhà Thương, Bao Tự làm tiêu tan nhà Chu, Dương Quí Phi chỉ mỉm cười cũng đủ làm Đường Huyền Tôn són đái đó là chuyện xưa.

Còn ngày nay, xếp Edward Kennedy cũng vì nàng Mary Jo mà thân bại danh liệt. Chú nhỏ Gary Hart cũng vì cái “ lima ” của chị Donna Rice mà tiêu tùng sự nghiệp. Cả đến các bậc tu hành Jim Baker, Oral Robert, Marvin Gorman và Jimmy Swaggart cũng vì “cái sự đời” mà sự nghiệp tiêu ma. Thế mới biết, cổ nhân ngày xưa đã nói: Sắc bất ba đào dị nịch nhân. dan-ba-11Nhan sắc đàn bà không có sóng mà đánh chìm được con người.

Nhưng cứ đem đàn bà ra tố khổ là điều bất công. Đàn bà cũng trăm thứ đàn bà. Đàn bà của cụ Tú Xương thuộc loại :

“Đàn bà lặn lội bờ sông.

Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non”

nên Tú Xương không bỏ được, lại còn được sống trong chế độ ba nuôi:

Nhỏ cha mẹ nuôi, lớn vợ nuôi, già con nuôi.

hng-huynh-v-yen-2“Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha,

Lớn lên nhờ vợ về già nhờ con.”

Đàn bà như vậy ngu sao mà bỏ. Cái đau là gặp phải loại đàn bà cột tìm trâu, tối ngày mò tới đàn ông, chằn ăn, trăn quấn:

“Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-bay-gio-ke

sg-que-phuongTừ đâu có hỗn danh

DÂN CHƠI “CẦU BA CẲNG” ?

Trong thế giới ngầm, thế giới ăn chơi, để phân biệt đẳng cấp và vị trí của người chơi, giới chơi và cách chơi, giang hồ thường đặt cho một hỗn danh để ngầm quy ước vai trò quan trọng hay thể hiện đúng vị thế, dấu ấn của dân chơi.

Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ra đời trước năm 1975 và lưu truyền đến nay để nhắc về một lớp đàn anh “ngang trời dọc đất” nhưng dám chơi mà không dám chịu, đụng chuyện thì tránh né.

Hỗn danh này còn được gắn cho một tay anh chị do Mã Ban cầm đầu một nhóm ăn chơi thuở xưa, nhưng sau đó gác kiếm, rút lui khỏi giới giang hồ về với đời thường một cách lặng lẽ.

Cầu Ba Cẳng không còn cẳng nào

Trước hết phải khẳng định cầu Ba Cẳng là một cây cầu có thật. Theo bút ký của nhà văn Trương Đạm Thủy, vùng Q.6, Chợ Lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt có hình dạng rất lạ, có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận… 9-cau-ba-cang-1nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng. Ngày ngày, dân bụi đời ưa tụ tập ở đó để cờ bạc, đá gà, ăn nhậu gây mất trật tự và vẻ khó coi cho khu Chợ Lớn mới.

Đêm đêm dân chơi đi… “bắt bò lạc” là mấy em gái ăn sương cũng thường coi cầu Ba Cẳng là điểm hẹn để tìm một đêm vui. Vì thế mà cái tên “cầu Ba Cẳng” lần hồi đã trở nên nổi tiếng. Đi xa hơn, loại dân chơi nào bị coi là chơi không đẹp, chơi nhếch nhác, chơi thiếu… mỹ quan thì bị thiên hạ gán cho cái tên “dân chơi cầu Ba Cẳng”.

Còn theo ghi chép của Hội những người yêu Sài Gòn, trước 1954, thành phố Sài Gòn thường quen được gọi là “Sài Gòn – Chợ Lớn” để phân biệt như hai khu vực. Một vùng do đại đa số người Việt sinh sống, còn vùng kia là người Việt gốc Hoa buôn bán làm ăn phát triển (từ Q.5 tới Q.11, trừ Q.9 thành lập sau này thuộc vùng Sài Gòn).

“Cầu Ba Cẳng” thuộc vùng Chợ Lớn bắc qua một cái vàm (ngã ba kinh rạch) của kinh Hàng Bàng, do quan Khâm sai người Pháp (không nhớ tên và thời điểm) ra lệnh xây dựng. Lúc đầu mang tên cầu Khâm Sai. Do một trận hỏa hoạn lớn ở đường Gia Long, người ta đổ xô lên cầu chen lấn, đứng xem quá đông khiến cầu bị sập. Sau đó cầu được xây lại thành ba nhánh bằng bê tông cốt sắt vững vàng hơn. Dân chúng trong vùng không còn gọi là cầu Khâm Sai nữa mà gọi theo hình dáng xây dựng là “cầu Ba Cẳng”.

Cầu nằm cuối đường, phía sau chợ Kim Biên P.13, Q.5, thuộc Chợ Lớn. Cầu Ba Cẳng nay không còn nữa. Xưa, cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, sau đó được lấp thành đường Bãi Sậy và Phan Văn Khỏe, Q.6. “Cầu Ba Cẳng” nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hũ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành, còn chân kia ở bến Vạn Tượng. Cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập hoàn toàn.

Dân chơi “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”

Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ngụ ý là dân giang hồ không có tính toán, mưu lược, chơi ẩu, cứ thấy có chuyện gì lạ là nhào ra xía vô, không nghĩ gì tới lợi hại, như kiểu thấy hỏa hoạn ở tuốt đường Gia Long rồi kéo nhau lên cầu coi cho thỏa ý tò mò tới độ cầu bị sập, 9-cau-ba-cang-2sinh ra tai nạn. Khi nói “dân chơi cầu Ba Cẳng” còn một ngụ ý khác nữa, ám chỉ là dân giang hồ dám làm mà không dám chịu, chuyên tránh né, không dám hiên ngang chống đỡ với đối lực, từ câu chuyện kể.

Năm 1955, có một đám côn đồ sau khi làm việc phi pháp bị hai cảnh sát rượt đuổi. Chúng chạy lên cầu Ba Cẳng. Vì cầu có ba hướng lên xuống mà cảnh sát chỉ có hai người, do đó chỉ chặn được hai ngả. Bọn này cứ như chuột, lúc nào cũng có ngả hở thoát thân. Tóm lại, các dạng dân chơi chuyên lừa đảo để kiếm tình, kiếm tiền, dụ khị đàn ông, lừa bịp đàn bà, theo các dạng bát nháo trên đều có thể liệt vào hạng “dân chơi cầu Ba Cẳng”.

Sài Gòn trước 1975, dân chơi tứ chiếng tràn ngập và là mảnh đất anh tài hội tụ. Lớp người Hoa thời kỳ đó rất nhộn nhịp, bởi Hòn ngọc Viễn Đông lúc đó đâu đâu cũng có những phố xá ăn chơi sành điệu bậc nhất. Sài Gòn lúc đó như chiếc bánh ngọt được các băng nhóm giang hồ chia nhỏ thành lãnh địa riêng rồi phân nhau hùng cứ. Vì vậy, các bậc đàn anh, đàn chị giang hồ nổi lên cát cứ khắp nơi. Chính quyền vô cùng đau đầu, đã lập ra danh sách đen các bậc anh chị có “số má”, với những hỗn danh có tiếng vang để lùng bắt nhằm ổn định an ninh trật tự.

Theo nhiều tài liệu, thời kỳ đó một nữ A xẩm Tiều nán (người Triều Châu) ở gần Chợ Lớn mới (chợ Bình Tây, Q.6, ngày nay) góa bụa giữa lúc nửa chừng xuân. A xẩm đi nấu ăn cho nhà giàu kiếm tiền nuôi đứa con trai lớn tên Mã Ban ăn học. Mã Ban học tiểu học rồi trung học dành cho học sinh người Hoa ở Chợ Lớn.

Tuy nhiên, thay vì học hành chăm chỉ thì Mã Ban lại lao vào ăn chơi khiến cho người mẹ nghèo rất buồn khổ. Bị mẹ la mắng nhiều, thương mẹ, Mã Ban quyết định tự lập kiếm tiền để ăn chơi. Không tiền, không nghề nghiệp, 9-cau-ba-cang-3Mã Ban thu thập đàn em để làm bảo kê, chuyên xử lý các băng nhóm quậy phá. Có tiền rủng rỉnh, Mã Ban cùng đám đàn em lao vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng.

Thời gian sau, Mã Ban được một đại gia người Hoa quý mến, gả con gái cho. Nhằm giúp Mã Ban trốn quân dịch, người cha vợ lắm tiền nhiều của của Mã Ban đã đút lót cho viên chức cao cấp để Mã Ban trở thành cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát. Từ đó, Mã Ban nổi lên với những cuộc ăn chơi đàn đúm, sử dụng súng rulo bá phát và luôn có những người đẹp nổi tiếng vây quanh.

Sau  năm 1984, Mã Ban đã rũ bỏ nghiệp giang hồ, quay về cùng vợ con, mở nhà hàng ăn uống ở Chợ Lớn. Tuy nhiên, do vẫn còn máu chơi hào phóng nên chẳng bao lâu buôn bán lỗ lã, dẹp tiệm. Từ đó, bắt đầu cuộc sống khó khăn, vợ bệnh, con đau, không tiền bạc, Mã Ban từ một tay anh chị phong lưu trở thành tay trắng. Dân chơi “cầu Ba Cẳng” lại lưu danh thêm một đàn anh vào danh sách để nhắc nhớ quá khứ oanh liệt Sài Gòn – Chợ Lớn ngày xưa. (theo Sao Khuê)

Quế Phượng chuyển tiếp

NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ

logo-phiem

9-ga-1NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ

– Steve Thai

Con Gà cục tác lá chanh

Con Lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con Chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Bốn câu thơ bình dân trên đã mô tả đúng cách nấu ăn của dân tộc ta tại thôn quê miền Bắc. Con Gà được nhắc đến trước tiên có lẽ vì thịt Gà là một trong những món ăn quen thuộc, vừa ngon miệng và đầy đủ dinh dưỡng.Người dân Giao Chỉ chúng ta sành ăn đã biết biến chế ra nhiều món nào là: Gà rô ti, gà xào xã ớt, gà xối mỡ, gà ram mặn, gà nướng ngũ vị hương, gà nấu mắm, gà hấp muối, gà cà ri, cành gà chiên bơ, gà tiềm thuốc bắc … và còn nhiều kiểu nấu khác …

 Vào cuối thập niên 1950, tại Sàigòn có cuộc bút chiến giữa hai tờ nhật báo về vụ Gà Mỹ và Gà Ta. Vào thời điểm này, có phong trào nuôi gà Mỹ do bộ Canh Nông khuyến khích và hướng dẫn.  Gà được nuôi trong chuồng bằng lưới kẽm và cho ăn loại thực phẩm trộn sẵn.  Những 9-phiem-ga-1độc giả tham gia cuộc chiến, và đã chia ra làm hai nhóm và với hai quan điểm khác nhau :

Nhóm gà Mỹ : Cho rằng nuôi theo kiểu Hoa Kỳ khoa học hơn, sản xuất mau chóng, gà ít bị mắc bệnh, ăn hợp vệ sinh hơn.

Nhóm gà Ta : Chủ trương nuôi gà theo phương pháp tự nhiên, thả chạy rong ngoài vườn để gà tự do bươi đất tìm thức ăn như côn trùng, giun dế..do đó thịt cứng và thơm ngon.

Cuộc bút chiến càng ngày càng sôi nổi, có người còn ví von gà Mỹ như cô gái thị thành, trắng trẻo, mềm mại, trông hấp dẫn nhưng da thịt nhão, ăn mau chán. Ngược lại gà rẫy được ví như cô gái quê miệt vườn, tuy trông quê mùa nhưng da thịt cứng cáp, hương vị đậm đà, ngát thơm hương cốm.

9-phiem-ga-2Trong lúc trận bút chiến đang hồi gay cấn, ông Kỹ Sư canh nông đặc trách chương trình chăn nuôi liền viết một bài lên tiếng trên mặt báo :  Cho rằng nuôi gà theo kiểu Mỹ lợi tức cao, thịt gà tinh khiết hợp tiêu chuẩn vệ sinh. Riêng ông, vì nặng lòng với quốc gia dân tộc, cá nhân ông vẫn thích ăn gà ta ! Thế là cả hai phe lâm chiến đều vui vẻ, đồng ý hoà hợp dân tộc, sống chung hoà bình.

Con gà rất gần gũi với giới bình dân Việt Nam. Vào dịp tết Nguyên Đán, người ta thường treo lên vách bức tranh gà sặc sở cho có vẽ mùa Xuân.

9-phiem-ga-3Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột

Om xòm trên vách bức tranh gà.  

(Tú Xương)

Trong đêm khuya thanh vắng tiếng gà gáy là đồng hồ báo thức bác nông dân để sửa soạn ra đồng, hoặc báo cho chú Tiểu trong chùa pha trà, nện chuông cúng Phật

Gió đưa cành trúc la đà

ga-3Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

Hoặc:

Canh gà điểm nguyệt, tiếng chày nện sương.

Trên đường ra chợ lúc còn tinh sương, các cô gánh hàng cũng nghe văng vẳng tiếng gà bên tai :

Sớm mai gà gáy ó o

Chưa ra tới chợ­, đã lo ăn hàng.

Thậm chí, cách trang điểm của đàn bà ViệtNam cũng liên hệ đến con gà.  Kiểu bới đầu có thả vòng  và chừa một chỏm tóc phía sau ót gọi là “bới tóc đuôi gà”. Nơi nhãn hiệu xà bông Cô Ba của hãng Trương Văn Bền thời tiền chiến, có hình kiểu bới tóc này. Cục bưu chính Đông Dương trước kia cũng đã phát hành một loại tem có hình cô Ba, với búi tóc đuôi gà.

Chàng thanh niên chất phác, vì quá yêu cô thôn nữ, có thể đón đường cô gái để tỏ tình một cách táo bạo:

9-phiem-ga-4Chị kia bới tóc đuôi gà

Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu 

…Nhà tôi ở dưới đám dâu

Ở bên đám dậu, đầu cầu ngó qua…

Gà sống quanh quần sau hè, gần gủi với loài người, nên dễ nhận xét điệu bộ, diện mạo của gà.  Do đó, mọi việc hay dở đều lôi con gà ra đề ví von:

Người có bộ mặt ngơ ngác gọi là “gà mở cửa mã”

9-ga-2Người xơ xác gọi là “gà kẹt giỏ”

Người tiều tuỵ gọi là “gà mắc nước”

Kẻ ngất ngư gọi là “gà nuốt giây thun”

Kẻ khù khờ gọi là “gà trống thiến”

Kẻ nhát gan gọi là “gà phải cáo”

Kẻ nhầm lẫn gọi là “trông gà hoá quốc”

Kẻ bất tài gọi là “gà què ăn quẩn cối xay”

Kẻ phản bội gọi là “gà nhà bôi mặt đá nhau”

Trước cảnh huynh đệ tương tàn, người ta hay khuyên bảo : 

Khôn ngoan đối đáp người ngoài

9-ga-3Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Sau cùng, các người đàn bà đanh đá được tặng cho hỗn danh :

Nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ.

Gà thuộc loại hạ đẳng, chỉ dùng làm thực phẩm bình dân hàng ngày, không thể thết đãi hàng thượng khách.  Trong buổi tiệc lịch sử tại Bắc Kinh do Chủ tịch Mao Trạch Đông khoản đãi Tổng thống Nixon năm 1972, gồm hai mươi mốt món, nhưng không có món thịt Gà.  Quả thật người Trung Hoa rất tế nhị trong vấn đề ăn uống.

Ở nước ta, Cụ nguyễn Đình Chiểu cũng rất gần sành nghi thức đãi tiệc.  Trong bài thơ Ông Quán, cụ Đồ đã chào hàng một cách thật hấp dẫn:

Quán rằng thịt cá ê hề

Khô lân chả phụng bộn bề thiếu đâu

Kìa là thuốc lá ướp ngâu

Trà ve tuyết điểm, rượu bầu cúc hương

Để khi đãi khách giàu sang

Đãi người danh vọng, đãi trang anh hùng.

Như vậy, trong thực đơn của cụ Đồ Chiểu cũng không có món thịt gà.

Trong văn chương cũng như ngôn ngữ hằng ngày, con gà dù được nhân cách hoá cũng chỉ nói đến những người thường bình dân, còn những sg-lan-huong-2bậc chính nhân quân tử thì được ví như những con Phượng hoàng trên cao mà thôi:

Phượng hoàng đậu nhánh cheo leo

Sa cơ thất thế phải theo đàn gà

Bao giờ mưa thuận gió hoà

Thay lông đổi cánh lại ra Phượng hoàng.

Vậy mọi người trong chúng ta có ai đã thấy được Phượng hoàng chưa ? Xin chúc tất cả quý độc giả một năm Đinh Dậu đầy hỷ sự. (theo Nguyễn Phước Mộng Thiên)

Lan Hương chuyển tiếp

logo-tim-hieu

hng-huynh-v-yen-1CÁC LOẠI GÀ CHỌI

Những hình ảnh minh họa về Thần Kê, Linh Kê…

Có rất nhiều tài liệu viết về những con gà nòi (gà đá) được cho là “Linh Kê”, “Thần Kê” kèm theo các cụm từ đầy huyền bí như “ẩn tướng”, “bí tướng”, “dị tướng” và tên gọi các loại vảy gà rất khó hiểu, khó nhớ, đại loại như “Vấn án hành khai”, “Cứ cang điểm” hay “Xuyên thành giáp”…

Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu này lại không kèm theo hình ảnh minh họa hoặc chỉ kèm theo hình vẽ trắng đen, sơ sài làm cho người đọc, thậm chí là dân mộ điệu gà nòi, rất khó hình dung như thế nào là con gà “Thần Kê”, “Linh Kê”. Nhiều người còn cho rằng đó chỉ là những con gà trên sách vở, không thể tồn tại trên thực tế. Mục đích của bài viết này là nhằm cung cấp hình ảnh minh họa bằng những hình ảnh thực tế về một số con gà được cho là “Thần Kê”, “Linh Kê” để các bạn tiện tham khảo.

1/- Gà Đoản Thiệt (Lưỡi rùa) (ghi chú : Đoản là ngắn, còn Rùa.. là Quy…) Gà Đoản Thiệt 9-ga-choi-1có lưỡi ngắn hoặc bị thụt sâu vào tận bên trong. Thường thì gà này có giọng gáy nghe rất lạ tai, có con gáy không ra giọng mà chỉ nghe được tiếng rít. Một số địa phương nghe tiếng gà này gáy như tiếng cá sấu kêu nên còn gọi là gà cá sấu.

Sách gà của cụ Vương Hồng Sển có viết “gà này tựa như không có lưỡi, vì lưỡi còn cụt ngắn hơn gà lưỡi rùa nữa, mới xem họng gà tưởng đó là một loại với họng cá sấu là giống không lưỡi. Gà cá sấu miệng hôi thúi lắm, nhưng chính vì ẩn tướng như thế, nên “may độ” lắm, thắng nhiều trận một cách bất ngờ, nên tay chơi gà, khi biết thì ít ai dám chịu độ với gà cá sấu là vậy”.

Theo tác giả Nguyễn Tú thì “Có con gáy không ra hơi như gà bị nghẹt họng, tiếng gáy như tiếng cá sấu kêu ngoài bãi, nên còn có tên là gà cá sấu”. Còn tác giả Phan Kim Hồng Phúc nâng gà này lên hàng “thần kê” bởi sự “dai sức, đá đòn mạnh, thường ra đòn liên tục”.

2/- Gà Lông Voi : Lông voi thường có một hoặc hai cái, nằm gần nhau hoặc xa nhau, đóng ở cánh hoặc ở đuôi gà. Lông voi rất cứng, thường to bằng sợi kẽm nhỏ, dài khoảng 3 – 4 cm và xoắn lại như một cái lò xo đã giãn ra. Gà mái 9-ga-choi-2amà có lông voi thì rất quý, nên dân chơi gà thường giữ lại để đúc mái. Gà lông voi thuộc loại Linh kê, trăm ngàn con mới có một nhưng người ta quý gà mái có lông voi hơn gà trống có lông voi. Có 3 dạng lông voi thường gặp :

(1) Lông hơi cứng, cong, to bằng sợi kẽm nhỏ, dù bẻ cong như thế nào đi nữa thì nó cũng duỗi thẳng y như cũ (còn gọi là “lông nhím”);

(2) Lông cứng, lớn sợi, có hình dạng giống như đường zic-zac hay như sợi tóc ngứa, loại này dễ bắt gặp hơn loại thứ nhất (còn gọi là “lông thép”);

(3) Lông xoắn lại như lò xo, kéo thẳng nó và bong tay thì nó trở lại như cũ, loại này gặp cũng khá nhiều (cũng được gọi là “lông thép”).

9-ga-choi-2bSách gà của tác giả Vũ Hồng Anh vẽ hình lông voi (tượng mao) có chóp nhọn như cây thông giáng sinh.

3/- Gà Song Sinh : Đó là trường hợp một trứng có hai lòng đỏ, từ trứng đó nở ra hai con gà. Theo người xưa thì khi mang đi đá chỉ việc cho một con đá, còn con kia nhốt trong lồng. Con gà đứng bên ngoài chỉ cần gáy hay vỗ cánh là con gà đang đá như được tiếp thêm sức mạnh.

Sách gà của tác giả Xuân Tùng có viết : “Một trứng nở ra hai con gà trống, gà này khi ra trường đá, cần mang cả hai anh em dù chỉ một đá một đứng ra ngoài, cất tiếng gáy trợ lực”.

9-ga-choi-3a

Trong truyện “Gà sanh đôi” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng nhắc đến gà song sinh – vì hai con giống hệt nhau nên lúc bồng nước, chủ gà tráo con đang nghỉ ra đá, đá xa luân chiến kiểu đó đối phương nào chịu cho thấu, rồi đến khi bị phát hiện không cho đá ăn gian nữa thì con bên ngoài lại gáy “nhắc tuồng” cho con bên trong đá !9-ga-choi-3b Truyện hay nhưng đầy màu sắc ly kỳ, khó xảy ra ngoài thực tế.

Theo cụ Vương Hồng Sển thì “hai con trong một trứng chui ra, nếu đó là trống, thì là quý kê, chủ trọng dụng vô cùng”. Diễn giải theo ý cụ thì gà song sinh tự thân chúng đã là gà quý do hoàn cảnh xuất thân đặc biệt (chứ chẳng phải do hai con biết bênh và hỗ trợ nhau lúc ra trường). Theo kinh nghiệm của nhiều sư kê thì trứng song thai hầu như đều bị hư bởi các phôi thai kèn cựa nhau dẫn đến một cái chết trước, cái sau rồi cũng chết theo vì lây nhiễm. Gà này, nếu có, thì chính chủ của chúng mới biết, người ngoài không thể biết được.

4/- Gà Tử Mị (Giả chết) : Gà Tử Mị có một đặc điểm là không ngủ trên cây mà chuyên ngủ dưới đất, hai cánh thả thòng xuống hai bên hoặc xòe ra như phơi nắng, đầu đưa về phía trước, gối đầu trên đất, đôi chân thì cái duỗi, cái co trông như bộ dạng con gà chết. Loại gà này hay và vang danh thiên hạ, thuộc dòng Linh kê.

9-ga-choi-4a

Khi ra trường, những nước đầu gà Tử Mị đá chẳng đâu vào đâu vì mắt còn lim dim, thỉnh thoảng lại nằm gục đầu, xõa cánh như lúc ngủ, người ngoài nhìn vào tưởng là gà mệt, gần thua nhưng khi vô nước, mang vào cho đá tiếp thì chỉ một vài đòn trổ tài là làm cho cả trường gà phải kinh ngạc và tiếc thương cho con gà kia phải cúi đầu tẩu mã hoặc chịu thua. Khoảng từ hồ 4 trở đi thì ra đòn nhanh như sét đánh, mạnh như búa tạ giáng, lại linh hoạt, khôn ngoan nên luôn đưa ra những đòn đá đẹp và hiểm hóc.

Thuộc loại văn võ song toàn nên thường mang thắng lợi về cho chủ gà. Gà này cho dù chân có vảy xấu hay vảy rủi thì vẫn được chủ kê chuộng và cưng.Sách gà của tác giả Nguyễn Tú viết “Tử Mị : giả chết. Gà Tử Mị tối ngủ dưới đất thì chẳng khác gì con gà đã chết rồi. Chân nó ngay đơ hay xoạc ra, hai cánh giang rộng ra cho thoải mái, cần cổ vươn ra phía trước. Nhìn con gà nằm ngủ trông thật thảm hại. Nếu nó nằm trên cây mà ngủ thì hai cánh xòe ra, đầu chúc xuống, khi ngủ thì mê mệt, li bì, động tĩnh không hay biết”.9-ga-choi-4b

Theo học giả Toan Ánh thì “Gà Tử Mị có hai loại : loại thứ nhất lúc ngủ nằm ngay đầu, sải cánh, xuôi giò, còn loại thứ hai thì lúc ngủ đôi giò móc lên cây, như dơi, đầu thõng xuống, đôi cánh buôi xuôi”.

Sách gà của tác giả Xuân Tùng lại phân biệt gà Tử Mị với gà Mị Khất như sau : “Tử Mị: ban đêm ngủ như chết, đầu đặt sát đất”. “Mị Khất: ban đêm, gà ngủ “tướng” rất thảm thiết, đáng thương, đầu bỏ vào cánh, lại rớt ra, chống mỏ xuống đất”. Gà Mị Khất ngủ bất thường, khi ngủ đầu thì bỏ ra ngoài nhưng thường là chui vào cánh, sau đó ngủ quên nên rớt đầu ra ngoài, cắm mỏ xuống đất, tướng trông thảm thiết, đáng thương.

a-gaTác giả Phan Kim Hồng Phúc còn đề cập đến một loại gà quý nữa là “Tử Mị Trường”, tức ra đến trường mà vẫn còn ngủ gà ngủ gật. Đây là một giống gà hiếm, khi mang ra trường thì mắt lim dim như buồn ngủ, nhìn như không bận tâm gì đến mọi chuyện xung quanh, bất kể ồn ào, cứ đứng tỉnh bơ như thả hồn lên cung trăng, nước da tái nhợt. Nhưng khi cáp độ xong, chủ vào nước cho gà thì nó lại trở nên hoạt bát, linh động, nếu là gà cựa thì khi được mang đôi cựa sắt vào thì đôi đoản đao này sẽ chui vào hang cua, đâm thấu phổi đối phương, phần lớn gà này chỉ toàn thấy thắng. Đây là loại gà văn võ song toàn, vừa biết dùng mưu vừa biết dùng sức.

Nếu căn cứ vào dáng ngủ thì gà Tử Mị rất hiếm. Ngày nay, đa số gà được gọi “Tử Mị” không hề “xoạc chân, giang cánh”, chẳng qua khi ngủ đầu rớt ra khỏi cánh mà thôi; như vậy chúng đều là gà “Mị Khất” như những con trong hình đính kèm.

5/- Gà Nhật Nguyệt : Cựa Gà Nhật Nguyệt có hai màu, cựa chân này màu đen thì cựa chân kia màu trắng. 9-ga-choi-5-6Những con gà có cựa nhật nguyệt thường ra đòn hiểm và độc. Nếu là gà cựa thì có thể giết chết đối phương trong nháy mắt, là gà đòn thì đá gãy cần đối phương dễ như trở bàn tay. Chú ý kẻo nhầm lần với gà cựa tam lan (tức cựa có màu trắng đen lem nhem).

6/- Gà Thư Hùng Kê : Chân gà Thư Hùng Kê có hai màu, chân này màu trắng thì chân kia màu đen, hoặc chân này màu xanh thì chân kia màu vàng. Còn nếu chân không thuộc vào nhóm màu như trên hay chân trắng chân xanh thì cũng không được xem là Thư hùng kê mà đó chỉ là gà bị lai hoặc bị cận huyết. Sách gà của tác giả Xuân Tùng có viết “Gà có một chân đen một chân trắng hay một chân vàng một chân xanh…

Tóm lại, hai chân mỗi chân mỗi màu riêng biệt”. Còn sách gà Phan Kim Hồng Phúc viết “Đôi chân gà khác màu nhau gọi là thư hùng nhật nguyệt là gà rất hiếm, gặp được là diễm phúc”.

7/- Gà Lưỡng Nhãn : Mắt gà Lưỡng Nhãn có 2 màu khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Tú thì đây cũng là một loại gà thuộc loại Linh kê.

9-ga-choi-7

8/- Gà Lục Đinh : Theo tác giả Xuân Tùng, “trên và dưới cựa chính có nổi lên hai cựa phụ thấp hơn, nếu hai cựa này rung rinh thì tốt, là gà quý, gọi là Cựa lục đinh”. Theo tác giả Phan Kim Hồng Phúc “Cựa lục đinh lục giáp là cựa dành riêng cho gà giỏi, gà hay, gà hiếm, đá đâu cũng thắng.

9-ga-choi-8

Đặc biệt là gà này đá xong một độ, nghỉ ngơi độ ba mươi phút, lại có thể cáp độ với con gà khác, thả ra chỉ rẹt, rẹt mấy đá quay về, con gà địch thủ đang quằn quại trên vũng máu trong khi chủ gà thì đứng đực mặt ra, tự hỏi vì sao gà mình hay như thế, tại sao lại thua”.

9/- Gà Móng Cổ (Giáp cần) : Theo học giả Toan Ánh, “Gà dưới cổ có vảy: đây là một loại gà rất hiếm và cũng là một loại gà rất anh hùng”. Sách gà Xuân Tùng gọi là “giáp cần”, định nghĩa như sau: “hiếm lắm, “quý kê” là nó, một vảy mọc trên cần cổ, được lông che kín, gà đứng nước cao, càng khuya càng trổ ngón độc, chơi gà có vảy này khó bại”.Có những con gà có vảy mọc ở trên mồng hoặc khu vực gần với mồng, được gọi là Gà giáp mồng

9-ga-choi-9

10/- Gà Địa Giáp : Theo học giả Toan Ánh, “Vảy dép : vảy ở dưới bàn chân gà, loại vảy này thật hiếm”. Lòng bàn chân và các ngón thực ra vẫn có những tấm sừng nhỏ nhưng không được coi là “vảy”. Vảy (hoặc giáp) là những tấm sừng dày, to cỡ hạt bắp. Vảy có thể đóng tại chậu (tức lòng bàn chân), tại ngón hoặc cả hai, gọi chung là “vảy dép”. Theo sách gà Xuân Tùng, trường hợp “gà có một vảy lớn dưới chậu” thì gọi là “địa giáp”.

9-ga-choi-10

Trường hợp vảy đóng thành hàng trên các ngón trông giống như con rết thì được gọi là “vảy rết”. Căn cứ theo mô tả thì “địa giáp” và “vảy rết” là những trường hợp đặc biệt của “vảy dép”. Các đặc điểm chân cua, vảy dép, cánh đôi thường đi kèm với nhau.

11/- Gà Hai Bình Dầu : Sách gà Phan Kim Hồng Phúc viết   “Phao câu có hai bình dầu là gà quý tướng, hiếm có, đá đâu thắng đó, gặp được mà mua về nuôi là diễm phúc. Tuy nhiên khi có gà này không nên đem ra khoe, vì có người sành xem tướng gà, biết được quý tướng, tiếng lành đồn xa, tất nhiên người ta sẽ chạy, không chịu cáp độ, gà sẽ ế độ, rất uổng vì lúc đó chỉ để ngắm chơi mà thôi”.

9-ga-choi-11

Trong phần nói về gà quý, cụ Vương Hồng Sển liệt gà “hai phao câu” vào hạng ẩn tướng. Sách gà Xuân Vũ định nghĩa gà “Lưỡng Hậu” là gà có hai phao câu hoặc hai bình dầu. “Bình dầu” là tuyến chất nhờn nằm trên phao câu, đánh đồng bình dầu với phao câu là không chính xác, gà hai phao câu là một loại hoàn toàn khác.

9-ga-choi-12-13

12/- Gà Trữ Thực Tả : Theo sách gà Xuân Vũ, “thường thì bầu diều gà nằm bên phải,da-ga trái lại gà này ngược đời, có bầu diều nằm bên trái, ấy là “chiến kê”.

13/- Lão Kê Thần Đồng : Theo sách gà Xuân Vũ ,”gà có cái đầu xem ra rất già, trái lại thân còn tơ”. Một số sách ghi là loại gà này có tên khác, nhìn gà này thì trẻ tuổi nhưng lại có khuôn mặt dữ và già như một “ông cụ”. Gà này đá rất hay.Hình minh họa:

Yên Huỳnh chuyển tiếp