CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (9)

VỤ ÁN OAN CỦA

HẬU QUÂN LÊ CHẤT

Tuy đã chết 10 năm, Hậu quân Lê Chất, nguyên Tổng trấn Bắc Thành, vẫn bị vướng một vụ án oan khi bị vua Minh Mạng hạch tội, mộ bị san phẳng, vợ con bị án trảm giam hậu, tịch biên gia sản.

Cuộc đời của Lê Chất, cũng giống như người bạn thân của ông là Lê Văn Duyệt, đều lập nhiều chiến công hiển hách, sau khi giúp vua Gia Long thành công mỗi người được cử trấn giữ một đầu đất nước (Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành gồm toàn bộ các tỉnh miền Bắc, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định gồm toàn bộ các tỉnh miền Nam), nhưng sau khi đã chết, đều bị vua xử tội, mãi nhiều năm sau mới được giải oan.

Trong thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn xảy ra 3 vụ đại án, đó là các vụ xử Hoàng tôn Mỹ Đường (con Hoàng thái tử Cảnh), Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Các sử quan sau này đều cho rằng đây là ba vụ án oan.

1/. Lê Chất sinh năm 1769 (kém Lê Văn Duyệt 5 tuổi), mất năm 1826, quê ấp Bình Trị, xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, được gọi là Hậu quân Chất, nguyên là danh tướng của triều Tây Sơn, từng được phong tới chức Đô đốc.

Thuở nhỏ ông theo cha là Lê Trung học văn lẫn võ. Lê Trung theo Nguyễn Huệ từ sớm, còn Lê Chất, mãi đến năm Kỷ Dậu (1789) mới được Nguyễn Nhạc (lúc này xưng là vua Thái Đức) sử dụng, phong cho chức Thủy quân Đô tùy trông coi cửa biển Thị Nại. Sau khi Quy Nhơn thuộc về vua Cảnh Thịnh, Lê Chất được toàn quyền nắm giữ thủy binh với chức vụ Thủy sư Đô đốc.

Sau khi vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 9 tuổi, triều đình Tây Sơn bắt đầu lục đục vì các cuộc tranh giành quyền lực. Nhà vua bắt giết bố, vợ Lê Chất, lại lùng bắt ông khi đó đang cầm quân tại Quảng Ngãi, khiến Lê Chất phải dùng kế “kim thiền thoát xác”, dùng thi thể người khác giả là mình, rồi trốn vào rừng núi ở Trà Bồng, Quảng Ngãi.

Sau có người dụ hàng, Lê Chất về theo hầu chúa Nguyễn Phúc Ánh, lập nhiều chiến công, tuy nhiên cũng gây nhiều hiềm khích với các đại tướng, quan lại đứng đầu triều Nguyễn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức.

Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quy Nhơn. Lê Chất có nhiều công lao, giúp quân chúa Nguyễn hạ được thành, rồi theo Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm sau, khi quân chúa Nguyễn đánh nhau với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tại Bình Định, theo lời khuyên của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh kéo quân đánh ra Phú Xuân. Đến ngày 2 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.

Sau đó, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt được cử kéo quân vào đánh Bình Định, tuy lúc đầu bị hai tướng Tây Sơn là Trấn thủ Quảng Nam Phạm Cần Chánh và Trấn thủ Quảng Nghĩa Lê Sĩ Hoàng đánh bại, nhưng khi các tướng Tây Sơn biết tin Phú Xuân đã thất thủ, đành rút quân theo đường thượng đạo ra Bắc.

2/. Trong chiến dịch đánh ra Bắc năm 1802, Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, Bình Tây tướng quân, lần lượt đánh lấy các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, rồi kéo quân vào Thăng Long, bắt được vua quan nhà Tây Sơn, lập được công to, được phong tước Quận công. Khi đó, Đặng Trần Thường có lòng ghen ghét, bàn với các tướng rằng: “Chất mà được quận công thì lũ ta phải mười lần quận công”.

Lấy được Thăng Long, vua Gia Long cho đổi tên thành Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng trấn, Lê Chất là Hiệp Tổng trấn.

Năm 1803, ở Quảng Yên có giặc cướp, Lê Chất cầm quân đi đánh, có thắc mắc với tướng Nguyễn Văn Trương là sao Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành không đánh giặc, khiến Nguyễn Văn Thành bắt đầu gây lòng thù oán.

Năm 1820, vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi, Lê Chất vẫn được trọng dụng, được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, con là trai Lê Hậu được cho lấy Trưởng Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long. Con gái Lê Chất trước đó cũng được tiến vào cung làm vợ vua Minh Mạng, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên.

Lúc đương thời, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt là các khai quốc công thần, được vua Gia Long nể trọng. Tuy nhiên, sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đối xử với hai ông có phần giảm sút, có lẽ vì thế mà cả hai ông đều sinh bất mãn. Thái độ này đã gây vạ cho cả hai ông ngay cả sau khi đã chết.

Năm 1826, Lê Chất xin tạm nghỉ chức Tổng trấn Bắc thành về Bình Định lo việc tang cho mẹ, rồi mất ở quê nhà. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, tặng hàm Thiếu phó, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩnh.

3/. Năm 1835, sau khi Lê Văn Duyệt mất 3 năm, ở Gia Định, Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy làm phản, chiếm thành suốt 3 năm. Vì tội phản nghịch của con, Lê Văn Duyệt đã chết cũng bị xử tội, Tả thị lang bộ Lại Lê Bá Tú mới hạch tội Lê Chất sáu tội đại ác đáng phải xử lăng trì, và mười tội lớn nữa, trong đó gồm tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ.

Khi đình thần nghị tội, vua Minh Mạng dụ rằng: “Trước kia trẫm nghĩ hắn cùng Lê Văn Duyệt dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần, dù có mưu gian mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Nay đã có người tham hạch, vậy phải trái cho công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn cho đình thần đem mười sáu điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật mà nghi xử, duy con gái nào đã xuất giá cùng là cháu trai còn nhỏ thì tha”.

Các quan bàn rằng : Do Chất đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Vợ Chất là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay. Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương đọc và gửi ý kiến vế triều đình. Các quan ở địa phương đều tâu xin y lời nghị bàn của triều thần.

Vua Minh Mạng mới kết luận : “Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết thây cũng không là quá. Song nghĩ lại Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bị bổ áo quan, giết thây thì nắm xương thây của Chất cũng chẳng màng bắt tội”.

Sau đó, vua cho Tổng đốc Bình Phú (kiêm hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của Lê Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xứ” (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp). Vợ Lê Chất là Lê Thị Sa và các con là Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị án trảm giam hậu.

Gia sản của Lê Chất bị tịch thu, tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho sung công, rồi cho Tổng đốc Hà Ninh là Đặng Văn Hòa đem tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ. Người con gái Lê Chất tuy làm vợ vua sinh hoàng tử, cũng bị giam cho đến chết. Con Lê Chất là Lê Hậu lấy công chúa (cô ruột vua Minh Mạng) nhưng đã chết nên không liên quan.

Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị xử chém năm 1838. Lê Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu của Lê Chất là bọn Lê Luận được giảm tội, đày lên Cao Bằng để làm lính, đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ ân xá mới được tha về.

Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới dâng biểu xin gia ơn con cháu Thái tử Cảnh, cùng xin bổ dụng con cháu các đại thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Vua nghe cảm động, cho thi hành cả. Đến năm 1868 vua Tự Đức mới truy phong cho ông chức Tả đồn Đô Thống chế.

Cuộc đời của cha con Lê Chất mang nhiều bi kịch, cả hai ông đều lập được nhiều công trạng phục vụ cho chủ của mình, song cuối đời đều bị các vua sau đối xử bất công, tàn nhẫn. Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh chém đầu, Lê Chất bị Minh Mạng cho san bằng mồ mả, đều là những nỗi oan thiên cổ.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BẤT NGỜ

SỞ HỮU “SIÊU NĂNG LỰC”

SAU KHI BỊ SÉT ĐÁNH

Không chỉ may mắn sống sót khi bị sét đánh, nhiếp ảnh gia người Úc tên Brian Skinner còn phát hiện ra mình bỗng dưng sở hữu khả năng đặc biệt: “đọc được” suy nghĩ của người khác.

Được biết, Brian đã bị sét đánh nhưng may mắn thoát chết trong một lần chụp ảnh tại bãi biển tại bờ biển New South Wales. Julia – người cộng sự của anh đã ghi lại cảnh tượng đó và chia sẻ lên mạng. Brian cho biết tia sét cách anh rất gần, có lẽ chỉ chưa đến 5m.

“Tất cả mọi thứ như đứng yên… rồi tia sét đi ra khỏi cơ thể tôi. Tôi cảm thấy mình như một luồng điện chạy xuyên qua tay, qua 5 ngón tay”, anh kể.

Thật may là Brian đã không phải chịu hoàn toàn tác động của tia sét và nhanh chóng chạy thoát khỏi hiện trường. Anh chỉ bị thương nhẹ phần bàn tay với những vết bầm tím và thâm đen. Brian tin rằng chính chiếc nhẫn vàng trên ngón tay đã hứng trọn những tác động kinh khủng của tia sét và cứu sống mình. Một bức ảnh cho thấy chiếc nhẫn bị là phẳng một phần sau khi bị sét đánh.

Ngay khi trở lại trong xe, tôi nhìn xuống bàn tay và thấy nó bị cháy đen”, anh cho biết. “Tia sét thực sự đã xuyên thẳng vào bàn tay phải của tôi, đi qua tất cả các ngón tay và bẻ cong chiếc nhẫn vàng trên tay tôi”.

Sau lần chết hụt đó, anh đã kinh ngạc phát hiện mình có những khả năng kì lạ trong một lần đến bác sĩ để chụp X-quang. “Trong khoảng một tuần, các giác quan của tôi đã nhạy bén hơn. Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ mà mắt thường không thấy được và nghe thấy mọi người ở khoảng cách rất xa. Thậm chí tôi có thể cảm nhận mọi vật bằng tâm linh”. Một tháng sau đó, Brian khiến mọi người bất ngờ khi tuyên bố mình có khả năng “đọc được ý nghĩ”.

“Tôi nhìn vào mọi người và thấy những gì họ nghĩ giống như họ đang nói chuyện với tôi. Tôi nghĩ rằng mình bị ảo tưởng, tôi nói với mọi người về những gì mình cảm nhận được và ai cũng thấy kỳ lạ”.

“Thật sự là nếu có ai đó bước vào phòng thì tôi sẽ biết được họ muốn nói gì với tôi. Tôi nghĩ, mình có thể trở thành Clark Kent hay siêu nhân hay không?”, anh cười nói.

Một chuyên gia tiết lộ rằng có thể cường độ của tia sét vẫn còn tồn tại trong cơ thể anh là nguyên nhân dẫn đến khả năng đặc biệt kia. Mặc dù từng suýt bị sét đánh chết nhưng Brian giờ đây vẫn tiếp tục hứng thú với công việc chụp ảnh những tia sét. Tuy nhiên với “siêu năng lực” đang sở hữu, dường như vị nhiếp ảnh gia này sẽ không còn gặp nguy hiểm tương tự trong tương lai.

Giờ đây tôi có thể cảm nhận khi có một cơn bão đến gần, tôi cảm nhận được năng lượng quanh bàn tay mình ngay cả khi đang ngủ”. (Lê Trúc Theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CHUYỆN VỀ BẦY SÓI “BÁO ÂN”

LẠI KÉO ĐẾN BẢN LÀNG “BÁO OÁN”

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Dù là ai cũng nên đọc 1 lần. Ông lão cứu thoát một con sói mẹ đang mang thai, sói mẹ vì báo ân mà dẫn theo cả bầy sói đến làng. Và điều không ngờ đã xảy đến, vị ân nhân của sói mẹ lại lãnh chịu cái chết thật bi thảm… Vì sao lại như vậy ?

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Thế nhưng, là một làng quê nhỏ hẻo lánh, thôn Thường Nhân lại được hưởng trọn một khoảng trời bình yên. Vậy nên không ít người bên ngoài tìm đến thôn lánh nạn, cho tới nửa năm sau trong thôn đã có mấy trăm nhân khẩu sinh sống.

Người có uy tín nhất trong làng là ông lão họ Lưu, tuổi chỉ mới ngoài 60. Dân làng kính trọng gọi ông là “Lưu lão” bởi không ai biết tên thật của ông là gì. Người làng chỉ biết thời trẻ ông Lưu từng gia nhập Nghĩa Hòa đoàn, đã từng chứng kiến các sự kiện lớn nhỏ của xã hội, hơn nữa ông còn thông hiểu âm dương, gieo quẻ bói toán, đến trung niên mới định cư ở làng. Bởi vậy lão Lưu càng được mọi người tôn kính hơn.

Hàng ngày ông Lưu thường dậy sớm lên núi hái thảo dược và quả mọng. Trong làng vốn không có nhiều ruộng, hơn một nửa dân làng không có đất canh tác, bởi vậy họ chỉ có thể vào rừng tìm kiếm thức ăn qua ngày. Hôm ấy, ông Lưu vừa lên núi thì giật mình nghe thấy tiếng rú thảm thiết vang vọng đâu đây.

Vừa định quay đầu chạy xuống núi, ông bỗng phát hiện một con sói nằm trên mặt đất đang ngước mắt nhìn ông. Vốn là người đã trải qua nhiều sóng gió, ông nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, cầm chắc con dao phòng thân mang theo mình. Con sói này tuy nhe nanh trợn mắt tỏ ra hung dữ, nhưng lại không thể động đậy. Thì ra nó bị mắc kẹt trong cái bẫy thú, vùng chân bị thương máu chảy loang lổ khắp xung quanh.

Ông Lưu nghĩ bụng : “Nếu cả đàn sói tìm đến hại người thì phải làm sao đây ? Chi bằng hãy nhân lúc nó bị thương mà trừ đi hậu hoạ vậy”. Nhưng khi tiến đến gần hơn, ông để ý thấy phần bụng của nó căng tròn, không giống như bị bỏ đói lâu ngày. Thì ra, đây là sói mẹ đang mang thai…

Ông Lưu sững lại. Nhìn sói mẹ đang vùng vẫy trong tuyệt vọng, đôi mắt nó ánh lên vẻ vô vọng như cố bảo vệ đứa con trong bụng, ông sực nhớ đến người vợ quá cố của mình. Nàng, cô gái của cuộc đời ông, người vợ mà thời trai trẻ ông hết mực yêu thương và trân trọng lại phải chết trong tay người Tây dương… Và đứa con, đứa con trong bụng nàng mà ông vẫn ngày đêm mong ngóng ấy, cũng trở thành một bào thai yểu mệnh. Vết thương lòng ấy cho đến nay vẫn còn nhức nhối khiến ông không thể nào quên.

Động vật liệu có tình cảm giống như con người hay không ? Ông Lưu ngập ngừng, nửa muốn tỏ ra lạnh lùng vô cảm, nửa muốn buông dao để cứu lấy một sinh linh đau khổ. Nhưng điều duy nhất mà ông biết là, chứng kiến cái chết của cốt nhục thân nhân có thể khiến người ta đau đớn cùng cực.

Ông Lưu nhìn sói mẹ mà không nói nên lời, con sói cũng nhìn ông bằng ánh mắt van nài, đầu cúi thấp xuống giống như một người mẹ đang khẩn khoản xin tha mạng cho đứa con của mình.

Rõ ràng đó chỉ là một con sói, một con vật mà người ta vẫn cho là hung dữ hoang tàn, vậy mà lại khiến ông xúc động mạnh mẽ. Dường như ông cũng thấu hiểu tâm can nó, và dường như nó cũng muốn nói với ông những lời mà – giống như nhiều chục năm về trước, nàng đang khẩn khoản cầu xin kẻ sát nhân ấy hãy dừng tay lại. Lòng mềm nhũn, ông bèn cẩn thận đi đến gỡ bỏ cái bẫy thú ở chân sói mẹ. Sau khi được gỡ bỏ cái bẫy thú, nó liền đứng dậy, ngoảnh đầu nhìn ân nhân lần cuối, rồi khập khiễng đi vào rừng sâu.

Trên đường trở về, ông Lưu thấy mí mắt cứ nháy liên hồi, trong lòng ông thấy điều gì đó bất an. Người ta thường nói rằng loài sói chỉ nhớ thù chứ không nhớ ân, mình tuy đã cứu nó một mạng, nhưng dù sao cái bẫy thú vẫn là người khác đặt. Hơn nữa con sói đó cũng đã phát hiện ra thôn làng, liệu có khi nào chúng kéo đến hại người thì phải làm sao ? Và lỡ như chúng làm tổn hại đến tính mạng dân làng, mình há không phải đã “thả sói về rừng” ư ?

Về đến nhà, ông Lưu vội lấy đồng xu gieo quẻ đoán cát hung, kết quả của quẻ tượng khiến ông giật mình kinh hãi: “Trong làng sẽ có họa ngập đầu, cả làng lầm than“.

Ông Lưu đứng ngồi không yên, quả đúng như ông đoán, trong làng ắt có tai họa ập đến, không biết sẽ chết bao nhiêu người ? Nếu tai họa là từ bầy sói, mà cả thôn chỉ có một khẩu súng săn, đối mặt với bầy sói đói hung tợn thì biết làm sao đây ? Ông cảm thấy hối hận, tự nhủ : Đáng lẽ lúc ấy mình không nên mềm lòng mới phải!

Ba ngày sau, chuyện mà ông Lưu lo lắng trong lòng cuối cùng đã đến. Nhưng không phải bầy sói mà là đám thổ phỉ. Mấy chục tên thổ phỉ cưỡi ngựa tay lăm lăm khẩu súng tràn vào trong thôn làng ngang ngược cướp bóc, ngay đến cả gia súc chúng cũng không bỏ qua.

Đám thổ phỉ dồn dân làng ra ngoài cổng làng rồi tha hồ cướp bóc, bắn giết những người chúng cho là “cứng đầu”, ngay cả người già và trẻ nhỏ chúng cũng không tha mạng. Như để giương oai hùm cọp, kẻ đứng đầu đám thổ phỉ bắn súng chỉ thiên rồi lớn tiếng quát lên ầm ĩ.

Tiếng hét vừa dứt, từ trên núi có tiếng sói rú lên vọng lại từng hồi từng hồi. Rồi một bầy sói xuất hiện. Lúc đầu chỉ là một con, hai con, rồi ba con, và hàng chục con sói ồ ạt phi đến. Một bầy sói cùng nhau rú lên, tưởng chừng như khắp bốn phương tám hướng đều là tiếng rú của bầy sói. Thật giống hệt tình cảnh “bốn bề khúc hát Sở quân”. Tiếp đó, mấy chục con sói lao thẳng đến đám thổ phỉ, chỉ trong nháy mắt đã bổ nhào đến nơi.

Đám thổ phỉ hoang mang nổ súng. Nhưng tiếng súng vang lên chưa được mấy hồi đã trở thành tiếng cắn xé của bầy sói. Dân làng ai nấy đều khiếp đảm, không thể ngờ rằng trên núi lại có nhiều sói hoang ẩn náu như vậy. Tiếng kêu la thảm thiết của đám thổ phỉ và tiếng cắn xé của bầy sói như rền vang cả một góc trời, người nào trông thấy đều không khỏi kinh hồn bạt vía.

Sau khi đám thổ phỉ đã bị triệt hạ, con sói đầu đàn uy phong lẫm liệt nhất trong bầy cùng với sói mẹ đi một vòng quanh ông Lưu rồi cúi đầu lạy tạ, sau đó dẫn bầy sói quay trở về núi. Chỉ trong nháy mắt đàn sói đã mất hút vào rừng sâu, trên mặt đất chỉ còn lại những vũng máu loang lổ, minh chứng cho một trận chiến kịch liệt vừa xảy ra.

Ông Lưu thổn thức trong lòng, không ngờ động vật cũng biết báo ân. Còn những người dân làng vừa chứng kiến sự việc thì xì xào to nhỏ với nhau :

– Không ngờ trên núi lại ẩn náu nhiều sói như vậy.

– Đám thổ phỉ này chết thảm quá, chỉ sợ mai kia bầy sói đến ăn thịt chúng ta, lúc ấy phải làm thế nào?

– Các ông không thấy sao, khi nãy chính mắt tôi trông thấy mấy con sói còn cung kính cúi đầu trước lão Lưu cơ đấy.

– Sao có chuyện kỳ lạ như thế ? Có khi nào lão Lưu là ma sói biến thành không ?

– Có lý, có lý, nhất định ông ta là ma sói biến thành rồi !

Sau một hồi bàn tán xôn xao, ai nấy đều nhìn ông Lưu với vẻ ngờ vực, có người tỏ ra khinh miệt, có người lại tỏ ra sợ hãi như nhìn thấy yêu ma. Bỗng một tiếng nói phá tan bầu im lặng : “Đánh chết con ma sói này !”, “Đúng rồi, đánh chết nó đi, đánh chết nó đi !”, “Bầy sói là nhà ngươi dẫn đến mà, phải không ?”.

Nói rồi, tất cả cùng hùa nhau kéo đến, có người cầm gậy gộc, có người cầm đá, có người cầm bất cứ thứ gì mà họ vớ lấy được, rồi ra sức đánh tới tấp ông Lưu. Sau khi ông Lưu chết đi, dân làng còn mời đạo sĩ đến làm phép trấn áp “con ma sói” để nó mãi mãi không được siêu sinh.

Ông Lưu có chết cũng không ngờ được rằng, tai họa ngập đầu trong quẻ bói của ông không phải ám chỉ bầy sói, cũng không phải ám chỉ đám thổ phỉ, mà là chính người dân trong làng mình.

Vào một đêm trăng, sấm chớp liên hồi nhưng không thấy đổ mưa, không biết nguyên nhân gì khiến thôn làng xảy ra hỏa hoạn, bầy sói trong bóng đêm phân tản ra bốn phía xung quanh ngôi làng, ngẩng đầu nhìn ánh trăng rú lên đau đớn…

Câu chuyện kết thúc đầy bất ngờ khiến mỗi chúng ta không khỏi suy ngẫm. Từ chuyện đàn sói báo ơn, cho đến việc dân làng dồn ân nhân của mình đến chỗ chết, lòng người không khỏi cảm thán: Phải chăng chỉ có con người mới dùng nghi hoặc để đối đãi với thiện tâm, dùng bạo hành để đáp lại ơn huệ ?

Năm xưa, Lão Tử vì thấy thế nhân hiểm ác nên vội vàng viết cuốn “Ngũ Thiên Ngôn” (Đạo Đức Kinh) rồi rời đi. Có lẽ Ông đã sớm hiểu rằng người ta không chết vì bầy thú hoang dại, không chết vì thiên tai địch hoạ, cũng không chết vì gươm đao khói lửa, mà chết vì lòng người quá nham hiểm !

Có câu chuyện kể về Mặc Tử xem người ta nhuộm vải. Ông thấy rằng khi những tấm vải trắng được nhúng vào thùng, chúng sẽ biến thành những tấm vải đủ loại sắc màu.

Và Mặc Tử đã khóc. Vì sao ông khóc ? Là bởi xã hội này cũng giống như thùng thuốc nhuộm, mà hễ bước chân vào đời, người ta sẽ bị nhấn chìm trong đó. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, bất cứ ai sinh ra cũng mang một tâm hồn thuần khiết. Nhưng rồi trải qua tháng năm bôn ba, qua quá trình phấn đấu, qua cuộc sống mưu sinh, thì bản tính ban sơ đã lấm bẩn bụi trần.

Vì thấu hiểu lẽ nhân sinh ấy mà cổ nhân luôn giảng về “Đức”. Bởi chỉ có Đức mới có thể đưa con người trở về với chân ngã của mình, chỉ có Đức mới có thể giúp người ta khỏi sa đoạ trong vũng lầy nhân thế.

Và chắc chắn là, nếu có thể sống trọn vẹn với chữ “Đức” này, chúng ta sẽ làm được “cả thế gian đều say, chỉ có mình ta tỉnh; cả thế gian đều vẩn đục, chỉ mình ta sạch trong”… (theo Lê Quang)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (8)

8 CÔNG TRÌNH ĐẦU TIÊN

CỦA SÀI GÒN XƯA

Khách sạn Continental, nhà hát Thành phố, Bệnh viện Chợ Quán, Bưu điện trung tâm… là những công trình đầu tiên được xây tại vùng đất Sài Gòn Gia Định với lịch sử hơn 300 năm.

1/- Nhà hát : Được khởi công năm 1898 và hoàn thành năm 1900, Nhà hát Thành phố mang kiến trúc Tây Âu. Các phù điêu bên trong được họa sĩ tên tuổi người Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát Pháp cuối thế kỷ XIX.

Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, nơi đây được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Đến tháng 5/1975, trở thành nhà hát thành phố đến nay. Nằm tại lõi Sài Gòn, nhà hát đa năng, là nơi biểu diễn sân khấu nghệ thuật và được sử dụng để tổ chức những sự kiện lớn.

2/- Khách sạn : Continental là khách sạn có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất thành phố. Tọa lạc trên đường Đồng Khởi – kéo dài từ bờ sông Sài Gòn đến Nhà thờ Đức Bà. Đây cũng là con đường sầm uất bậc nhất thời bấy giờ, có rất đông người Pháp cư ngụ.

Khách sạn này được ông Pierre Cazeau – nhà sản xuất vật liệu xây dựng và đồ gia dụng – khởi công năm 1878 và hoàn thành sau 2 năm. Kiến trúc, nội thất cũng như cách bài trí đều theo tiêu chuẩn của một khách sạn hạng sang tại Paris. Đây là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác và là chỗ tụ hội của du khách thập phương.

Sau ngày 30/4/1975, nơi đây được đổi tên thành Hải Âu. Đến năm 1989, công trình được tu sửa và lấy lại tên cũ Continental, rộng hơn 3.400 m2, cao 3 tầng. Khách sạn từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng thế giới. Hiện, Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần phát triển ngành du lịch TP HCM.

3/- Bệnh viện : Năm 1862, Bệnh viện Chợ Quán được một số nhà hảo tâm đóng góp xây dựng và quản lý. Toạ lạc trên khu đất rộng gần 5 ha tại làng Chợ Quán nằm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn, phía trước bệnh viện là sông Bến Nghé (nay gọi là kênh Tàu Hủ) chảy qua. Năm 1864, công trình được giao lại cho chính quyền thời bấy giờ quản lý.

Từ 1954 đến 1957, 2/3 cơ sở bệnh viện được sử dụng làm nơi điều trị bệnh lao cho binh lính và đổi tên thành Viện bài lao Ngô Quyền. Cuối năm 1957, bệnh viện được trả về cho dân sự, lấy lại tên ban đầu là Bệnh viện Chợ Quán.

Tháng 3/1974 bệnh viện mang tên mới là Trung tâm Y Khoa Hàn – Việt. Sau ngày 30/4/1975 nó được gọi bằng tên cũ. Đến ngày 5/9/1989, UBND TP HCM đổi thành Bệnh viện Bệnh nhiệt đới, trực thuộc Sở Y tế đến nay.

4/- Bưu điện : Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn, Pháp đã thiết lập hệ thống thông tin liên lạc. Năm 1860, “Sở dây thép” Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn) được thành lập. Ngày 13/1/1863, Sở dây thép Sài Gòn chính thức khánh thành và phát hành “con cò” (cách gọi con tem của người bản địa) đầu tiên. Một năm sau, người Sài Gòn bắt đầu gửi thư qua nhà “dây thép” (hệ thống bưu điện).

Năm 1886-1891, Bưu điện Sài Gòn được xây lại hiện đại, thay thế cho trụ sở và khu nhà ở cũ theo đề án của kiến trúc sư người Pháp là Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Từ ngày 1/7/1894 Sài Gòn bắt đầu sử dụng hệ thống điện thoại.

Đây là công trình kiến trúc mang phong cách Âu châu  kết hợp với nét trang trí Á châu . Phía trước ngôi nhà trang trí theo từng ô hình chữ nhật, trên đó ghi danh những nhà phát minh ra ngành điện tín và ngành điện.

5/- Nhà thờ : Nhà thờ Chợ Quán (20 Trần Bình Trọng, quận 5) xây lần đầu vào năm 1700 – được xem là nhà thờ có lịch sử lâu đời nhất tại Sài Gòn.

Theo học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Họ Đạo Chợ Quán gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của đất nước. Trong số di dân vào Nam đã có những giáo dân theo đạo Thiên Chúa. Họ tập hợp, tổ chức nhà nguyện và sau này là nhà thờ Chợ Quán.

Thánh đường Chợ Quán ban đầu chỉ là ngôi nhà thờ đơn sơ. Sau nhiều lần xây dựng rồi bị tàn phá vì thời cuộc (1720, 1727, 1733, 1775, 1789,1793).

Mãi đến năm 1882 (lần thứ 8), cha Nicolas Hamm về kế nhiệm đã đặt nền móng cho ngôi nhà thờ mới (nhà thờ tồn tại đến ngày nay). Thánh đường được khánh thành năm 1896 nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1.000 người.

6/- Đình : Xây dựng khoảng năm 1679, Thông Tây Hội được xem là ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và cả Nam Bộ. Hiện, nó còn khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ.

Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông – thôn khởi nguyên của Gò Vấp – sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội hiện nằm trên địa bàn phường 11, quận Gò Vấp.

Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương.

7/- Chùa : Huê Nghiêm tọa lạc ở đường Đặng Văn Bi (quận Thủ Đức), được xem là ngôi chùa cổ nhất ở Sài Gòn. Ngày nay, chùa thường được gọi là Huê Nghiêm 1 để phân biệt với chùa Huê Nghiêm 2 ở quận 2. Chùa được Thiền sư Thiệt Thụy – Tánh Tường (1681 -1757) khai sơn vào thế kỷ XVIII. Nhiều tư liệu xác định năm thành lập là 1721.

Lúc đầu, chùa được xây ở vùng đất thấp, cách chùa hiện hữu khoảng 100 m. Sau đó, bà Nguyễn Thị Hiên (1763-1821) pháp danh Liễu Đạo, tự Thành Tâm, đã hiến đất để xây lại. Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần, lớn nhất là vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý – Huệ Lưu tổ chức.

Kiến trúc của nó được thay đổi ở những lần trùng tu năm 1960, 1969, 1990 và 2003 với mái ngói chồng diêm, các đầu đao cong vút. Bờ nóc mái trang trí những hoa sen cách điệu. Khuôn viên chùa khá rộng, có nhiều tháp cổ. Tam quan chùa và đài Quan Âm ở sân trước chùa được xây vào năm 1990.

8/- Cầu : Là một trong những cây cầu cổ xưa nhất còn sót lại ở Sài Gòn, cầu Mống bắc qua kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Cầu mang đậm nét phương Tây, do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries Maritimes đầu tư và công ty Levallois Perret (tức Eiffel cũ) thi công vào năm 1893-1894.

Dài 128 m, rộng 5,2 m, cầu có lề bộ hành rộng 0,5 m và được xây bằng thép kiên cố. Thành cầu uốn cong có những khoảng trống, sơn xanh (ban đầu cầu có nước sơn màu đen). Hình dáng vòng cung giống cầu vồng nên người dân gọi tên là cầu Mống. Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông – Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì nó được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật.

Hiện, cây cầu hơn 100 tuổi đã được khôi phục dành cho người đi bộ – là nơi chụp ảnh cưới, ngắm cảnh về đêm, đứng xem pháo hoa mỗi dịp lễ, tết của người dân Sài Gòn.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ THẬT VỀ CÁCH

ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI LA MÃ

Người La Mã cổ nổi danh về thói rượu chè bê tha và yến tiệc phung phí – dẫn tới thói nôn ợ tai tiếng, những câu chuyện đó phần lớn là giai thoại, hoặc được đưa ra như những thông điệp về đạo đức và cảnh báo về thói phung phí xa xỉ. Sự thực, cách ăn uống người La Mã cổ hoàn toàn khác hẳn.

Bữa ăn của người La Mã cổ trong suốt thời kỳ Đế quốc (753 đến 509 trước công nguyên) khá giống với chế độ ăn của người Hy Lạp cổ. Khá đơn giản và tương đối ít loại thực phẩm, người La Mã trong giai đoạn này chủ yếu ăn cháo yến mạch (gọi là puls) được nấu từ lúa mì, muối, dầu ôliu và rất nhiều loại gia vị. Họ còn ăn rau, trái cây, thịt, cá và hải sản và thường sử dụng dầu ôliu, muối, hạt tiêu cùng nhiều loại gia vị.

Các bữa ăn gồm có : jentaculum (bữa sáng), cena (bữa trưa) và vesperna (bữa tối). Trong bữa sáng người La Mã chỉ ăn nhẹ và thường ăn bánh mì với mật ong hoặc pho mát. Họ ăn nhiều vào bữa trưa và đây là bữa chính trong ngày, trong khi đó bữa tối gồm cả bữa ăn nhẹ vào buổi đêm.

Dưới thời kỳ Cộng hoà và thời kỳ Đế quốc, khi đế quốc La Mã đã bành trướng và trở nên giàu có hơn, nguồn thực phẩm vì thế cũng phong phú. Người La Mã được làm quen với nhiều loại thực phẩm và cách nấu nướng của các tỉnh thành. Bữa trưa có nhiều món hơn và chuyển dần sang buổi chiều (vào khoảng từ 2 đến 3 giờ chiều), các loại thực phẩm cũng đa dạng, và không còn bữa tối (bữa khuya nhẹ) nữa. Bữa trưa trong quá khứ được thay thế bằng một bữa ăn, tương tự như một bữa trưa nhẹ.

Bữa trưa, ban đầu thường chỉ có một món, trong thời kỳ Cộng hoà đã có tới hai món; món chính và món tráng miệng, gồm có hoa quả và hải sản. Vào cuối thời kỳ Cộng hoà, bữa trưa biến thành bữa ăn có ba món: món khai vị (gustatio), món chính (primae mensae) và món tráng miệng (secundae mensae).

Đứng, ngồi, nằm: những thói quen ăn uống biểu thị tầng lớp xã hội.

Có rất nhiều sự khác biệt trong thói quen ăn uống của tầng lớp bình dân và quý tộc và những khác biệt này trở nên ngày càng lớn hơn trong thời kỳ Cộng hoà và Đế quốc. Ví dụ, Người La Mã bình thường không có khả năng mua thịt và các thực phẩm lạ lùng đắt tiền từ các tỉnh thành. Họ thường ăn cháo yến mạch nấu từ lúa mì, muối, mỡ và nước (puls) cùng bánh mì rắc muối.

Người giàu hơn cũng ăn cháo yến mạch nhưng có cho thêm rau, thịt, pho mát và nhiều loại gia vị khác. Tầng lớp người La Mã bình dân (và nô lệ) ngồi ăn quanh một chiếc bàn trong khi những người giàu ngồi hoặc nằm tựa trên những chiếc trường kỷ trong một gian phòng gọi là triclinium.

Trong thời kỳ Cộng hoà và Đế quốc, tầng lớp trên có thói quen dùng bữa trưa vào buổi chiều và không còn ăn bữa tối hay bữa khuya. Những người La Mã bình dân không thể mua nổi dầu thắp đèn vào buổi tối và hay đi ngủ sớm để dậy đi làm vào sáng hôm sau. Họ vẫn dùng bữa trưa vào buổi trưa và dùng bữa tối hay bữa khuya ngay trước khi đi ngủ.

Họ không dùng loại bánh mì chúng ta thường biết

Bánh mì là loại thực phẩm chủ yếu thường được ăn với mật ong, dầu oliu, pho mát hay trứng, người La Mã cổ còn nhúng bánh mì vào rượu vang. Ở thành phố Pompeii, người ta đã phát hiện ra hơn 30 lò nướng bánh và nhiều cối xay để nghiền các loại hạt, điều này chứng tỏ rằng người La Mã cổ ăn nhiều bánh mì! Bánh mì thường là những ổ bánh dẹt hoặc hình tròn và được ăn với chút muối (không phải là bơ như chúng ta vẫn tưởng tượng).

Phan Tất Đại chuyển tiếp

10 BẢO VẬT ĐƯỢC CHÔN

TRONG LĂNG MỘ CỦA TỪ HY

Được xem là người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất trong lịch sử Trung Hoa, Từ Hy Thái còn nắm giữ rất nhiều báu vật quý giá của thời Trung Hoa cổ đại. Trong đó phải nói đến số báu vật được chôn trong lăng mộ của bà.

Trong số những báu vật được Từ Hy Thái hậu mang theo vào lăng mộ có 10 báu vật quý giá dưới đây :

1/. Trân bảo Dạ Minh Châu : Theo tư liệu ghi chép lại, khi Từ Hy Thái hậu mất đi, người ta đã chôn bà cùng với một viên Dạ Minh Châu ngậm ở trong miệng. Viên Dạ Minh Châu này có thể tách ra thành hai khối và khi ghép lại sẽ tạo thành hình cầu. Khi tách ra, hai nửa Dạ Minh Châu có màu trong suốt nhưng khi ghép lại nó tạo thành một đường ánh sáng. Ban đêm, viên Dạ Minh Châu này phát sáng và chiếu rọi được trong một phạm vi 100 bước.

Có thông tin cho rằng, viên Dạ Minh Châu này có tác dụng làm cho thi thể không bị hủy nên khi mở quan tài Từ Hy Thái hậu, người ta phát hiện bà như người đang ngủ. Chỉ khi gặp gió thì mặt của bà mới bị biến thành màu đen.

Dạ Minh Châu là một trong những kiệt xuất của văn hóa cổ xưa của thế giới. Đồng thời nó còn là một bí ẩn của tự nhiên, lịch sử và văn hóa. Học giả Vương Xuân Vân, người nghiên cứu châu báu tự nhiên của Trung Quốc cổ đại cho biết : Viên Dạ Minh Châu mà Từ Hy Thái hậu ngậm trong miệng khi chết là một khối hình tròn có trọng lượng khoảng 78,28 cara đá kim cương.

2/. Phỉ thúy dưa hấu : Từ Hy Thái hậu giữ gìn báu vật này giống như mạng sống của mình. Báu vật này luôn được Từ Hy Thái hậu đặt ở tủ kiên cố nhất và có khóa. Nếu muốn mở khóa này, phải dùng chìa khóa vặn 5 lần sang bên trái thì mới mở được, nếu vặn sai hướng hay nhiều hơn, ít hơn 5 lần thì đều không mở được.

Từ Hy Thái hậu còn phái 3 Thái giám thân tín ngày đêm trông coi căn phòng giữ báu vật này. Thi thoảng, Từ Hy Thái hậu lại sai người mang báu vật này về phòng ngắm và cho người khác thưởng thức. Đây là thiên hạ độc nhất vô nhị bảo vật.

3/. Bạng Phật (Phật ngọc trai) : Bảo vật này được làm rất công phu và cầu kỳ từ những viên ngọc trai để tạo hành hình dáng Phật, sau đó người ta đặt nó vào trong cơ thể của con trai để con trai tiết ra một lớp bao xung quanh vật này. Sau một thời gian dài, lớp này phủ lên báu vật kia càng ngày càng dày và cuối cùng tạo thành một hình tượng Phật ngọc trai sáng bóng.

Đương nhiên, mỗi một “Bạng Phật” này sẽ là một báu vật vô giá. Từ Hy Thái hậu chôn theo 18 pho tượng “Bạng Phật” này nhưng cuối cùng đều bị đào trộm mất. Hiện tại người ta vẫn chưa thể xác minh được những pho “Bạng Phật” bị đào trộm này đang ở đâu.

4/. Thúy ngọc cải trắng : Đây là vật phẩm vô cùng trân quý và có tiếng tăm rất lớn. Đây là vật mà Từ Hy Thái hậu yêu thích nhất khi còn sống. Cây cải trắng này đang nhú lên chồi non xanh. Ngoài ra, đi cùng cây cải này còn có hai con bò vẽ màu đỏ và vàng giao nhau. Báu vật này rất sống động, được chế tác rất tinh xảo. Thúy ngọc cải trắng này có tạo hình vô cùng giống với cây cải trắng thật. Nó là từ một hòn thúy ngọc lớn, qua mài và đẽo mà thành.

5/. Hoa sen ngọc thạch : Thời Trung Quốc cổ đại, “Ngọc tỷ”, “Bích tỷ” là biểu tượng của Hoàng đế, Hoàng hậu ngụ ý là quyền lực, tránh ma quỷ và đem lại may mắn. “Bích tỷ” này là bảo vật mà Từ Hy Thái hậu thường đặt bên gối. Theo ghi chép, khi Từ Hy Thái hậu chết, có chôn theo một đóa hoa sen được làm từ ngọc xanh có trọng lượng khoảng 5.092 gram.

5/- Cây san hô : Từ Hy Thái hậu đặc biệt yêu thích cành san hô xinh đẹp tráng lệ này. Đầy khắp thân của những cành san hô lớn này là những nhánh san hô nhỏ là những cây anh đào, lá xanh, quả hồng vô cùng sáng. Ngoài ra trên cây còn có một gốc anh đào và một đôi chim bói cá được khảm từ ngọc.

7/. Ngọc sen : Ngọc sen là báu vật mà Từ Hy Thái hậu rất yêu thích. Bên trên ngọc sen này còn có lá sen màu xanh mọc ra và nở ra một bông hoa sen màu hồng phấn. Bên cạnh hoa sen còn treo mấy viên mã thầy màu đen, trông vô cùng tinh xảo và tráng lệ. Nhưng sau khi ngôi mộ này bị đào trộm, báu vật này cũng không rõ đang ở đâu.

8/. Chăn kinh được dệt từ sợi vàng : Trên thi thể của Từ Hy Thái hậu có đắp một tấm chăn được dệt từ gấm Minh Hoàng và những sợi vàng. Trên tấm chăn này được dệt 25.000 chữ kinh văn Đà La Ni. Trên tấm chăn kinh này còn được điểm xuyết 820 viên ngọc trai vô cùng giá trị.

Có thông tin cho rằng, ngôi mộ Từ Hy Thái hậu sau bị đào trộm, chúng đã lấy đi những viên ngọc trai ấy và vứt lại tấm chăn này trên mặt đất. Đến năm 1979, lúc dọn dẹp cung điện dưới mặt đất này người ta mới phát hiện ra. Ngoài ra, bên trên tấm chăn có chữ kinh này còn được phủ bởi một lớp chăn được đan 6.000 viên ngọc trai quý giá. Đây cũng là báu vật vô giá.

9/. Mũ phượng : Đời nhà Thanh, trên mũ phượng hoàng của Từ Hy Thái hậu có gắn 9 con phượng hoàng. 9 con chim phượng hoàng này trong miệng đều ngậm 9 viên Dạ Minh Châu. Mỗi viên Dạ Minh Châu này có kích cỡ to nhỏ là khác nhau. Từ trong bóng tối, những viên Dạ Minh Châu này có thể phát ra ánh sáng trắng, khi đặt ở bên ngoài chỗ có ánh sáng thì nó lại khôi phục nguyên dạng như ban đầu.

10/. Linh lung bảo tháp : Có tài liệu nói rằng, Linh lung bảo tháp này hoàn toàn dùng ngọc mà chế tác thành. Với từng chi tiết tỉ mỉ và công phu như vậy, đòi hỏi phải có thợ thủ công tay nghề tinh xảo và thời gian dài mới hoàn thành được.

Ngoài 10 báu vật nổi tiếng trên, trong lăng mộ của Từ Hy Thái hậu còn rất nhiều ngọc trai và những vật phẩm có giá trị khác. Quả thực, những báu vật này không chỉ thể hiện Từ Hy Thái hậu là người giàu có đệ nhất thiên hạ mà nó còn thể hiện nền văn hóa chế tác tinh xảo của Trung Hoa cổ đại. (theo Daikynguyen)

Xuân Mai chuyển tiếp

GẦN 2.000 NĂM QUA

KHÔNG AI DÁM TRỘM MỘ

GIA CÁT LƯỢNG

Hơn 2000 năm trở lại đây, những phần mộ hoàng đế liên tục bị đào bới, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn là một trong những ngôi mộ hiếm hoi không bị động đến. Không chỉ hoàng đế, đến mộ của các vương công đại thần cũng đều bị ăn cắp. Những vị quý   tộc này muốn sau khi chết vẫn được hưởng vinh hoa phú quý như khi còn sống nên đã bỏ rất nhiều vàng bạc, châu báu vào trong quan tài, vì thế nên bị bọn trộm mộ đã vào lấy cắp hết.

Từ Hy thái hậu chết chưa được bao lâu đã bị Tôn Điện Anh trộm mộ, thân xác bị phơi giữa trời. Vì thế những vị vương công đại thần theo chủ nghĩa tiết kiệm xem ra vẫn an toàn “tính mạng” hơn.

Gia Cát Lượng là một nhân vật đặc biệt quan trọng thời Tam Quốc, ông là thừa tướng nước Thục, chức cao quyền trọng, về lý thì phường trộm mộ phải đào mộ của ông mới đúng, vậy mà cả nghìn năm sau mộ ông vẫn không hề bị động vào. Vì sao lại thế ? Không thể không thừa nhận Gia Cát Lượng là một trong những nhân vật đặc biệt, lăng mộ của ông không bị trộm cắp vì ba lý do sau:

Thứ nhất, Gia Cát Lượng nhiều mưu lắm kế, phường trộm cắp lo sợ ông cài bẫy trong đó nên sẽ khó giữ được tính mạng của mình. Lịch sử Trung Quốc hàng nghìn năm chưa có mấy ai cao trí, cao mưu được như Gia Cát Lượng.

Kế “thuyền cỏ mượn tên” hay “thành không nhà trống”, ngồi ung dung đánh đàn mà vẫn xua tan 15 vạn quân của Tư Mã Ý đã phần nào nói nên trí tuệ siêu phàm của ông. Phường trộm mộ biết, với trí tuệ của Gia Cát Lượng chắc chắn trong mộ ông sẽ phải bố trí rất nhiều bẫy, không sợ trộm mộ đến, chỉ sợ trộm mộ không dám đến mà thôi. Phường trộm mộ cũng không dại, trí tuệ của ông ở mức phi thường, chẳng may khi đào mộ ông lên, cung tên, thuốc độc bắn lên chết hết thì làm thế nào ?

– Thứ hai, Gia Cát Lượng là người luôn luôn tiết kiệm. Cả đời ông trong sạch, an phận thủ thường, lúc lâm chung vẫn yêu cầu tang lễ giản đơn, đến áo liệm không cần mặc, chỉ cần mặc quần áo ngày thường là được. Một vị thừa tướng tiết kiệm đến mức này thì thật là đáng khâm phục !

Với tính cách của ông thì không thể có chuyện ông bỏ nhiều vàng bạc châu báu vào trong quan tài của mình được. Vì thế, dù có mở nắp quan tài của ông ra thì phường trộm cắp cũng sẽ chẳng lấy được gì. Những tên trộm mộ cũng đã tính toán kỹ, dù trộm mộ của ông có kiếm được nhiều tiền chăng nữa thì cũng không bằng giữ được sức khỏe, tính mạng của bản thân, đây là một phi vụ làm ăn không có lời.

– Thứ ba, Gia Cát Lượng được người đời tôn kính, đến phưởng trộm cắp cũng tâm phục khẩu phục. Ông không chỉ là người có trí tuệ, mà còn là một trung thần. Lưu Bị trước khi chết có nói rằng nếu Lưu Thiện không làm được lập tức phế truất, giao ông toàn quyền. Lòng độ lượng của Lưu Bị quả là vĩ đại !

Gia Cát Lượng đã làm thế nào ? Ông vẫn một mực trung thành phụ tá Lưu Thiện mà không hề làm phản. Với người có chút dã tâm là có thể phế truất Lưu Thiện ngay tức thì nhưng với Gia Cát Lượng thì không. Sự việc này đã lưu truyền hậu thế ngàn năm, đến trộm còn khâm phục tôn kính ông. Đấy chính là lý do mấu chốt vì sao mộ Gia Cát Lượng không bị đánh cắp.

– Đám Tang Nổi Tiếng Lịch Sử Gia Cát Lượng Khổng Minh

https://youtu.be/myVLK2fA5Bg

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (7)

HUYỀN THOẠI

GIANG HỒ SÀI GÒN

– Nguyễn Chính

Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi… Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ : “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.

oOo

Giang hồ, theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.

Thế giới ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa : giang hồ trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.

Giang hồ trí thức : Sơn Vương Trương Văn Thoại

Nhân vật ‘giang hồ – trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo. Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.

Ở vào tuổi thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái … ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên… Điếu Xì Gà.

Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.

Năm 1931, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.

Theo Hán tự, chữ “Thoại” được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.

Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’ nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật ‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương : Luật rừng xanh, Chén cơm lạtTướng cướp hào hoa.

Trong hơn hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.

Con mồi lớn nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền với một… khẩu súng giả !

Vụ cướp táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.

Giới giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân ‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.

Kẻ bị cướp – René Gaillard – vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse. Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm.

Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc (xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).

Bazin liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để ‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

Tháng 7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.

Từ Phú Quốc trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là … sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.

Ra toà, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên). Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Trong thời gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải nhận mức án những 79 năm tù …

Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc đời ‘trí thức giang hồ’.

Giang hồ thảo khấu : Bình Xuyên

Đến thập niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.

Từ năm 1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể đến Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.

Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ. Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.

Với tiền đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’ như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.

Tháng 7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26/3/1955.

Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Bảy Viễn bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền. Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy. Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm, tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm mắt làm ngơ.

Tháng 9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 15/3/2012. Bấm vào đường dẫn sau :

Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc

Giang hồ anh chị : Đại Cathay

Đến thập niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo… Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành… huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống ‘giang hồ tình nghĩa’.

Đại sinh năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.

Đại thường xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được ‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Đại bỏ học, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.

Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.

Trở thành ‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời “anh Đại”. Ở đây ta thấy giới giang hồ miền Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu, vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã.

Nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và “chơi chịu” với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Sài Gòn thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời. Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu.

Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải ‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại Cathay thẳng thừng từ chối:

Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

Đại và cả đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Khi biết cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào thoát vào núi Tượng.

Sau đó, tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

Trên đây chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/12/2011. Bấm vào đường dẫn sau :

Cuộc đời của Đại Cathay

oOo

Chuyện của giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất là ông trùm Năm Cam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

– Ba Giai Tú Xuất

Vân Sơn Hài Collection  :  https://youtu.be/cGpQzHmNjHc

– Nha Sĩ Phục Hận

Chi Tai, Viet Huong, Hoai Tam, Huong Thuy

https://youtu.be/vPwgxaTUYNU

– Xàm Xí

Chí Tài, Hoài Linh, Việt Hương, Thúy Nga

https://youtu.be/3Yw6nF9W_4g

– Đại Gia Đình

Hoài Linh, Chí Tài, Thúy Nga,Việt Hương,Hoài Tâm,Long Đẹp Trai,Bé Tý,N. Khoa

https://youtu.be/qEMykqffsV4

– Những chuyện tình nghiệt ngã

Chí Tài, Hoài Linh, Trường Giang, Trấn Thành :  https://youtu.be/UPkZ_nLv0Eg

Quế Phượng chuyển tiếp

– Độc nhất, vô nhị.: tuyệt tác Mozart!

https://www.youtube-nocookie. com/embed/UDXUDehUgIQ?rel=0&% 3bcontrols=0&%3bshowinfo=0

Yên Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN SÀI GÒN XƯA

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ

SÀI GÒN XƯA

– Nguyễn Đình Tư

Chuyến bay đầu tiên và ngành hàng không

Lúc 10 giờ 30 ngày 10/12/1910, lần đầu tiên một chiếc máy bay loại bốn cánh nhãn hiệu Farman xuất hiện trên bầu trời Sài Gòn, lượn mấy vòng cho dân chúng ngắm vật lạ từ cha sinh mẹ đẻ chưa từng thấy. Sau đó chiếc máy bay đáp xuống trường đua ngựa. Người phi công lái chiếc máy bay ấy tên là Van Ven Borg.

… Trong Thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), máy bay đã tham chiến ở châu Âu. Sau này một số sĩ quan người Pháp tham chiến trở lại thuộc địa Nam kỳ, đóng ở trại lính bộ binh, lập câu lạc bộ chơi máy bay. Họ mua bộ phận rời từ Pháp, chở về Sài Gòn ráp lại, đem biểu diễn ở bãi trường đua cũ, bay vào phía Chợ Lớn rồi quay về. Phía dưới đất phải đốt khói để phi công biết được hướng gió, khi cất cánh và khi đáp xuống. Máy bay thuở ấy có hai tầng cánh, bay chậm, gây ngạc nhiên thích thú cho người xem.

Thực hiện chủ trương đưa ngành hàng không vào Đông Dương, ngày 31/1/1917 chính quyền Bắc kỳ cho xây sân bay Vị Thủy (thuộc tổng Thanh Vị, huyện Minh Nghĩa, phủ Quốc Oai, Sơn Tây), rồi những chiếc máy bay quân sự đầu tiên được chở bằng tàu thủy Ménam cập bến Hải Phòng. Ngày 13/7/1917, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập Sở Hàng không Đông Dương đặt dưới sự chỉ đạo tối cao của Toàn quyền Đông Dương.

Ngày 25/9/1919, nhân dịp Hội đồng tư vấn Trung kỳ họp ở Huế, Hà Nội cho 2 chiếc máy bay vào để biểu dương sức mạnh quân sự của chính quyền thuộc địa. Chẳng may một chiếc bị nạn rơi ở sông Lam (Nghệ An). Đó là tai nạn máy bay đầu tiên ở VN.

Ngày 20/11/1919, loại thủy phi cơ (Hydravion) bắt đầu được cho bay. Sau khi chính thức thành lập phi đội Nam kỳ, chính quyền Pháp ở Sài Gòn cho xây dựng sân bay Tân Sơn Nhứt.

Tân Sơn Nhứt là tên một thôn nằm trên vùng đất cao phía bắc thành phố Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5 km. Thôn này nguyên là một giáp thuộc thôn Tân Sơn có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào lập nền hành chánh ở Gia Định, trải qua triều Gia Long đến triều Minh Mạng nâng lên thành thôn Tân Sơn Nhứt thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, với tứ cận: Đông giáp 2 thôn Phú Nhuận, An Hội thuộc tổng Bình Trị Hạ. Tây giáp thôn Tân Sơn Nhì cùng tổng. Nam giáp xã Phú Thọ thuộc tổng Tân Phong Thượng, huyện Tân Long và thôn Tân Sơn Nhì. Bắc giáp hai thôn Hạnh Thông Tây và An Hội thuộc tổng Bình Trị Hạ.

Năm 1920, ngành hàng không lấy phần lớn diện tích của làng Tân Sơn Nhứt để xây dựng sân bay, và gọi là sân bay Tân Sơn Nhứt. Phần đất còn lại nhỏ hẹp không đủ tiêu chuẩn lập làng riêng, nên hợp với phần còn lại của làng Chí Hòa sau khi trích một phần nhập vào thành phố Sài Gòn thành làng Tân Sơn Hòa.

Ban đầu sân bay Tân Sơn Nhứt chỉ dùng cho quân sự, lúc đó chỉ mới một phi đạo, nền đất trồng cỏ. Đến năm 1930 mới có một số nhà cửa ở sân bay phục vụ cho Hãng hàng không Air Orient. Năm 1934, phi đạo mới được trải nhựa và bắt đầu xây nhà ga. Tuyến Hà Nội – Sài Gòn – Hải Phòng – Xiêng Khoảng và ngược lại bay đầu tiên vào ngày 10/1/1921. Tuyến bay thẳng Hà Nội – Sài Gòn đầu tiên vào ngày 19/4/1921, mỗi lượt mất 8 giờ rưỡi.

Năm 1930, chính quyền Sài Gòn muốn mở rộng sân bay để dùng cho máy bay dân sự. Nhưng bấy giờ giá đất xung quanh sân bay đã cao vọt lên, không đủ ngân sách để bồi thường. Người ta nghĩ tới việc tìm ở Cát Lái thuộc Q.Thủ Đức một khu đất vuông vức, mỗi chiều 1.400 m để xây dựng sân bay khác. Công việc chưa kịp tiến hành thì gặp lúc khủng hoảng kinh tế thế giới nên xây dựng phải làm lại từ đầu, kinh phí thì quá lớn, chương trình làm sân bay mới đành hủy bỏ, đành mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt cho đỡ tốn kém.

Chuyến bay quốc tế đầu tiên của Hãng hàng không Pháp (Air France) bay tuyến Paris – Sài Gòn – Paris trong 50 giờ (hồi đó chưa thể bay ban đêm) mất vừa đúng một tuần lễ mới hạ cánh Sài Gòn ngày 28/12/1933, tiếp đó là tuyến Sài Gòn – Batavia.

Như vậy, trước năm 1940 là thời điểm Đại chiến thế giới thứ hai lan tới châu Á và Thái Bình Dương, đã có tuyến bay Đông Dương – Pháp mỗi tuần một chuyến do hãng hàng không Pháp đảm trách, Sài Gòn – Singapore – Indonésia do hãng hàng không Hà Lan đảm trách, Hà Nội – Hồng Kông – Pénang do hãng hàng không Anh đảm trách, Hà Nội – Vân Nam do hãng hàng không Âu – Á đảm trách, Hà Nội – Hồng Kông – Trùng Khánh do hãng hàng không Trung Hoa đảm trách.

Ngày 2/12/1937, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập Sở Hàng không dân dụng Đông Dương thay thế cho Sở Hàng không dân sự, để lo việc khai thác các chuyến bay.

Buổi đầu xe đò

Việc vận chuyển bằng xe đò được thực hiện rất sớm giữa Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Các nhà tư sản bỏ vốn đầu tư mua xe xin phép chạy khắp các ngả, từ thành thị đến thôn quê. Chủ xe phải tuân theo những quy định chặt chẽ để bảo đảm an toàn cho hành khách.

Từ năm 1910 trở đi xe hơi đã tiến bộ hơn nhiều, kiểu dáng thanh lịch, máy móc tối tân hơn, gồm các hiệu xe Peugeot, Panhard, Dehalaye, La Nouvelle Darracq. Những người có xe hơi riêng buổi đầu là các giới chức người Pháp hay các nhà cự phú như Lê Phát An. Năm 1923 xe chính phủ chỉ có 100 chiếc, ghi số từ C.1 đến C.100, trong đó chiếc Dehalaye C.100 của Thống đốc Nam kỳ sử dụng thuộc loại “chiến” nhất.

Lúc đầu ở Sài Gòn chỉ mới nhập vào một vài chiếc xe hơi sử dụng cho ngành bưu chính, chuyên chở thư từ và bưu phẩm đi các tỉnh lân cận: Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An do người Pháp lãnh thầu. Khoảng thời gian 1903 – 1908 tại Sài Gòn đã có khoảng 30 xe hơi, kiểu còn thô sơ, muốn chạy phải đốt cho máy nóng trước, mui vải bố có dây da chằng ra hai bên.

Về sau các tư nhân nhập xe hơi để chuyên chở hành khách gọi là xe đò. Tuyến xe đò đầu tiên được đem vào khai thác là tuyến Sài Gòn – Trảng Bàng, Sài Gòn – Tây Ninh. Trước đó, có nghị định bắt buộc chủ xe đò phải ghi trên một bảng gắn phía ngoài xe nơi dễ thấy số hành khách tối đa. Phía trong xe ghi bảng giá tiền cước từng cung đoạn. Cả hai bảng đều viết bằng tiếng Việt, Pháp và Hoa. Nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền. Khách dư một người, chủ xe bị phạt bằng giá trọn tuyến bất kể lên chỗ nào.

Khi các hãng xe đò ra nhiều và chạy khắp các tỉnh, ngành bưu điện áp dụng thủ tục cho các hãng xe đò đấu thầu chuyên chở bưu phẩm, khỏi phải mua sắm xe riêng, tiết kiệm cho công quỹ. Chẳng hạn như ở tỉnh Thủ Dầu Một, chính quyền cho mở các tuyến xe đò kiêm luôn chuyên chở bưu phẩm.

Một số tuyến và chủ hãng xe đò trên những cung đường ngắn giữa hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn đi đến các trung tâm thị tứ thuộc các tỉnh lân cận hoặc từ tỉnh lỵ này đến tỉnh lỵ kia với điều kiện vận hành được quy định rất chặt chẽ: Ngày 9/9/1918 ông Nguyễn Văn Tố ở Bình Hòa Xã, hạt Gia Định được phép chạy xe đò hiệu Peugeot tuyến Chợ Lớn – Lộc Giang, số hành khách tối đa là 11 người kể cả tài xế, vận tốc 25 km/giờ; ngày 26/11/1918 ông Huỳnh Quay ở Nhu Gia tỉnh Sóc Trăng được phép chạy xe đò hiệu Clément Bayard tuyến Sóc Trăng – Bạc Liêu, chở 10 người kể cả tài xế và lơ xe, vận tốc 30 km/giờ.

Đến năm 1929 số xe hơi nhập vào Nam kỳ đã lên đến 11.000 chiếc, trong đó có 9.000 chiếc xe du lịch, còn gọi là xe nhà. Vào thời điểm từ 1935, xe hơi dùng chở khách, chở hàng rộ lên khắp Nam kỳ. Các nhà tư sản bỏ vốn đầu tư mua xe xin phép chạy khắp các ngả, từ thành thị đến thôn quê. Ngoài Sài Gòn, Chợ Lớn là trung tâm hoạt động của các hãng xe đò, xe tải đi về các tỉnh miền Đông, miền Tây, ra Trung, còn có các hãng xe chạy các tuyến trong nội vi từng tỉnh hay với các tỉnh lân cận thành một hệ thống như mạng nhện.

Ngoài các cá nhân tư sản bỏ vốn mua xe kinh doanh, Công ty tàu điện Pháp ở Đông Dương cũng xin chuyên chở hành khách bằng xe hơi trên một số tuyến đường đi về các tỉnh xung quanh Sài Gòn. Ngày 23/2/1937, công ty được Khu trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn cấp giấy phép khai thác vận chuyển hành khách với hành lý xách tay trên tuyến đường từ Sài Gòn đi Tây Ninh qua Đức Hòa bằng xe hiệu Renault 1 sức ngựa, chở được 40 người.

Việc chuyên chở hành khách và hàng hóa bằng xe đò và xe tải đang tiến triển thì năm 1945 việc lưu thông bị gián đoạn một thời gian vì đường sá bị đào phá vì chiến tranh. Một thời gian sau, quân Pháp đánh chiếm các tỉnh lỵ, tái lập các tuyến đường, cho nhập vào rất nhiều xe hơi dân sự. Trong 9 năm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp, ngành vận tải bằng xe hơi tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam phát triển mạnh.

Đồng bạc dùng chung cho Đông Dương

Khi người Pháp mới chiếm được Nam kỳ, họ chưa có loại tiền riêng để lưu hành, phải dùng đồng franc của Pháp và đồng bạc Mễ Tây Cơ (còn gọi là đồng bạc con cò).

Dân chúng không quen với hai loại tiền này nên gây không ít trở ngại về tài chính buộc Pháp vẫn phải công nhận và cho lưu hành tiền nhà Nguyễn mang các niên hiệu Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức bằng đồng hay kẽm.

Trong thời gian từ năm 1874 – 1879, ở Nam kỳ người Pháp cho dùng cả đồng đô la Mỹ, đô la Hồng Kông và đồng tiền Ấn Độ. Do đó, ở Sài Gòn phát sinh dịch vụ đổi tiền các loại làm cho một số Ấn kiều có dịp đầu cơ thu lợi. Nếu đem so sánh giá hối đoái theo giá chính thức, thì 1 đồng franc đổi được 600 đồng tiền của ta, 1 đồng bạc con cò đổi được 3.000 đồng tiền của ta.

Ngày 21/1/1875, tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dương, trụ sở đặt tại Paris (Pháp) và chi nhánh đặt ở các nước thuộc địa, giao độc quyền phát hành đồng bạc để thống nhất tiền tệ toàn xứ Đông Dương, trong đó có Nam kỳ, thời hạn 45 năm từ 1875 – 1920. Sau đó, lưỡng viện quốc hội Pháp quyết định tăng thêm độc quyền 25 năm nữa.

Để bảo đảm uy tín cho đồng bạc của ngân hàng, ngày 5/7/1881 tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh bắt buộc phải dùng đơn vị tiền tệ là đồng bạc (piastre) trong việc lập ngân sách Nam kỳ kể từ niên khóa 1882. Mọi thu chi đều dùng đồng bạc của Ngân hàng Đông Dương gồm hai loại: loại đúc bằng kim khí và loại in bằng giấy.

Loại bằng kim khí có mệnh giá 1 đồng, 50 xu, 20 xu, 10 xu (thường gọi 5 hào hay cắc, 2 hào, 1 hào), 5 xu, 1 xu và nửa xu. Loại 1 đồng được đúc bằng bạc, hình tròn, đường kính 34 mm, không có lỗ ở giữa, mặt trước có hình bà Marianne nữ thần tự do (biểu tượng nền Cộng hòa Pháp), do đó dân chúng quen gọi là đồng bạc bà đầm xòe, vành phía trên đề chữ République Française, phía dưới đề năm phát hành. Đó là các năm 1879, 1885 và 1895. Loại 50 xu, 20 xu, 10 xu cũng đúc bằng bạc. Loại 5 xu bằng bạc pha kền, loại 1 xu và nửa xu làm bằng đồng điếu, cả hai loại này ở giữa có lỗ tròn. Loại nửa xu được làm vào năm 1938. Nghị định của Toàn quyền Đông Dương cho lưu hành kể từ ngày 1/1/1880 các loại hào và xu trên đây.

Các loại tiền bằng bạc rất được các nhà giàu ưa thích, thường bỏ tiền hay hàng hóa ra mua giá cao để tích trữ, do đó số tiền lưu hành trên thị trường ít dần, trở ngại lớn cho việc giao thương. Để chấm dứt tình trạng đó, năm 1917 Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định nói rõ: ai đã mua, bán hay đổi hoặc hứa hẹn mua, bán, đổi chác các đồng bạc và hào xu của Ngân hàng Đông Dương cao hơn giá trị hợp pháp hoặc có hứa thù lao nào đó đều bị phạt tù từ 1 – 15 ngày và phạt tiền từ 16 – 100 fr hay một trong hai hình phạt đó. Việc tịch thu các đồng bạc và tiền lẻ của Ngân hàng Đông Dương có thể được cơ quan kho bạc tuyên bố nếu xét thấy có sự thiệt hại cho quyền lợi của cơ quan này.

Loại bạc bằng giấy do Ngân hàng Đông Dương phát hành gồm hai giai đoạn với một số đặc điểm khác nhau. Từ ngày 21/1/1875 đến ngày 21/1/1920, có các loại giấy bạc: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 100 đồng. Trên tờ giấy bạc 1 đồng phát hành ngày 3.8.1891 có đóng thêm chữ SAIGON bằng mực đỏ. Sở dĩ như vậy là vì lúc in tờ giấy bạc chưa có chủ trương giới hạn khu vực phát hành. Sau đó mới có quyết định chỉ phát hành tại Sài Gòn và lưu hành trên đất Nam kỳ mà thôi.

Sắc lệnh của tổng thống Pháp chỉ cho phép ngân hàng tung ra thị trường một số lượng giấy bạc không được quá 3 lần số quý kim và đá quý tồn trữ. Nhưng đến năm 1920 tổng số đó đã vượt quá 12,6 lần, vì ngân hàng được độc quyền phát hành giấy bạc mà lại không có cơ quan nào kiểm soát gây nên khủng hoảng tài chánh trong hai năm 1919 – 1920. Dân chúng đổ xô đến các chi nhánh hay đại lý ngân hàng đòi đổi giấy bạc lấy vàng và đá quý đúng giá tương đương đã được ghi trên giấy bạc, khiến ngân hàng có thể phá sản. Để bảo vệ quyền lợi của giới tư bản tài chánh, tháng 3/1920 Toàn quyền Đông Dương tuyên bố “chế độ lưu hành cưỡng bức” đối với đồng bạc. Lại cho phép lưu hành thêm 25 triệu đồng nữa ngoài số đã có, cho phép ngân hàng không phải đổi quý kim và đá quý cho người có giấy bạc, mặc dầu trên tờ giấy bạc vẫn còn ghi câu “Payables en espèces a vue au porteur” (trả bằng vàng cho người cầm giấy bạc này).

Ngày 21/1/1920 phát hành giấy bạc lần 2. Thực ra ban đầu thời hạn độc quyền chỉ được từng hạn 6 tháng. Hết 6 tháng lại được gia hạn tiếp bằng sắc lệnh của tổng thống Pháp. Về sau thấy cứ gia hạn kiểu đó quá phiền phức, vả lại việc phát hành giấy bạc cũng chỉ có Ngân hàng Đông Dương đảm trách liên tục, chẳng có cơ quan nào xen vào nên trong phiên họp ngày 2/2/1931, Hạ nghị viện Pháp giao độc quyền cho Ngân hàng Đông Dương phát hành giấy bạc trong 25 năm.

Theo đó, thời hạn phải đến năm 1956 mới hết nhưng đến cuối năm 1939 chiến tranh thế giới bùng nổ, nước Pháp bị Đức chiếm đóng, chỉ còn liên lạc với Đông Dương bằng vô tuyến điện nên ngân hàng đặt trụ sở tại Paris cũng ngưng việc phát hành giấy bạc vì không thể chở qua được. (theo Nguyễn Đình Tư)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SÀI GÒN BÁNH MÌ CẦM TAY

Bánh mì hầu như không còn xa lạ với mọi người, nhất là người Sài Gòn. Khắp các con đường ngõ hẻm hầu như bạn đều thấy những xe bánh mì quen thuộc. Chúng tôi sẽ liệt kê những tiệm bánh mì ngon ở Sài Gòn cho mọi người tham khảo đi ăn nhé ! Một phần bánh mì thường có giá dao động từ 10 – 20k/ổ thế nhưng cũng có một số hàng bánh mì, giá dù mắc hơn gấp đôi, gấp ba mà khách vẫn ra vào tấp nập.

1/. Bánh mì Huỳnh Hoa : Tiệm bánh này được giới sành ăn ví von như “ngôi sao” giữa các tiệm bánh mì vốn đã rất đa dạng, hấp dẫn ở Sài Gòn bởi đã có không ít bài viết từ trong lẫn ngoài nước nói về mức độ nổi tiếng của bánh mì Huỳnh Hoa.

1 ổ bánh mì ở đây giá 33k/ổ, một mức giá khá cao nhưng khách  thì lúc nào cũng đông đúc, thậm chí giờ cao điểm bạn phải xếp hàng mới mua được.

Ổ bánh mì ở đây không phải ăn bánh mì kẹp thịt chả mà là thịt chả kẹp bánh mì. Cắn vào ổ bánh ngập chân răng là patê, là bơ, là thịt jambon, béo thơm bùi dai hòa quyện lẫn nhau cộng với việc phá cách với lớp pate chính giữa không trộn lẫn cùng vỏ bánh mì khiến mỗi lần nhai là từng đợt vị bùi bùi, thơm thơm tràn vào cổ, tạo nên thứ hương vị rất khó nhầm lẫn với các loại bánh mì ở tiệm khác mà giá “chát” lắm nha tới 33k/ổ lận.

2/. Bánh mì bò nướng bơ Campuchia : Là món ăn đặc sản ở xứ sở Chùa Tháp, món bánh mì bò nướng bơ vừa mới xuất hiện đã “gây bão” teens Sài Gòn bởi độ độc đáo và hấp dẫn của món ăn “có một không hai”. Món ngon mà giá cả khá mềm chỉ 5k một ổ bánh mì nướng bơ và 10k/thịt xiên

Bánh mì được phết bơ lên nướng nóng hổi  ăn kèm cùng thịt xiên nướng được ướp vị đậm đà của người Campuchia, thịt có độ dai vừa phải, khi ăn bạn thêm chút tương ớt cùng đủ đủ bào sợi nữa bảo đảm ghiền luôn. Đặc biệt, bơ ở đây được chị chủ chế biến lại cho thêm một ít mật ong nên mặt bánh lúc nào cũng có màu vàng óng ánh hấp dẫn cực kỳ.

3/. Bánh mì Cô Điệp : Tiệm bánh mì này có thâm niên vài chục năm rồi, quán bán hầu như 24/24 luôn, từ sáng tới tối lúc nào khách cũng đông đúc. 1 ổ bánh mì đầy đủ thịt chả, bơ, pate, hành, ngò, đồ chua… mà chỉ 10k/ổ thôi.  Vì giá rẻ và chhất lượng nên cứ mỗi buổi sáng hay tối đến thì mọi người đều phải chen chúc xếp hàng để mua. Vỏ bánh mì nóng giòn và vô cùng hấp dẫn, có dịp đi ngang đây bạn nhớ vào thử 1 lần xem sao nhé!

4/. Bánh mì cóc : Tiệm bánh mì này tuy nhỏ nhưng khá nổi tiếng, từng được báo chí đưa tin rầm rộ vì mức thu nhập khủng của quán. Ổ bánh mì ở đây nhìn rất đặc biệt, tròn tròn chứ không phải như bánh mì bạn thường thấy.  Một ổ 12k thôi , nhỏ nhỏ ú ú nhìn dễ thương nhưng ăn cũng chất lượng lắm, bên trong thịt thà chả lụa nhiều, nêm nếm dễ ăn, cảm giác cắn vô ổ bánh mì ngập răng lun, bánh mì nên ăn liền nếu mua đi xe thì sẽ hế giòn mất ngon

5/. Bánh mì bò bít tết : Bạn nào ngán những món bánh mì chả cá, thịt thập cẩm,.. thì thử ngay món bánh mì kẹp nhân bò bít tết “mới toanh xà banh” này nhé ! Bánh mì bò tươi làm tại chỗ xèo xèo bốc khói luônn nhìn mê lắm. Khi khách oder thì mới bắt đầu làm nên thịt bò lúc nào cũng trong tình trạng tươi mới và nóng hổi thơm nức mũi.

Thích nhất thịt bò tươi không nêm nếm gì nên giữ được độ tươi ngọt của thịt, đặc biệt mềm không bị dai ăn với bánh mì nóng giòn thêm tí tương ớt, muối tiêu và nước sốt của quán ta nói nó “ngon tê tái”. Giá dao động tầm từ 15k/ổ thêm trứng thì 2k, bò thì 8k, giá cực kỳ sinh viên.

6/. Bánh mì Hòa Mã : Tiệm Hòa Mã trên đường Cao Thắng là được biết đến là một trong những tiệm đầu tiên bán món bánh mì kẹp thịt ở Sài Gòn. Đa số các món dùng kèm tại đây đều là “độc quyền”, lát chả xắt to dày, pate ăn mịn, mượt, thơm béo khó tả, cho vào miệng tan ngay không ngán ứ, đồ chua có vị ngọt và giòn tự nhiên của rau củ và dấm thơm chứ không hăng gắt cũng chính vì thế giá một phần bánh mì ở đây có giá “khủng hoảng” gần 50k/phần.

7/- Bánh mì thịt nướng Nguyễn Trãi : Đây là tiệm bánh mì đã được trang mạng concierge.com của tạp chí du lịch Mỹ Condé Nast Traveler vinh danh là một trong 12 món ăn đường phố ngon nhất thế giới. Và cũng từ dạo đó mà lượng khách lúc nào cũng tấp nập từ người Việt Nam cho đến người nước ngoài.

8/. Bánh mì Như Lan : Như Lan chắc hẳn là một thương hiệu đã quá quen thuộc với người dân Sài Gòn, các loại bánh của Như Lan luôn có sức hấp dẫn với nhiều người nhất là khách du lịch trong và ngoài nước

Bánh mì ở đây mặc dù có giá khá cao nhưng “ghi điểm” với mọi người nhờ vào ổ bánh mì giòn giòn ấm ấm, bên trong đặc ruột nhiều thịt các loại: chả, pate, đồ chua , dưa leo,… không chê vào đâu được.

9/. Bánh mì Bảy Hổ : Xe bánh mì này nghe nói đã tồn tại được hơn 80 năm ở Sài Gòn rồi, và có lẽ là tiệm bánh mì lâu năm nhất ở đây. Xe bánh mì này chỉ bán buổi chiều, khoảng từ 2g đến 17g là hết. 1 ổ bánh mì đẩy đủ khá chất lượng, giá giao động ừ 12k – 15k/ổ (theo Dia diem an uong tổng hợp)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CHUYỆN HOÀNG ĐẾ TÌM CON

CHUYỆN TÌNH CHẤN ĐỘNG MỘT THỜI

VỊ “HOÀNG ĐẾ” TRUNG PHI

ĐI TÌM CON “LỌ LEM BỐC VÁC”

Cuối năm 1972, không chỉ miền Nam Việt Nam mà hầu như cả thế giới đều biết đến câu chuyện của vị Tổng thống Cộng hòa Trung Phi tên Bokassa tìm được “giọt máu rơi”, kết quả của cuộc tình với người phụ nữ nghèo ở Cù lao Phố Biên Hòa khi ông sang tham chiến tại Việt Nam.

Người con gái Việt Nam lai da đen nghèo khổ, con rơi của ông lúc ấy 19 tuổi, tên Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ, làm nghề khuân vác xi-măng từ năm 18 tuổi tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên gần Thủ Đức. Đùng một cái, cô trở thành ái nữ của Tổng thống Bokassa, rồi khi vị tổng thống này tham quyền cố vị, xóa bỏ nền Cộng hòa, tự xưng mình là hoàng đế, cô trở thành một vị công chúa trong 3 năm ông tại vị.

Giờ đây, 43 năm đã trôi qua kể từ cái năm 1972 ấy, thế sự đổi dời, những người liên quan hầu như đã hóa thành người thiên cổ, kể cả “Hoàng đế” Bokassa. Riêng cô gái nghèo tức cô “công chúa” Martine Bokassa hiện nay ra sao, cô còn sống hay đã chết ? Mới đây, tờ báo Le Figaro của Pháp đã tìm hiểu và đăng rõ chi tiết ngọn ngành, xin mời quý độc giả cùng theo dõi…

Tiểu sử của Bokassa

Bokassa tên đầy đủ là Jean Bedel Bokassa, sinh ngày 22/2/1921 tại làng Bobangui, nước Phi Châu Xích Đạo (Cộng Hòa Trung Phi ngày nay). Ông là con của nông dân nhưng mồ côi cha mẹ từ nhỏ và theo học tại trường do các tu viện Pháp tài trợ.

Khi Thế Chiến thứ II bùng nổ, nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Bokassa gia nhập Lực lượng Nước Pháp Tự do và sang Việt Nam tham chiến năm 1950. Thời gian ở Việt Nam, Bokassa chung sống với cô Nguyễn Thị Huệ, sinh được một con gái, đặt tên theo họ mẹ là Nguyễn Thị Martine.

Mười năm sau, năm 1960, nước Phi Châu Xích đạo giành được độc lập từ tay người Pháp. Vị tổng thống đầu tiên của quốc gia này là David Dacko, ngưới có họ hàng xa với Bokassa, đổi tên nước thành Cộng hòa Trung Phi rồi mời Bokassa đang ở Pháp về nắm quyền chỉ huy quân đội.

Tháng 1/1966, với lực lượng quân sĩ trong tay, Bokassa đảo chính, lật đổ David Dacko, tự phong mình là “Thống chế tổng tư lệnh quân đội” và lên làm tổng thống, vẫn giữ tên nước là Cộng hòa Trung Phi.

Năm 1976, 10 năm sau ngày đảo chính, Bokassa vốn rất độc tài, thừa thắng xông lên, muốn làm vua để được suốt đời cai trị xứ Trung Phi. Tháng 10 năm ấy, ông đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi và tự xưng Hoàng đế.

Lễ lên ngôi của ông rất lớn, cực kỳ tốn kém, trong khi dân chúng rất đói khổ. Trong 3 năm ông làm vua, dân chúng bất mãn, những cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra, ông đàn áp đẫm máu, giết hại hàng trăm sinh viên mặc dầu dân số trong nước lúc ấy chỉ có 4,3 triệu người. Việc đó khiến chính phủ Pháp phải ủng hộ tổng thống cũ David Dacko đảo chính, lật đổ ngai vàng của ông.

Cuộc đảo chính thành công, ngày 20/9/1979, David Dacko lên làm tổng thống và lấy lại tên nước là Cộng hòa Trung Phi. “Hoàng đế” Bokassa phải bỏ chạy sang nước Cộng hòa Bờ Biển Ngà, rồi sau đó sang Pháp. Ông bị chính quyền mới của Tổng thống David Dacko kết án tử hình vắng mặt.

Năm 1986, Bokassa trở lại Cộng hòa Trung Phi với hy vọng được hợp tác với chế độ trong nước, nhưng ông bị đưa ra tòa xét xử về tội phản quốc, giết người, và bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, chỉ 6 năm sau, với sự can thiệp của chính phủ Pháp, ông được thả.

Những năm cuối đời, Bokassa sống ở Bangui, thủ đô của Cộng hòa Trung Phi. Ông chết ngày 3/11/1996 tại Bangui trong hoàn cảnh nghèo túng, không một đồng xu dính túi.

Chuyện tình anh lính lê dương

Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, lúc nước Trung Phi còn là thuộc địa của Pháp. Bokassa đến Việt Nam vào năm 1953, lúc ấy ông 32 tuổi, mang danh trung sĩ nhất và đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Có thời gian Bokassa được tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành). Hồi đó, làng mạc xa xôi hẻo lánh, người dân rất sợ các toán quân “Tây đen”, phụ nữ không may gặp họ trên đường hành quân là coi như hết đời.

Nhưng những nơi đông đúc thì dân chúng không sợ đám lính đánh thuê này. Những ông lính “Tây đen” có nhiệm vụ canh gác cầu Gành tại Cù lao Phố không dám giở thói côn đồ mà ngược lại, có vẻ hiền từ. Bokassa là người hiền nhất trong số họ. Hồi đó, ở gần cầu Gành có một máy nước công cộng để dân chúng trong vùng đến hứng, gánh về dùng. Trong xóm gần cầu có cô gái nghèo tên là Nguyễn Thị Huệ, chuyên gánh nước thuê cho các gia đình, hết sức cực nhọc dù cô rất xinh xắn.

Sau giờ gác cầu, Bokassa thường la cà đến máy nước công cộng đó để tán tỉnh. Các phụ nữ khác thấy Bokassa tới thì trốn biệt không dám đến gần. Lúc đầu, cô Huệ cũng trốn, nhưng sau đó vì chén cơm manh áo, cô đành liều, cứ đến gánh nước. Anh lính lê dương không làm gì cả, đã vậy còn giúp cô hứng nước và tập tành nói tiếng Việt nghe rất tức cười.

Dần dà, những cử chỉ ngô nghê, vụng về của anh lính da đen làm cho cô Huệ có cảm tình. Rồi cô dạy cho Bokassa nói tiếng Việt. Cô không còn cảm thấy ngại ngùng mỗi khi đối diện với anh lính Phi châu này nữa. Lương của lính Pháp tương đối khá, Bokassa cũng biết cách lấy lòng phụ nữ, lúc thì anh mua tặng cô xấp vải, chiếc khăn, lúc thì chai dầu thơm, có khi anh còn cho cô cả tiền nữa. Hai bên dần dần yêu nhau…

Kết quả của mối tình Phi-Việt đó là cô Huệ mang thai. Ngày ấy con gái chửa hoang là một điều hết sức nhục nhã, nhất là lại có chửa với một anh lính da đen. Cha cô không chịu nổi lời đàm tiếu, đánh cô một trận rồi bỏ nhà ra đi. Mẹ cô nước mắt lưng tròng, phần thì thương con, phần cũng giận con. Bà nói: “Đấy, mày muốn tính sao thì tính, đi đâu thì đi, đừng làm cho tao thêm nhục…”.

Bokassa đưa người tình về Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, nơi đơn vị anh đóng quân gần cầu Tân Thuận. Anh thuê nhà cho người yêu ở. Hai người sống với nhau như vợ chồng.

Tình nghĩa đang mặn nồng thì đơn vị của Bokassa được lệnh về Pháp. Anh trao tất cả số tiền dành dụm được cho vợ và dặn ít nữa nếu sinh con trai thì đặt tên là Martin, nếu sinh con gái thì đặt tên là Martine, sau này nếu có dịp anh sẽ sang Việt Nam tìm hai mẹ con. Cô Huệ khóc hết nước mắt…

Tổng thống Bokassa tìm con

Năm 1972, Jean Bedel Bokassa, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giùm đứa con rơi, kết quả của mối tình giữa ông thời đi lính Lê dương tham chiến tại Việt Nam với một cô gái ở Sài Gòn, mà bây giờ 19 năm đã trôi qua, vốn không biết tiếng Việt, ông không còn nhớ nhà cha mẹ cô ở đâu.

Những nhân viên thuộc Bộ Ngoại giao VNCH lúc ấy tìm kiếm không thấy mà cũng không có căn cứ gì để tìm kiếm. Cuối cùng, họ tìm được một cô gái cũng lai da đen và cũng 19 tuổi tên Baxi, con của bà Nguyễn Thị Thân ở Gia Định, giao cho Bộ Ngoại giao Pháp đưa sang Trung Phi. Tổng thống Bokassa tổ chức một tiệc mừng rất lớn để đón tiếp cô con gái.

Tin tức về việc Tổng thống Bokassa tìm được đứa con rơi được báo chí Sài Gòn đưa tin trang trọng. Ngay lập tức, có một người khách tới tòa soạn báo Trắng Đen xin gặp ông chủ nhiệm Việt Định Phương. Người khách tự giới thiệu là cậu ruột của cô gái lai da đen tên Nguyễn Thị Martine, đứa con đích thực của vị tổng thống Trung Phi. Ông chủ nhiệm Việt Định Phương liên phân công một dàn phóng viên hùng hậu vào cuộc điều tra.

Cô “công chúa” bốc vác

Sau cuộc chia tay, cô Huệ sinh đứa con gái và đặt tên là Nguyễn Thị Martine theo họ mẹ. Hết tiền, lại có con nhỏ, cô quyết định bế con về sống với mẹ ở Cù lao Phố. Bà mẹ rất mừng vì bà vẫn thương con. Lúc này người cha cũng đã trở về từ lâu. Ông đã già, không còn khó tính như trước nhưng nhà quá nghèo nên không lấy gì giúp đỡ cho con được…

Thời gian này hoàn cảnh hai mẹ con cô Huệ hết sức khổ cực. Cuối cùng cô về chợ Nhỏ, Thủ Đức, sinh sống bằng nghề buôn bán rau cỏ lặt vặt. Martine lớn lên. Mặc cảm về vấn đề “con lai”, nước da nhờ nhờ, cặp môi dầy, mái tóc xoăn tít… khác với mọi đứa trẻ khác khiến cô bé trở thành ít nói, không dám cởi mở với ai. Cô làm đủ thứ việc để phụ giúp mẹ. Nói chung, Martine là một đứa trẻ ngoan ngoãn.

Một hôm cuối năm 1972, trong khi đang làm công nhân vác xi-măng tại Nhà máy xi-măng Hà Tiên ở gần Thủ Đức, cậu của Martine đến tìm và nói: “Cháu xin phép về ngay có công chuyện. Có mấy ông nhà báo muốn gặp để hỏi gì đó. Mấy ổng định can thiệp cho cháu được gặp cha…”.

Tổng thống Bokassa nhận con

Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa xác nhận. Đại diện của tổng thống Trung Phi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang đất nước của cha.

Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn đưa Martine như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ. Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì đã có chồng khác. Riêng cô Baxi thì được ông nhận làm con nuôi. Sau khi về nước, bà Huệ được Tổng thống Bokassa trợ cấp mỗi tháng 200.000 USD.

Năm sau, 1973, Tổng thống Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái ruột là Martine và con gái nuôi là Baxi. Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxi. Sau đó, một đám cưới được tổ chức linh đình tại dinh thự quốc gia.

Số phận của hai “công chúa” Trung Phi

– Số phận của Baxi : Từ một đứa con lai thuộc một gia đình nghèo khó, Baxi được Tổng thống Bokassa nhận làm con nuôi rồi cũng trở thành một công chúa, sống trong cảnh giàu sang được một thời gian, sau đó số phận hết sức bi đát. Năm 1976, chồng của Baxi là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung nhưng lại âm mưu lật đổ Bokassa và bị Bokassa xử tử.

Ngày chồng chết cũng là ngày Baxi sinh một đứa con trai, nhưng hai tuần sau, đứa bé bị bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode chồng của Martine Bokassa giết chết theo lệnh của Bokassa, bằng cách chích một mũi thuốc độc.

Đúng một năm sau ngày chồng bị xử tử, Baxi được Bokassa cho phép trở về Việt Nam, nhưng vì có tiền mang theo nên cô bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết để cướp của và giấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Cô hưởng vinh hoa phú quý được khoảng 7 năm.

– Số phận của Martine Bokassa : Ngày 21/9/1979, Pháp giật dây cho David Dakco tổ chức lật đổ “Hoàng Đế Bokassa Đệ nhất” và buộc ông phải sống lưu vong tại quốc gia Bờ Biển Ngà. Chồng của Martine tức bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode bị David Dakco ra lệnh xử tử về tội đã “theo đuôi” Bokassa, giết chết con của “người anh hùng” chống Bokassa là đại úy Fidel Obrou, chồng của Baxi, và thuộc gia đình có nhiều tội ác.

Martine và 3 đứa con trốn thoát qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ mẹ của Martine ở bên Việt Nam sau này được Martine bảo lãnh sang Pháp sống với con và các cháu.

Martine thấy cái họ Dévéavode của chồng “xui xẻo” quá nên xin đổi tên mới là Martine Kota. Hiện nay cô làm chủ hai nhà hàng rất lớn, một ở Paris và một ở đảo Corse do người con gái lớn đã lấy chồng ở đó trông coi. Con trai của Martine tên là Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30/8/1974 tại Bangui, hiện đang sống tại Pháp. (theo TinhHoa sưu tầm)

– Mời xem thêm về chuyện tình Bokassa do chính người phụ trách điều tra tự truyện, trên “Một thời Sài Gòn” ngày 9/8/2010. Xin bấn vào đường dẫn :

BOKASSA – Chuyện bây giờ mới kể… (1/2)

BOKASSA – Chuyện bây giờ mới kể… (2/2)

Quế Phượng chuyển tiếp

DANH CA BẠCH YẾN

Danh ca Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến, (sinh 1942) là một danh ca nổi tiếng của Sài Gòn với tầm vóc quốc tế trước năm 1975. Chị là con dâu của GSTS Trần Văn Khê.

Bạch Yến sinh quán tại Sóc Trăng. cha là người Triều Châu (Trung Quốc) và mẹ là một người Kinh rất yêu âm nhạc. Lên 9 tuổi, Bạch Yến theo học tiểu học Trường La providence, Cần Thơ, gia nhập đoàn thánh ca nhà thờ để làm quen với âm nhạc.

Mới 14 tuổi, Bạch Yến đã cố trang điểm cho già dặn hơn để lần mò đến các vũ trường, phòng trà xin làm ca sĩ, những mong kiếm tiền để phụ giúp mẹ. Nơi Bạch Yến đến gõ cửa đầu tiên là phòng trà Trúc Lâm trên đường Phạm Ngũ Lão. Từ phòng trà Trúc Lâm, Bạch Yến tiến lên phòng trà Hòa Bình, được khán giả tán thưởng nồng nhiệt qua các ca khúc “Bến cũ”, “Gái xuân”… và một số bài hát pháp: “Tango Blue”, “Étoile Des Neiges”…

Bạch Yến trở nên nổi tiếng với ca khúc Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, khi chỉ vừa tròn 15 tuổi và là ca sĩ đầu tiên đã chuyển ca khúc này từ điệu tango (điệu nhạc gốc của ca khúc) sang slow rock.

Năm 1961, Bạch Yến sang Pháp học thanh nhạc. Bạch Yến được ông Phạm Văn Mười thu nhận làm ca sĩ, hát tại nhà hàng La Table Du Mandarin do ông ta làm chủ trên đường Rue de l Echelle, quận 1, Paris. Trong thời gian này, Bạch Yến được hãng Polydor của Pháp mời thâu đĩa và lưu diễn một số nước châu Âu. năm 1963, Bạch Yến quay về Việt Nam và hát ở phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường.

Năm 1965, Bạch Yến sang Mỹ hát cho Chương trình Ed Sullivan Show. Bạch Yến ở Mỹ 12 năm, đi lưu diễn trên khắp Hoa Kỳ và nhiều nước châu Mỹ: Canada, Mexico, Brasil, Venezuela, Colombia, Panama…

Bạch Yến là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965, là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất trình diễn cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon… và là ca sĩ Việt đầu tiên và duy nhất hát nhạc phim Hollywood “The Green Berets”.

Năm 1978, Bạch Yến về lại Paris. Nơi đây, chị gặp lại nhạc sĩ Trần Quang Hải, một con người nặng tình với dân ca, gần như dành cả đời cho những làn điệu hát ru, quan họ, chèo văn, nam ai, nam bình… Có lẽ do anh ảnh hưởng dòng máu của người cha, giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê. Như đùa, khi Trần Quang Hải buột miệng nói : “Mình cưới nhau đi”, Bạch Yến giỡn lại  “OK !”. Nào ngờ Trần Quang Hải làm thiệt, cho in thiệp cưới. Thế là thành vợ thành chồng. Bạch Yến nói : “Đó là duyên số, chúng tôi sống với nhau tràn đầy hạnh phúc cho đến hôm nay. Đã 34 năm rồi”.

Định cư hẳn ở Paris, Bạch Yến cũng làm một cuộc thay đổi lớn lao trong đời sống nghệ thuật. Chị rời bỏ nền âm nhạc Tây phương khi đang ở trên đỉnh cao danh vọng và kiếm được rất nhiều tiền. Chị quay về với dân ca, cùng với chồng tìm trong âm điệu ngũ cung cái hồn dân tộc thấm đẩm ân tình. Với chị, Trần Quang Hải không chỉ là một người chồng, mà còn là một người thầy. Anh chỉ dẫn, nắn nót cho chị từng điệu hát ru, từng lời quan họ và những điệu hò phương Nam.

Bạch Yến cũng hay hát các ca khúc của Lam Phương, Trịnh Công Sơn. Và chị có thể hát được nhiều thứ tiếng.

Cho đến năm nay (2012), vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải đã có hơn 3.000 suất diễn dân ca Việt Nam trên 70 quốc gia. Hiện nay, hàng năm Bạch Yến và Trần Quang Hải vẫn duy trì 60 suất diễn cho khán giả ngoại quốc, trên dưới 10 xuất cho các cộng đồng người Việt hải ngoại. Bạch Yến khiêm tốn: “Giọng tôi không được mềm mại như những ca sĩ xuất thân từ nhạc cổ truyền một cách chính thống. Nhưng tôi biết thả hồn mình vào trong từng câu, từng lời khoan nhặt và dày công luyện tập để không vấp phải bất cứ một sai sót nào. Không chỉ người Việt tha hương thèm nghe làn điệu dân ca mà ngay cả người Tây cũng thích. Với họ đó là một sự lạ lẫm, mang tính khám phá”.

Năm 1983, vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải được nhận giải “Grand Prix Du Disque De L” Académie Charles Cros” (giải thưởng tối cao của Hàn Lâm Viện đĩa hát Charles Cros) do quyết định của một hội đồng giám khảo, bao gồm những nhà nghiên cứu âm nhạc hàng đầu thế giới tại Paris.

Tháng 10/2009, cánh chim phiêu lãng Bạch Yến trở về quê hương sau 44 năm sống đời viễn xứ. Tại phòng trà Văn Nghệ với ca khúc bất hủ “Đêm đông” và một số bài hát quen thuộc khác, chị được khán giả chào đón nồng nhiệt. Bạch Yến xúc động : “Tôi rất hạnh phúc pha lẫn bất ngờ. Lúc đầu, tôi nghĩ khán giả đến với mình chắc là những người còn lại của thế hệ trước. Nào ngờ, hầu hết khán giả có mặt liên tục trong các đêm diễn toàn là người trẻ. Tôi quá cảm động và hạnh phúc khi thấy họ lắng nghe một cách say mê”. (theo Langduca)

Mời nghe tiếng hát của nữ ca sĩ Bạch Yến :

https://youtu.be/S34DEw8XnPI     https://youtu.be/CUpNU9NH_QA.

Sang Huỳnh chuyển tiếp

TỪ KẺ CƯỚP NGÂN HÀNG

TRỞ THÀNH GIÁO SƯ LUẬT Ở MỸ

Ít ai có thể tưởng tượng một kẻ nát rượu, dùng ma túy và đi tù nhiều năm vì tội cướp ngân hàng lại có thể trở thành giảng viên luật ở Đại học Georgetown (Mỹ). Đó là câu chuyện có thật về cuộc đời của Shon Hopwood.

Trong giờ nghỉ giải lao một trận thi đấu bóng rổ làm từ thiện, giáo sư luật Shon Hopwood, 42 tuổi, kể với sinh viên rằng ông từng phải lận dao trong người khi chơi bóng rổ. Các sinh viên cười ồ lên.

Lãnh án 11 năm tù vì cướp ngân hàng

Đó là câu chuyện nói đùa của giáo sư Hopwood nhưng không phải là chuyện bịa. Khi còn bị giam ở nhà tù liên bang, ông đã giấu dao trong người khi chơi bóng rổ vì có thể sẽ cần đến nó nếu đội của ông thua trận, theo The Washington Post. Hiện tại, Hopwood đang là giáo sư luật của Trường luật Georgetown, thuộc Đại học Georgetown ở thủ đô Washington D.C (Mỹ). Ít ai có thể tưởng tượng rằng trước kia ông từng là kẻ cướp ngân hàng và bị kết án nhiều năm tù. Cách đây 20 năm, Hopwood đã cướp một ngân hàng tại một thị trấn nhỏ ở bang Nebraska (Mỹ). Ông lãnh án 11 năm tù và bị giam tại nhà tù liên bang.

Hopwood sinh ra và lớn lên ở bang Nebraska. Nơi ông sống chỉ có khoảng 2.500 dân. Khi còn bé, cậu nhóc Hopwood rất hoạt bát, dễ kết bạn, thích chơi bóng rổ nhưng lại không thích học. Tuy nhiên, Hopwood cũng vào được đại học như nhiều thanh niên khác. Mọi chuyện bắt đầu khi ông bị đuổi khỏi trường. Truyền thông Mỹ không nhắc đến lý do vì sao ông bị đuổi học.

 Nản chí, Hopwood tham gia hải quân Mỹ 2 năm. Khi trở về, ông đến sống với cha mẹ ở bang Nebraska, làm việc 12 tiếng đồng hồ trong trang trại, chìm trong rượu chè và ma túy. Một đêm nọ, người bạn thân nhất của Hopwood rủ đi cướp ngân hàng. Ông đồng ý. Vụ cướp xảy ra vào tháng 8/1997. Chàng thanh niên xông vào ngân hàng với khẩu súng trường giấu trong áo choàng và một túi đựng dụng cụ bằng kim loại. Hopwood đầm đìa mồ hôi, trống ngực đập liên hồi.

Những người có mặt khi đó ở ngân hàng đều hoảng sợ. Nhân viên ngân hàng đã kịp khóa ngăn đựng tiền. Ông và người bạn thân chỉ cướp được 50.000 USD, theo The Washington Post. Ngay sau đó, cả hai đều biết mình đã phạm sai lầm khủng khiếp. Người bạn đề nghị hãy trả lại số tiền bị cướp. Tuy nhiên, Hopwood đã từ chối và cướp thêm 4 ngân hàng khác.

Khi ông bị tuyên án trước tòa, gia đình và họ hàng gồm 30 người đều bật khóc. Khi đó Hopwood chỉ mới 23 tuổi. Cánh cửa cuộc đời tưởng như đã đóng lại với ông.

Học 12 giờ mỗi ngày với ước mơ làm luật sư

Hopwood thi hành án tại nhà tù liên bang. Ông thường xuyên đến thư viện nhà tù đọc sách về luật. Sau đó, ông được nhận vào phụ giúp việc tại đây. Trong thời gian ở tù, Hopwood nghiên cứu rất nhiều về luật, tìm hiểu bản án kết tội mình cũng như tư vấn luật cho nhiều bạn tù.

Hopwood được trả tự do vào tháng 10.2008, khi đó ông 33 tuổi. Hopwood muốn làm lại cuộc đời nhưng bủa vây ông là quá nhiều khó khăn. Ông muốn được học đại học, muốn được kết hôn nhưng không có tiền. Việc làm lại khó kiếm vì chẳng ai dám thuê kẻ từng ngồi tù vì tội cướp ngân hàng. Cuối cùng, Hopwood tìm được một công việc rửa xe ở thành phố Omaha, bang Nebraska. Ông muốn đi học nhưng lý lịch khiến ông gặp rất nhiều khó khăn.

Thế nhưng, Đại học Washington (Mỹ) đã chấp nhận trao học bổng toàn phần ngành luật cho Hopwood. Lúc ấy, ông đã có vợ và một cậu con trai nhỏ. Ngày đầu tiên ông đi học cũng là ngày vợ sinh đứa thứ hai. Đó là một bé gái. Hopwood đã học 12 giờ mỗi ngày với ước mơ làm luật sư. Ông rất lo lắng vì sợ rằng quá khứ đen tối sẽ khiến ông không thể thành luật sự.

Cuối cùng, sau khi vượt qua nhiều cuộc kiểm tra và đánh giá của cơ quan pháp luật Mỹ, ông chính thức được công nhận trở thành luật sư vào tháng 4/2015. Sau đó, ông được nhận vào làm việc tại Đại học Georgetown với vị trí giáo sư dạy luật, theo The Washington Post.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (6)

TÊN NƯỚC VIỆT NAM

BẮT NGUỒN TỪ

TRIỀU ĐẠI NHÁ NGUYỄN

1/- Vua Gia Long (1762 – 1820)

Vua Gia Long là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. và, Vua Gia Long chính là người đặt tên nước ta là VIỆT NAM. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

Sau nhiều thất bại lớn và phải cầu viện sự giúp đỡ của Xiêm La và Pháp, ông giữ vững được Nam Hà và đến năm 1802 thì đánh bại quân Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, thống nhất Việt Nam sau nhiều thế kỷ nội chiến.

2/- Vua Minh Mạng (1791 – 1841)

Vua Minh Mạng, tức Nguyễn Thánh Tổ, là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao, trong đó có việc ngăn chặn quyết liệt ảnh hưởng phương Tây đến Việt Nam.

3/- Vua Thiệu Trị là vị Vua thứ ba của nhà Nguyễn

Vua Thiệu Trị trị vì từ năm 1841 đến 1847. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền và Dung. Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa. Ông sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão, tức 16 tháng 6 năm 1807, tại Huế. 13 ngày sau khi sinh hạ Miên Tông, thân mẫu của ông mất.

4/- Vua Tự Đức (1829 – 1883),

Vua Tự Đức (là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm hay còn có tên Nguyễn Phúc Thì, là con trai thứ hai của vị hoàng đế thứ 3 triều Nguyễn, Thiệu Trị. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883. Trong thời gian trị vì của ông, nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp.

5/. Vua Dục Đức (1883, 3 ngày)

Vua Dục Đức tên là Nguyễn Phúc Ưng Ái, là con thứ 2 của Thụy Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga. Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm Quý Sửu (11-2-1853). Năm 1869, lúc 17 tuổi được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và đổi tên là Ưng Chân, cho xây Dục Đức Đường để ở và giao cho Hoàng Quý Phi Vũ Thị Duyên (sau này là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) trông coi, dạy bảo.

Vua Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết: “… Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây.”

Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này nên 3 ngày sau hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã phế bỏ Dục Đức theo lệnh của Từ Dũ Thái hoàng Thái hậu (mẹ vua Tự Đức) và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ vua Tự Đức).

Làm vua được 3 ngày chưa kịp đặt niên hiệu (Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở) thì Ưng Chân đã bị phế bỏ và giam vào ngục cho đến khi mất. Ông mất ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân (24-10-1884), thọ 32 tuổi. Đến thời vua Thành Thái (con vua Dục Đức) vào năm 1892 đã truy tôn cha mình là Cung Tôn Huệ Hoàng đế. Vua Dục Đức có 19 con (11 con trai và 8 con gái).

6/- Vua Hiệp Hòa (1847 – 1883)

Vua Hiệp Hòa là vị vua thứ sáu của vương triều nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Phúc Hồng Dật, còn có tên là Nguyễn Phúc Thăng, là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận. Ông lên ngôi tháng 7/1883, lúc 37 tuổi. nhưng bị phế truất và bị ép uống thuốc độc qua đời vào tháng 10 cùng năm.

7/- Vua Kiến Phúc tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng

Thường được gọi là Dưỡng Thiện, là vị vua thứ bảy của vương triều nhà Nguyễn. Ông là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi, và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo.

Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2/12/1883, Ưng Đăng (15 tuổi) được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31-7-1884) lúc mới 16 tuổi.

8/- Vua Hàm Nghi (1871 – 1943)

Vua Hàm Nghi là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, là em trai của vua Kiến Phúc. Năm 1884, Hàm Nghi được đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống thực dân Pháp.

Phong trào Cần Vương kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị Pháp bắt.
Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie). Ngày nay, Việt Nam xem ông, cùng với các vua chống Pháp: Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Pháp thuộc

9/- Vua Đồng Khánh (1864 – 1889)

Vua Đồng Khánh miếu hiệu Nguyễn Cảnh Tông, là vị Hoàng đế thứ chín của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Tên húy của nhà vua các tài liệu ghi khác nhau, nơi thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Ưng Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông, ngoài ra còn có tên Nguyễn Phúc Đường.
Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, được vua Tự Đức nhận làm con nuôi năm 1865, và giao cho bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc, dạy bảo.

Sau binh biến năm 1885, vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng ra Tân Sở, triều đình Huế thương lượng với Pháp đưa Ưng Đường lên ngôi, đặt niên hiệu là Đồng Khánh. Ở ngôi được 3 năm, vua Đồng Khánh bệnh và mất vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tí (28-1-1889), lúc được 25 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Đồng Khánh được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Cảnh Tông Thuần Hoàng đế.

10/- Vua Thành Thái (1879 – 1954)

Vua Thành Thái là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu. Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu).  Trước các ý tưởng cấp tiến của vua Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ.

Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Ngày 3 tháng 9 năm 1907, triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần (trừ Ngô Đình Khả), với lý do sức khoẻ không bảo đảm, xin tự nguyện thoái vị.

Xem xong bản dự thảo, Thành Thái chỉ cười, ghi ngay hai chữ “phê chuẩn” rồi quay lưng đi vào. Do chống Pháp nên ông cùng với các vua Hàm Nghi và Duy Tân bị đi đày tại ngoại quốc.

11/- Vua Duy Tân (1900 – 1945)

Vua Duy Tân là vị vua thứ 11 của nhà Nguyễn (ở ngôi từ 1907 tới 1916), sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên ông bất hợp tác với Pháp và bí mật liên lạc với các lãnh tụ khởi nghĩa Việt Nam. Vì lý do này, ông bị người Pháp đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.

12/- Vua Khải Định (1885 – 1925)

Vua Khải Định hay Nguyễn Hoằng Tông là vị Hoàng đế thứ 12 nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ 1916 đến 1925. Ông có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu Dương Thị Thục.

13/- Vua Bảo Đại (22/10/1913 – 31/7/1997)

Vua Bảo Đại là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển , tục danh “mệ Vững” là con của vua Khải Định và Từ Cung Hoàng thái hậu.

Đúng ra “Bảo Đại” chỉ là niên hiệu nhà vua, nhưng tục lệ vua nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu, nên nay thường dùng Bảo Đại như là tên nhà vua.

Con số 13 bí ẩn và vua Bảo Đại

1/. Vua Bảo Đại tên húy là Nguyễn Vĩnh Thụy sinh 22/10/1913, là hoàng tử duy nhất của Vua Khải Định và hoàng hậu Đức Từ Cung

2/. Vua Bảo Đại lên ngôi vua năm 13 tuổi, ngày 8/1/1926

3/. Vua Bảo Đại trở thành vị vua triều Nguyễn thứ 13: (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại)\

4/. Vua Bảo Đại ngồi ngai vàng 13 năm: Ông được trao ngôi khi du học ở Pháp trở về nước thọ tang cha tháng 11/1925. Ngày 8/1/1926 ông được triều đình tôn ngôi vua, hiệu Bảo Đại. Sau đó, vua trở quay trở lại Pháp học tiếp. Năm 1932, học xong ông về và chính thức ngồi ngai vàng trị nước.

Tới năm 1945 ông thoái vị để ủng hộ Cách mạng tháng Tám, Tính từ năm 1932 trở về nước lên ngôi chính thức là 13 năm ngồi ngai vàng trị vị. Ông trải qua 2 bước ngoặt lịch sử cách mạng năm 1945, và phản bội nghiệt ngã của Ngô Đình Diệm năm 1954, nhưng không bị giết chết.

5/. Vua Bảo Đại khá đào hoa và có nhiều bà vợ : Bắc, Trung, Nam đều có bà, Trung Hoa 1 bà, Lào có Công chúa Lào, Pháp có 3 bà Vicky, Clément và bà Monique. Trong đó có 6 bà sinh con và có tổng số 13 người con :

8 người vợ 13 người con :

1/. Nam Phương Hoàng Hậu. Có hôn thú, 5 con. 2/. Bùi Mộng Ðiệp. Không hôn thú, 3 con. 3/. Lý Lệ Hà. Không hôn thú, không con. 4/. Hoàng Tiểu Lan. Không hôn thú, 1 con gái. 5/. Lê Thị Phi Ánh. Không hôn thú, 2 con. 6/. Vicky (Pháp). Không hôn thú, 1 con gái. 7/. Clément. Không hôn thú. 8/. Monique Marie Eugene Baudot. Có hôn thú, không con.

6/. Ông được an táng đúng 13 h ngày 6/8/1997, sau khi chờ tạnh mưa và múc hết nước dưới huyệt mộ để chôn cất. (source from Phan Huy)

TÌM HIỂU VỀ CHỮ “SẾN”

– Nguyễn Tài Ngọc

Vợ chồng có thể phân loại ra hai thành phần : tương cận  hoặc tương phản. Chúng tôi thuộc vào loại thứ nhì : tình Bắc duyên Nam.

Nàng thích đọc sách, tôi thích xem phim. Nàng hiền từ, tôi nóng tính. Ngày xưa Trung học tôi học trường Việt, nàng học trường Tây. Tôi ở Bàn Cờ gần nhà thương Từ Dũ, nàng ở Sài Gòn gần nhà hàng Văn Cảnh. Sự khác biệt này nó lan rộng đến cả lãnh vực âm nhạc. Tuy rằng phần đông chúng tôi thích cùng một loại nhạc như nhạc Pháp, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Nhật Trường…. thế nhưng có những bài thuộc loại nhạc Sến nàng không bao giờ nghe.

Đã thuấn nhầm văn hóa khách sáo Bắc Kỳ Đệ Ngũ Đẳng Huyền Đai nên khi tôi nghe vài bản nhạc không phải loại nàng nghe thì thay vì than phiền lớn tiếng, nàng chỉ cần nhìn tôi với một ánh mắt khinh bỉ phớt tỉnh Ăng-Lê là tôi biết ngay nàng dùng quyền phủ quyết của Hội viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc gián tiếp cho tôi biết là đừng nên nghe.

Nhạc Sến là gì ? Thế nào là nhạc Sến ?

Chính tôi cũng ù ù cạc cạc không biết chữ nhạc Sến từ đâu đến, vì thế tôi muốn để một vài thì giờ vào bảo tàng viện Việt Nam tìm trống đồng Ngọc Lũ ở cạnh nhà Chế Linh để tìm hiểu nguyên do tại sao người ta gọi là nhạc Sến, như thế nào thì gọi là nhạc Sến, và tại sao có người không thích nhạc Sến, chẳng lẽ nó có ảnh hưởng ghê gớm đến sức khỏe về chiều của mình ?

“Khoảng thập niên 1960, các rạp ciné ở Sài Gòn, và các thành thị tử miền Trung xuống tận miền Nam, thay nhau chiếu một bộ phim rất ăn khách : Anh em nhà Karamazov, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dostoyevsky”. Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano – y phục nghèo nàn, thân hình bốc lửa, tóc tai xõa xượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… nói chung là quậy tới bến.

Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với nam diễn viên Yul Brynner, tài tử thượng thặng của Hollywood. Phim chiếu loanh quanh các rạp, cả tháng chưa hết người xem. Lúc này bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell.

Theo đạo diễn Lê Văn Duy : Thực ra nữ ngôi sao điện ảnh người Thụy Sĩ, gốc Áo Maria Schell này rất nổi tiếng. Maria Schell là ngôi sao điện ảnh quốc tế, sinh năm 1926 tên thật là Marghrette Schell-Noe đóng phim từ 1942 – 1985 với trên 30 bộ phim lớn. Maria Schell đã cộng tác với rất nhiều đạo diễn lừng danh thế giới từ các nước Anh, Pháp, Ý, Đức và Áo như Astruc và Chenal, Clément, Brooks, Daves, Cooper, Mann, Visconti, Chabrol, Guitry…

Trong đó có thể kể những bộ phim lớn nổi tiếng như Napoléon, Gervaise, Anh em nhà Karamazov, Con đường về hướng tây, Kẻ sát nhân thích âm nhạc, Trong lớp bụi mặt trời, Hồ sơ Odessa, Trưởng giả điên, Khách đến từ Sans-Souci… Maria Schell có người em trai rất nổi tiếng là diễn viên kiêm đạo diễn Maximiliam Schell, đoạt giải Oscar trong bộ phim Xử án ở Nuremberg, phim cũng đã chiếu ở Sài Gòn thập niên 1960. Như vậy việc chọn từ “sến” không hề xuất phát từ một diễn viên điện ảnh tầm thường mà là việc gọi trại tên từ một ngôi sao điện ảnh quốc tế Maria Schell theo giọng hài biếm.

Còn vì sao lại chọn tên Maria ? Dạo ấy các trường đại học Sài Gòn còn dạy tiếng Pháp nên giới báo chí Sài Gòn đã chọn cái tên Maria vốn là tên một cô gái Pháp rất phổ cập ở nước này.

Trẻ em đường phố tập tành nhún nhảy bài Mambo Italiano. Các cô gái đợt sóng mới lăng-xê kiểu tóc xõa xượi, mắt xanh Bel, phô trương thân hình… Trên sân khấu phòng trà mọc lên những ngôi sao ca nhạc gào thét, quằn quại như con thanh xà, bạch xà. Từ Mari Sến thoạt tiên được dùng như một biến âm của Maria Schell để chỉ dạng biến thái này trong sinh hoạt của giới trẻ. Dầu không giống Maria Schell cho lắm, nhưng các Sến cũng tạo được một sức hấp dẫn nhất định. Có bài thơ làm chứng như sau :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Theo giáo sư, nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo : “Theo tôi, gốc của từ “sến” phải bắt đầu từ chữ “sen” trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở. Xuất phát của từ này ở miền Bắc, thời kỳ Pháp thuộc vào những năm 1930 – 1945; có thể xem là thời của Lý Toét và Xã Xệ, của văn chương Tự Lực Văn Đoàn. Từ “sen” đọc trại thành “sến” bởi sự khinh bỉ, là tầng lớp thấp, văn hóa kém. Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị. Bàn riêng về chữ “sến” trong “nhạc sến”, tôi nghĩ nghĩa gốc cũng vậy, không thay đổi nhiều lắm.

Giáo sư Cao Xuân Hạo cho rằng từ sến xuất xứ ở từ con sen. Cách giải mã ấy có vẻ hợp từ nguyên (étymologic) nhưng không hợp thực tế. Thực tế là ở miền Nam, rất hiếm người dùng từ con sen để gọi các “ôsin”. Còn ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thì sau 1954, các con sen, con nụ đã được giải phóng. Dầu trong sến có một phần chất sen nhưng xuất xứ của từ này rất sang: Sến đến Việt Nam từ Hollywood qua con đường nghệ thuật thứ bảy.

Ai đó chế ra từ Mari Sến khá thông minh dí dỏm, hẳn từ trong tiềm thức đã có động cơ phản kháng tích cực, chống lại những thứ đua đòi, thời thượng, lai căng vọng ngoại và rẻ tiền. Âu cũng là bản năng gốc để bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo tồn văn hóa dân tộc. Trong ý nghĩa đó, từ Mari Sến ban đầu, không hề có mục đích miệt thị, đả kích những người đi ở đợ hoặc tầng lớp bình dân lao động.

Chỉ một thời gian ngắn, từ Mari Sến (hoặc ngắn gọn là sến) trở nên thông dụng để nói về người (cả nam lẫn nữ) về âm nhạc, phim ảnh, hội hoạ, thời trang… và cả ngôn ngữ văn học, cung cách ứng xử trong giao tiếp hằng ngày.

Chưa có một quy định “chuẩn” nào để phân biệt bản nhạc này thuộc loại “sến”, bản kia không “sến” nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 – nhất là những bản có điệu boléro, rumba, ballade… đều bị quy là nhạc sến (tiếng “sến” được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị…)…”

Tôi vào Youtube tìm video ca sĩ hát những bài nhạc Sến như Phố đêm, Phận gái thuyền quyên, Lời kẻ đăng trình, Nhớ người yêu, Duyên kiếp… hoặc những bài tương tự như vậy thì phần đông là do ca sĩ người Nam hay Trung  hát : Tuấn Vũ, Trường Vũ, Mạnh Đình, Mạnh Quỳnh, Duy Khánh, Chế Linh, Quang Linh, Thế Sơn, Đàm Vĩnh Hưng, Đặng Thế Luân, Quang Lê, Thanh Tuyền, Thanh Thúy, Phương Hồng Quế, Sơn Tuyền, Như Quỳnh, Phương Dung, Hương Lan, Phi Nhung, Băng Tâm, Mỹ Huyền…

Ngược lại, tìm ca sĩ hát những bài hát của Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Đức Huy… thì ca sĩ phần đông là người Bắc : Vũ Khanh, Elvis Phương (trường hợp ngoại lệ hiếm có), Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Tuấn Anh, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Bằng Kiều, Nguyên Khang, Khánh Ly, Ý Lan, Ngọc Lan, Lệ Thu, Ái Vân, Thanh Lan, Thu Phương,  Khánh Hà, Thái Hiền, Lưu Bích…

Không cần là nhà bác học đại tài được trao giải thưởng Nobel của Thụy Điển, chỉ cần dựa vào hai dữ kiện trên một người có thể phân tích ngay nhạc mà người ta cho là nhạc Sến có những đặc tính như sau :

– Ca sĩ, và nhạc sĩ viết/hát  những bản nhạc này đều là người Nam.

– Lời nhạc mộc mạc, đơn sơ, không bóng bẩy (“Em ơi nếu mộng không thành thì sao ?” Lam Phương)

– Điệu nhạc u buồn, có vẻ rên rỉ, và tương đối dễ hát.

– Nhiều bài được vọng cổ khai thác trong tân cổ giao duyên.

Theo thiển ý của tôi thì bài nhạc tự nó không sến, chỉ vì người hát mà nó trở thành sến. Thí dụ như bài Mộng Dưới Hoa, thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương, người Bắc :

Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh là bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Bây giờ chúng ta nhắm mắt tưởng tượng một ca sĩ Nam Kỳ hát :

Chưa gặp em, tui dzẩn nghỉ rằng, có nàng thiếu nử đẹp như trăng…

Bảo đảm bài hát hay đến đâu người nghe cũng cảm thấy sến, phần lớn là vì phát âm không chính xác. Về phương diện phát âm không chuẩn thì người Bắc có một lợi điểm vì chính họ cũng phát âm vài chữ sai nhưng người Việt -Bắc hay Nam- lại cho là hay và êm tai, không gọi là sến. Hãy nghe cùng lời nhạc trên với một ca sĩ Bắc Kỳ hát :

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ dzằng, có nàng thiếu nữ đẹp như chăng…

Người Bắc nào cũng đọc âm “r” sai thành “dz”, “rằng” sai thành “dzằng”, và “tr” sai thành “ch”, “trực” sai thành “chực”. Ca sĩ Tuấn Ngọc, khác với người Bắc bình thường, hát vần tr “trên”, “trăng”, “trúc”, “trước”… thành vần “ch” rất nặng : chên, chăng, chúc, chước…,  vì thế  mỗi lần tôi nghe Tuấn Ngọc hát thì cảm thấy khó chịu vô cùng. Ấy thế mà vợ tôi người Nam nghe thấy hay, không có gì là sến !

Theo lời bình luận thì họ không biết ai đã dùng chữ nhạc Sến để ám chỉ loại nhạc tôi vừa mô tả bên trên. Tôi nghĩ người viết bài đó lịch sự nên không dám nói thẳng. Tôi là người điếc không sợ súng nên dám quả quyết là những người miền Bắc (sau 54 vào Sàigòn) không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, không thích ca sĩ người miền Nam hát, sợ cạnh tranh với nhạc… tiền chiến của nhạc sĩ người miền Bắc viết nên họ đặt ra danh từ nhạc Sến với ám chỉ chê bai.

Nói có sách, mách có chứng, tôi xin trưng dẫn một thí dụ rõ rang : Nhà thơ Nguyễn Hữu Loan người Bắc làm bài thơ Mầu Tím Hoa Sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi lính, chồng không chết mà cô ta chết. Bài thơ này được hai nhạc sĩ phổ nhạc : một là do nhạc sĩ Dzũng Chinh, nguời Nam, tựa đề Những Đồi Hoa Sim, và một là do Phạm Duy, người Bắc, tựa đề Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà.

Bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (giọng nhạc lên xuống, nhanh chậm, cầu kỳ hơn Ngã Bẩy SàiGòn) của Phạm Duy chỉ có Elvis Phương, Vũ Khanh, Duy Quang hát, trong khi bài Những Đồi Hoa Sim  chỉ có ca sĩ người Nam trình bày : Phương Dung, Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Như Quỳnh. Hỏi mười người Bắc thì chín người sẽ nói là bài Những Đồi Hoa Sim là nhạc Sến.

Nếu người Bắc cho rằng lời nhạc bình dị là một yếu tố biến một bài nhạc thành nhạc Sến, tôi cực lực phản đối, khiếu nại đến Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ. Tôi trưng dẫn thí dụ bài Nhớ Người Yêu : “Ước gì mình đừng ngăn cách, Ước gì nhà mình chung vách, Hai đứa mình thức trắng đêm nay.” (câu cuối cùng  được đổi lại rất thịnh hành : “Anh khoét tường anh đến với em”).  Tôi bảo đảm anh nhạc sĩ Bắc, Trung, Nam, Tây, Tầu nào cũng đều ước ao em ở gần nhà để mình khoét tường đến thăm.

Cái khác biệt là người Nam nói huỵch tẹc ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì khách sáo, trong lòng  thì muốn lắm đấy nhưng ngoài mặt giả vờ “em chả, em chả…”, không dám viết thật sự ý nghĩ của mình qua  lời nhạc.

Tuy tôi là người Bắc nhưng thơ tôi viết không thuộc loại “lên mây”, nhẹ nhàng, bóng gió. Ngược lại, thơ tôi bình dị, đơn sơ, chất phác, rất giống như lời của những bài nhạc Sến. Nếu tôi là người Nam, là nhạc sĩ phổ chính thơ của tôi thành nhạc thì bảo đảm người Bắc sẽ phân loại nhạc của tôi thuộc loại nhạc Sến. Nhưng tôi là người Bắc, thành ra thơ tôi có phổ nhạc Sến đến đâu người Bắc cũng không bao giờ gọi là Sến. Tôi muốn chứng minh điều đó bằng cách bây giờ sẽ học nhạc cấp tốc để phổ vài câu thơ thành nhạc :

Cầu Bông có một đống sình,

Nơi mười năm trước chúng mình quen nhau. 

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,

Tình mất vui khi đã trọn câu thề.

Anh yêu em, em làm khó dễ trăm bề,

Tối nay ân ái, em sẽ chết về tay anh. 

Thương em mấy núi cũng trèo,

Nhưng nếu em mập quá, thì khỏi trèo em ơi. 

Ước sao ăn ở một nhà,

Em lo dọn dẹp, anh bỏ nhà đi chơi.  

Trăng rằm mười tám trăng lu,

Lấy chồng thợ máy, con cu cũng dính dầu. (theo Nguyễn Tài Ngọc)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

ĐÊM CUỐI CÙNG Ở LẠI

SÀI GÒN, ĐÊM CUỐI CÙNG, Ở LẠI

– Tự truyện Hồ Hoàng Hạ

Dường như có tiếng quẫy đuôi của vài ba chú cá nào đó liên tục chạm vào mạn tàu, ngay phía dưới ca-bin tối lù mù, chỗ tôi vừa ngã lưng cho qua cơn mệt mỏi và buồn ngủ tích lũy từ suốt mấy ngày qua.

Trong đêm thanh vắng, mịt mùng âm u, tiếng nước bị xé bì bõm bởi loài thủy ngư nghe cứ rõ mồn một bên tai, từng chập từng chập, một cách hối hả bức bách như có ý kêu gọi, cầu cứu. Hay là mấy con cá tội nghiệp nào đó cũng muốn xin được lên…tàu để di tản ?!…

Dù người ngợm rệu rã, đầu óc nặng chình chịch những âu lo diệu vợi, tôi vẫn suýt cười thầm ra nước mắt về cái ý nghĩ bi quan tếu vừa thoáng qua đầu. Mấy con cá khốn khổ chết bằm này, vốn có thừa khả năng, sao không theo giòng sông bơi thẳng ra cửa biển để tránh cái cảnh tranh tối tranh sáng, lưới chài bủa chụp khắp nơi sắp diễn ra, lại quấy rầy chi giấc ngủ chập chờn của dân di tản vì biết chắc rằng không thể nào sống được trong nước ao tù, trong sóng cuồn thác lũ theo cách… chịu trôi theo giòng nước như chúng bây ! Hay là lũ cá dưới nước linh cảm sắp có một cuộc bể dâu đổi dời, đất trời đảo ngược, không còn chốn sông nước để chúng dung thân sao đó, nên mới hốt hoảng rối rít tìm cách tháo thân cho kịp trong đêm nay, cũng nên.

Nếu thế, có khác chi tình huống của hằng trăm ngàn con dân trong thành phố này, cuống quýt bồng bế, kéo nhau lên phi trường, chạy ra bến tàu, thậm chí xô đạp lên nhau ở trước cổng tòa đại sứ Mỹ, nơi có những chiếc trực thăng đáp trên nóc tòa nhà để bốc người di tản mà chính mắt tôi chứng kiến lúc ban chiều…

Mãi miên man với những ý tưởng nặng nề chen chúc trong óc, tôi không tài nào chợp mắt được dù chỉ vài phút. Nhắm mắt là chỉ để nhắm mà thôi! Và trong cơn thiêm thiếp ngủ chẳng ra ngủ, thức không ra thức này, cơ thể tôi như bềnh bồng nhấp nhô trôi trên những giòng hoài niệm , lúc thì từ gần đến xa, khi lại từ xa đến gần, liên tiếp không dứt.

Thời cuộc, tình thế đưa đẩy đến lạ lùng, buộc tôi phải có một quyết định cấp thời để được việc, ngoài sự mong muốn tự thâm tâm. Tôi vốn không thích chốn sông nước ngay từ thuở nhỏ, không hiểu tại sao, nếu chưa muốn nói là kỵ. Do đó mà cả đời không hề có dịp lên ghe thuyền hay đáp tàu  sang sông, ra biển. Thực ra, thời thơ ấu, cũng có đôi ba lần tôi được theo ông anh thứ ba, từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long để thăm anh hai tôi, lúc đó là lính thủy, tàu neo thường xuyên ở đó.

Tất nhiên phải đáp phà ở bắc Mỹ Thuận hai lượt, đi và về. Nhìn giòng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy như muốn chực nuốt gọn con phà, bàn tay tôi cứ víu chặt cánh tay ông anh cho đến khi tới bờ, chẳng một giây dám rời. Thú thật, tôi chẳng thích sông thích suối chút nào kể từ thuở ấy, dù chưa hẳn đã ý thức được thế nào là sự hiểm nghèo của lội  suối, qua sông. Sau này, khi lớn lên, đọc và nghe được nhiều, tôi nghiệm ra rằng, con người ta vốn sợ lửa hơn sợ nước; chính vì vậy con số nạn nhân bỏ mạng vì nước dường như thập phần hơn hẵn số người chầu trời vì…bà hỏa ! Bởi thế, tôi càng kiêng dè… nước nhiều hơn.

Vậy mà, chỉ chưa đầy một tháng trước đây thôi, cùng với đám đệ tử trong trung đội tâm lý chiến và vài cô chính huấn từ đơn vị ở Qui Nhơn, theo đường bộ một lèo về tới Bình Tuy, rồi ở đó tôi phải đành chịu lên tàu tại bãi Tầm Dương để về Vũng Tàu. Chẳng còn cách nào khác. Ngả ba Bình Tuy đi vào Long Khánh, theo quốc lộ một, bị rào chặn ngang bởi một dãy thùng phuy đầy cát. Tất cả xe cộ di tản từ  miền Trung vào, bắt buộc phải quẹo trái để vào Bình Tuy. Mọi người đều hiểu rằng, nếu tiếp tục theo quốc lộ một về Sài Gòn có nghĩa là tự sát, là tình nguyện làm bia hứng đạn ở khúc Rừng lá. Chẳng sao tránh khỏi !

Chiếc tàu mà tôi trèo lên ở ngoài khơi biển Bình Tuy, sau khi cũng trèo lên một thứ phuơng tiện thủy vận nhỏ hơn, loại dành cho thủy quân lục chiến đổ bộ hay gì gì đó tôi không rành, nó to khủng khiếp. Tôi nhớ đó là chiếc 500 hay 504 gì đó. Là dương vận hạm, ngó thật vững chãi và an toàn như một pháo đài hay chiến lũy trên biển chứ chẳng phải thứ tàu chạy trên sông, cùng lắm là bám theo ven biển, mà anh hai tôi là thuyền trưởng, nơi tôi đang ngả lưng đêm nay. Có một điều, chẳng hiểu tại sao không hề nghe ai trong giới hải quân gọi cấp chỉ huy cao nhất trên một chiếc tàu vừa vừa là…tàu trưởng ? Tàu to như mấy chiếc năm trăm dương vận hay mấy chiếc Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng… chuyên tuần dương chẳng hạn, thủy thủ gọi xếp lớn đại bàng là hạm trưởng. Nhưng tàu nhỏ, cũng là tàu, chuyên chạy trên sông, cùng lắm là theo rìa biển, thì chỉ huy lại chỉ được gọi là…thuyền trưởng  mà thôi. Như anh hai tôi chẳng hạn. Trong ý nghĩ, tôi cho rằng thuyền thì phải nhỏ, đại loại như…ghe là cùng. Nhưng anh hai tôi là thuyền trưởng của một chiếc tàu thuộc loại… há mồm được. Trông cũng bề thế lắm !…

Sụp tối đêm nay, khi cùng với mấy anh em trong gia đình đặt chân lên sàn tàu ông anh, tôi cảm thấy an tâm vô cùng. Chắc chằn nó không thể nào…chìm  nỗi! Nó dư sức chạy một mạch ra khơi, quẹo sang ngả Thái Lan hay trực chỉ phía Phi Luật Tân để có thể được rước bởi rất nhiều tàu thuộc Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ đang án ngữ ngoài khơi. Anh hai tôi cam đoan như vậy. Nhưng trước tiên, vẫn là để tránh cái cảnh tranh tối tranh sáng nếu quân Bắc Việt tràn vào Sài Gòn.

Anh em tôi không ai quá bi quan nghĩ tới điều này. Nhưng mấy ngày cuối cùng của Tháng tư, khi xem và nghe tình hình thời sự trên truyền hình, thấy căng thẳng và có thể nguy ngập cho Sài Gòn, song thân tôi giục tất cả đến nhà anh hai tôi trong cư xá Cửu Long để ẩn trú; lỡ có bề gì thì xuống tàu được nhanh, lấy lý do anh em tôi đếu là lính tráng. Hơn nữa, xóm nhà tôi ở là khu bình dân lao động, Vi Xi nằm vùng chắc chắn có. Bởi lẽ, thỉnh thoảng vẫn có truyền đơn xách động lén rải đầy trong đêm. Nghe song thân bàn, anh em tôi cũng chột dạ. Từ chiều 28 đã rủ nhau kéo hết đến nhà ông anh hai, người nào trang phục binh chủng của người đó. Trừ một trong những thằng em tôi là dân Nhảy dù, còn ở lại với đơn vị của nó ở miệt Trảng Bàng, Củ Chi hay Đức Hòa, Đức Huệ gì đó. Dân nhảy dù thì luôn dũng cảm bám trận địa, chiến đấu phải biết!…

Vào ở trong trại Cửu Long cũng thuận tiện cho tất cả anh em tôi. Trừ anh hai, anh ba tôi là dân tài xế lái xe cho mấy xếp lớn tùng sự ở Nha Quân Pháp tại Bến Bạch Đằng. Một ông anh họ là thiếu tá quân chủng hải quân nhưng chỉ làm việc trên bờ. Còn ông anh rễ cũng là sĩ quan hải quân trung úy, làm việc trên tạm trú hạm xéo xéo Bộ tư lệnh Hải quân. Thêm một thằng em khác của tôi, cũng dân hải quân, trung sĩ nhất với nghề hoa tiêu lái tàu. Riêng tôi, là dân CTCT, đơn vị di tản từ ngoài Trung về, được tái bố trí và tạm đóng trong vòng thành Cục Tâm lý chiến, bên hông sở thú. Như vậy, tất cả, nếu cần tới đơn vị mình hằng ngày, sẽ được gần hơn so với chỗ ở của gia đình, tận bên  khu Hàng Keo Gia Định.

Từ lúc đơn vị tôi, Tiểu đoàn 20 CTCT. về tạm đóng nơi doanh trại cũ của Tiểu đoàn 50 CTCT, trước đó vừa giải thể, hằng ngày tôi vẫn phải đến hiện diện nghe ngóng, chờ lệnh. Cho đến xế chiều 29 Tháng Tư, khi hằng đoàn trực thăng bốc người di tản vần vũ trên không phận Sài Gòn với câu mật lệnh phát qua luồng sóng nào không rõ, nhưng nghe được từ chiếc radio nhỏ tôi luôn mang theo người kể từ lúc chạy từ ngoài Trung về hồi đầu tháng. Mật lệnh mà lúc ấy, khi nghe được tôi cũng chỉ tưởng là luồng sóng phát thanh bị trục trặc hay bị phá gì đó. Đại khái câu mật lệnh đó đề cập đến một mùa Giáng sinh trắng êm đềm đã đến (?)… Nội dung câu trên được lặp đi lặp lại liên tục, nghe đến bực mình vì không hiểu gì hết ! Tôi lôi chiếc máy ra khỏi túi áo treilli đổi ngay băng tần đang phát. Nhưng chỉ nghe toàn âm thanh lè rè, không bắt được một luồng sóng đài nào khác…

Lúc đó tôi bực mình cũng phải. Nguyên là, lúc xế chiều, tôi mượn chiếc xe đạp, loại xe đua, của con ông anh hai để đi tới đơn vị. Lúc quẹo phải, từ sân sau Cục TLC để sang phía đơn vị, nơi có chiếc cổng sắt khép hờ thì bất ngờ có một chiếc Honda của một quân nhân nào đó từ bên kia cổng vọt nhanh sang. Tôi bẻ lái tránh kịp nhưng do thắng không ăn, chiếc xe đạp đâm thẳng vào trụ xi măng của chiếc cổng ! Hậu quả : xe gẫy đôi nơi phần cổ dưới tay cầm. Tôi ngã chỏng gọng, nhưng may mắn không trầy sướt gì. Doanh trại lúc đó vắng teo, tôi không nhìn thấy ai ở ngoài ngoại trừ tay lái Honda. Hắn ngoái cổ nhìn tôi bằng một nụ cười cầu tài, không thiện cảm nỗi, rồi vọt xe chạy thẳng…

Sau giây phút hú vía vì tai nạn bất ngờ, nhìn quanh không thấy một bóng áo phe ta, tôi đâm rét, lật đật lôi hai phần gẫy lìa của chiếc xe, lếch thếch kéo về. Mệt ứ hơi mà dọc đường chẳng thấy có một tay sửa xe đạp lề đường nào như mọi ngày trước. Trực thăng thì cứ lạch tà lạch tạch trên đầu. Chẳng biết sắp diễn biến thêm chuyện gì ngoài chuyện biết chắc rằng ViXi đã áp sát Sài Gòn, tạo áp lực nặng ở nhiều nơi cửa ngỏ thành phố. Chẳng thế mà chiều qua và sáng nay, đã có một vài quả pháo rót vào một vài khu cư dân đông đúc bên Bà Chiểu, ở Khánh Hội, trên Tân Bình, phía Gò Vấp, miệt Phú Lâm… Ngay như khu vực Thị Nghè, sát trại Cửu Long, cũng lãnh hai ba trái cối 82 ly. Như vậy, rõ ràng tình hình đã dầu sôi lửa bỏng đến nơi !…

Khi tôi về đến nhà, không ai quan tâm hỏi han gì đến chiếc xe đạp tại sao cớ sự, lại đề nghị nên về gặp ông bà già lần chót, nhân tiện tiếp tế lương thực. Chả là, đêm qua tối 28, lao xao nhốn nháo cả khu trại Cửu Long lẫn cư dân bên ngoài, kéo nhau đi lấy thực phẩm. Cả một dãy nhà kho chứa lương thực, nằm dọc nhánh sông Sài Gòn, bên trong chân cầu khoảng vài trăm mét, không hiểu ai đã mở banh cửa sẵn. Vậy là bà con, dân có lính có, già trẻ lớn bé, hằng đoàn lũ lượt, ùn ùn kéo đến khu nhà kho lấy “đồ ăn” tự do.

Những nhà kho chứa lương thực và hằm bà lằng thứ này do Mỹ dựng lên theo kiểu nhà tiền chế lắp ghép, mỗi cái nó rộng dễ gì cũng cỡ bằng gần nửa cái sân đá banh. Còn lương thảo chứa bên trong thôi thì, không biết cơ man nào mà kể. Trong bao, trong bịch, trong hộp, trong chai, trong thùng gỗ, thùng nhựa, thùng cạc-tông…đầy ăm ắp, san sát nhau, chồng lên nhau.. Có chỗ chất cao lên gần đỉnh nóc. Nhưng tất cả đều là thực phẩm Mỹ. Có lẽ chẳng thiếu món gì !?… Người “hôi” đông như kiến cỏ. Mà núi kho thì tràn trề. Từ chập tối đến sáng mà các kho chẳng vơi đi bao nhiêu. Nhóm anh em tôi, tất nhiên không tránh khỏi không có mặt. Thấy người ta đi “đông vui” thì mình cũng hào hứng đi. Vả lại, nhờ thế thần kinh đỡ căng thẳng hơn là nằm trong nhà trằn trọc chờ đợi tình hình diễn biến bên ngoài. Chứ có ngủ nghê gì được khi đại bác chốc chốc lại vọng về, càng lúc càng gần. Một ông anh và thằng em cùng đứa cháu đi “lấy” mệt nhoài mới thôi. Còn tôi, do ốm yếu, chỉ đứng ngoài giữ hàng lấy được. Tuy nhiên, chỉ sau hai tiếng đồng hồ, căn nhà anh hai tôi đã trở thành một… nhà kho nhỏ. Mà dường như mấy nhà xung quanh tôi nhìn thấy được, cũng vậy !

Sau khi mang một mớ lương thực… Mỹ cho về nhà ông bà già, anh ba tôi, với chiếc vespa cà tàng, chở tôi đi một vòng thành phố xem tình hình. Trời sắp nhá nhem, thành phố đã lên đèn, nhưng toàn cảnh chung, có một vẻ gì u ám thê lương và nháo nhác hối hả đến hãi hùng. Một chiếc trực hăng đang chao lượn trên nóc tòa Đại sứ Mỹ nơi góc đường Thống Nhất và Mạc Đỉnh Chi. Bên dưới, nơi mặt tiền tòa nhà này, đông nghịt người xô đẩy, leo trèo, la hét.

Chiếc cổng thì lúc khép lúc hé mở để quân cảnh và TQLC Mỹ nai nịch, trang bị súng ống tận răng, soát giấy tờ, nhận diện cho người vào. Tôi còn nghe được cả tiếng khóc và chửi bới của những người dân thường bị xô lấn, thẳng tay gạt ra hay bị chèn đạp. Bức tranh thật khốn khổ, cùng cực. Chỉ vì không ai muốn mình phải sa cơ, ở lại ngộ lỡ khi Sài Gòn thất thủ. Ra đến bến Bạch Đằng, khung cảnh cũng chỉ là “toàn dân thành phố bỏ chạy”. Tôi thấy có mấy chiếc tàu còn neo ngoài xa, chưa di chuyển. Có cả chiếc tàu lớn hôm chở tôi từ Bình Tuy về Vũng Tàu. Tôi ngó thấy hầu hết trên các tàu đã đông nghẹt người. Nhà binh cùng thường dân lẫn lộn. Không hiểu bằng cách nào họ đã lên được vì lúc đó tôi không thấy có ghe thuyền nào vào rước người đưa ra. Mà trên bờ thì còn cả hằng ngàn người chen lấn, thét gào một cách vô vọng.

Anh ba tôi buột miệng : ”Mình quay về giục anh hai đi thôi. Không còn kịp nữa đâu !”.

…Lúc về đến nơi, cả nhà cũng đã sẵn sàng. Anh hai tôi còn rầy rà sao chúng tôi đi đâu lâu quá làm cả nhà phải chờ. Trời tối hẵn lúc anh em tôi xuống tàu ông anh, neo tận cùng trong doanh trại Cửu Long, nơi có thể nhìn rõ mồn một toàn cảnh bến Bạch Đằng. Có cả bà chị dâu kế của tôi và một đứa con trai. Còn một đứa lớn nữa đang học tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, chưa về kịp. Chắc kẹt.

Lúc xuống tàu tôi thấy trên tàu đã có lố nhố thủy thủ, lính của ông anh. Có cả gia đình một ông thiếu tá hải quân gồm vợ và ba bốn đứa con đến xin anh tôi, chỉ mới là thiếu úy già, cho xuống tàu. Anh tôi đồng ý nhưng yêu cầu ông ta tự cởi lon cất. Ông ta răn rắc làm theo. Có lẽ vị thiếu tá này hiểu, phải làm vậy để anh tôi dễ chỉ huy.

Sau khi cho tập họp thủy thủ ban lệnh lạc gì đó xong, ông anh kéo mấy anh em tôi đi chỉ chỗ nằm ngủ, ngay phía dưới, gần chỗ buồng lái, dặn dò một vài điều. Anh còn kín đáo đưa tôi một khẩu P 38, loại súng cá nhân của các pilot thường xử dụng, không rõ anh xoay từ trước ở đâu, và dặn : ”Em cất tự vệ. Tình thế hỗn quân hỗn quan, em là sĩ quan, phải đề phòng !”. Tôi nhận và giấu gọn khẩu súng trong túi áo field jacket sau khi nhìn chốt an toàn ở vị thế khóa, mặc dù bản tính chúa ghét súng ống tuy đã hơn sáu năm lính. Chỉ có tôi và thằng em ngả lưng nằm, còn mấy ông anh kéo nhau lên trên phòng lái. Tôi nhìn chiếc đồng hồ dạ quang trên tay, chỉ mới hơn 8 giờ tối.

Mới một lần trở người, ngó sang chiếc giường đối diện, loại giường sắt với một cạnh được tháp vào vách, còn cạnh kia có hai chân chống xuống, khi cần có thể giỡ lên, lật xếp vào vách để lối đi được rộng hơn, thấy thằng em đã ngái khò khò. Dân hải quân, quen đi tàu nên dễ ngủ. Mặc dù không khí trên tàu có một mùi là lạ khác trên đất liền, hít vào không phải dễ chịu. Chắc là mùi sắt, mùi dầu, mùi ẩm mốc lâu ngày của máy móc vật dụng không thường xuyên được làm vệ sinh, trộn lẫn vào nhau cũng nên.

Tôi nằm yên, cố dỗ giấc ngủ cho quên mọi việc, khá lâu mà chẳng được. Trên đầu giường, nơi hốc kẹt vách, thỉnh thoảng âm thanh tắc lưỡi khô khốc của một con thạch sùng vang lên nghe thật thảng thốt. Dường như con vật cũng đang muốn than vản giùm về cảnh ngộ hiện tại của những con người đang hiện diện quanh nó, mà gần nhất là tôi. Chuyện gì sẽ xảy đến cho thành phố trong đêm nay, cho mọi cư dân khắp nơi, trong đó có khu xóm nghèo với mái nhà song thân tôi, nếu như giặc thật sự tràn vào. Nam Vang đã lọt vào tay Khờ Me đỏ hung hãn khát máu từ giữa tháng tư. Điều này tôi biết nhờ các chương trình tin tức phát từ các đài nước ngoài. Đài trong nước chỉ nói thoáng qua, không mổ xẻ phân tích gì nhiều. Và ám ảnh về một cố đô Huế hồi năm Mậu Thân làm tôi liên tục rùng mình, lạnh sóng lưng. Chắc chắn không phải vì không gian lạnh lẽo lúc đó. Trái lại, tôi chỉ cảm nhận được từ không khí quanh mình một nồng độ nóng sốt, bức bách đến khó thở chứ không thấy chút gì lạnh lùng từ hiện trạng. Cảm giác này tự nhiên thôi. Vì cả thành phố với tất cả mọi nhịp tim và hơi thở đều đang bị đặt trước đầu ngọn bão táp lửa đạn chiến tranh đang áp sát, chực chờ giáng xuống. Tôi chợt nghĩ đến khẩu súng trong mình.

Có thể nào đã sắp đến lúc tôi phải xử dụng đến nó và chừa lại viên cuối cùng cho mình nếu như giặc chặn đường tàu thoát bằng hỏa lực áp đảo. Tôi không quên, chính trên chiếc tàu này trong nhiều năm trước nơi đài chỉ huy, viên thuyền phó cũ đã ngã gục tại chỗ, còn anh tôi bị thương nặng vì một quả B40 trong một vụ phục kích bất ngờ của ViXi tại một khúc hẹp nào đó trên sông Lòng Tàu. Vì tình cảm cưu mang, bà vợ đèo bòng thêm của anh hai tôi, cùng hai đứa con riêng nữa, chính là người vợ của tay thuyền phó đã bỏ mạng trong vụ bị phục kích đó. Còn căn nhà trong trại Cửu Long, cũng  chính là tổ ấm cũ của gia đình bà vợ hai này.

Trăn trở mãi vẫn không tài nào ngủ được, xem đồng hồ đã quá nửa đêm. Tôi lò dò chồm dậy mò lên phòng lái. Mấy ông anh cùng tay thuyền phó mới, kẻ đứng người ngồi, chùm nhum trong đó với những điếu thuốc đang cháy đỏ dỡ dang trong tay. Không nghe ai chuyện trò gì. Riêng anh tôi đang liên lạc về Bộ Tư lệnh qua chiếc máy điện đàm lắp ghép bên cạnh tay lái cùng một vài đồng hồ máy móc vận hành khác.

Những âm thanh rè rè liên tục phát ra mà tất cả đều nghe được. Anh tôi không liên lạc được ai. Mãi lâu lắm mới có tiếng người ò è vọng ra, nghe tiếng được tiếng mất. Nội dung bảo rằng anh ta không có thẩm quyền ban lệnh. Nếu vì cần thiết, anh tôi cứ giữ liên lạc. Bằng không, là tùy quyền… Anh tôi còn cố hỏi thêm danh tính cùng trách nhiệm của người đang điện đàm với mình, nhưng máy đột nhiên cúp ngay lúc đó !…

Anh ba tôi nóng ruột, là người duy nhất lên tiếng : ”Mình đi đi, anh !”. Tôi nhớ anh hai tôi buông ngay một câu cộc lốc trước khi rời buồng lái đi xuống, hướng về phòng nơi có bà vợ đang nằm, bỏ lại tất cả ngẩn ngơ, trong số có cả tay thuyền phó : “Mày để anh hai chỉ huy !”…

Trong giây phút mọi người bất động, tôi đảo mắt một vòng trên sông. Xa xa, tôi nhận thấy rõ ràng một vài tàu đã di chuyển, dù chậm rãi. Riêng con tàu lớn nhất có con số đầu là 5, cũng thấy đã nhúc nhích với đông nghịt người bên trên. Trong khoảnh khắc này tôi cảm thấy hết sức sốt ruột lẫn nôn nao trong lòng mà không biết làm sao. Con tàu mà tôi đang đứng cùng với mấy khuôn mặt hụt hẩng lo lắng bên cạnh, dù tạm có chút an toàn bảo đảm hơn trên đất liền, trăm lần hơn trong trại Cửu Long, ngàn lần hơn nơi xóm lao động bình dân của gia đình tôi. Nhưng máy móc nó vẫn còn im ắng, tàu chưa rẽ nước tiến lên được lấy một thước nào, thử hỏi làm sao cả thảy an tâm ? Mà không ai trong chúng tôi có thẩm quyền hành khiển gì con tàu lúc đó trừ ông thuyền trường, là anh hai tôi, đã bỏ đi !…

Tôi là người đầu tiên tiếp nối theo bước chân anh hai, trở về chỗ nằm cũ với tâm trạng : thôi thì cầm bằng cho con nước (hay vận nước?) mang đi…

Tờ mờ sáng, ông anh ba vào chỗ nằm lôi thằng em và tôi dậy. Trong cơn mệt mề tôi vẫn nghe rõ tiếng anh lầu bầu : ”Lên bờ mấy đứa. Không đi nữa !”. Tôi chưng hửng : ”Sao vậy?”. Tiếng anh ba tôi bực dọc, tức giận : ” Ảnh cũng lên luôn. Không đi đâu hết !”…

…Cái giá mà anh em tôi phải trả về chuyện đã lên tàu, mà là tàu nhà binh với ông anh lúc đó như là chủ nhân, có toàn quyên cho nhổ neo hay không, lại bỏ tàu  leo xuống, khá là đắt và nghiệt ngã !

oOo

Ngoài tôi, với tròn 7 năm cải tạo, trong đó có hơn nửa thời gian bị lưu đày ra các miền rừng núi thượng du Bắc Việt; còn anh hai tôi, chỉ ba năm thôi. Dù đủ điều kiện đi diện HO., nhưng do thần trí không còn bình thường lúc mới được phóng thích, toàn bộ giấy tờ tùy thân trong đó quan trọng nhất là giấy ra trại, đã quẳng mất ở xó xỉnh nào không tìm ra được, nên không thể làm hồ sơ.

Nhưng đau đớn hơn là cái chết của hai người thân thiết trong gia đình : Ông thiếu tá hải quân anh họ, sau năm năm cải tạo về, bị liệt một cánh tay và hóa điên hóa khùng; cuối cùng đi lang thang rồi chết bụi chết bờ, xác bó trong chiếu. Cũng còn may, công an xác minh được danh tính, địa chỉ nên cho gọi người nhà đến nhận xác về chôn. Đến thằng em trai hải quân lái tàu : do bực tức anh hai, nôn nóng vượt biên thiếu tính toán, nhưng cũng do xui xẻo, trong cơn say đã ngã xuống nước chết chìm tại bến Hàm Tử chỉ vài giờ trước khi ghe xuất phát vào năm 77.

Và cùng cực đau đớn hơn ! Thân phụ tôi, do lớp xót thương con chết, lớp buồn đau các con đi cải tạo không về, lại còn đi kinh tề mới, nhà cửa phải bán hết, gia đình ly tán; lại thêm tuổi già chồng chất… Ông đã bỏ về quê cũ thời thơ ấu của mình là Long Điền Bà Rịa, sau đó tiếp tục lang thang rồi thất tung ! Không biết ông nằm xuống ở chốn nào. Hằng năm, anh em tôi chọn ngày cuối cùng của tháng bảy Ta để làm giỗ cha già.

Còn về hai người anh lớn của tôi, sau này, họ hay cùng ngồi với nhau uống rượu. Mỗi lần rượu vào một ít là anh ba chửi rủa anh hai tôi tơi tả. Cho rằng ảnh là thủ phạm chính của mọi cớ sự xảy tới cho gia đình. Mỗi lần như vậy, anh hai tôi chỉ biết ực từng ngụm rượu và im thin thít, chẳng tự biện hộ điều gì. Có lẽ ảnh chịu nhận phần lỗi về quyết định thiếu sáng suốt của mình trong đêm cuối cùng u tối, trước ngày Sài Gòn mất : bỏ tàu, ở lại với thành phố ! …

Nhưng. Không phải anh hai tôi không có lý do của riêng mình. Ảnh và bà vợ, có ý nấn ná ở lại cốt để chờ  thằng con trai, vì quá thương nó, một thiếu sinh quân học ở Vũng Tàu, đang cùng những đồng đội thiếu niên của nó, dũng cảm chiến đấu bảo vệ ngôi trường đó, nên chưa về kịp với gia đình…

…Và mệnh lệnh của ngài Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội sáng 30 Tháng Tư đã biến quyết định của anh tôi trở thành sai lầm, dại dột… Còn hơn thế nữa, ngu xuẩn !

Nên riêng tôi, mãi đến bây giờ, từ thâm tâm, tôi vẫn không hề có khi nào oán trách anh hai mình…

Hồ Hoàng Hạ (Hoàng Hôn Huấn – Lê Hữu Ân)

Logo TG tam linh

ĐI THĂM… CÕI CHẾT

“Lên taxi một lát thì tôi chẳng biết gì nữa. Khi mở mắt ra thì thấy dây dợ đầy mặt. Tôi nghe có tiếng nói, ông sống rồi đó. Nhiều phóng viên đã có mặt và chụp hình tôi. Tôi mất hai tuần không trở được người vì lồng ngực đau ê ẩm, sau này mới biết, đó là do bị sốc tim liên tục lúc tôi chết lâm sàng”, ông Trương Văn Dục kể lại câu chuyện được bác sĩ một bệnh viện ở Đà Nẵng cứu sống sau khi chết lâm sàng 15 phút ngoài bệnh viện vì nhồi máu cơ tim.

15 phút ngưng thở

Tháng 12/2011, từ Sài Gòn, ông Dục (sinh năm 1958) chạy xe máy về tận Đà Nẵng để lo đám hỏi cho con gái út, là nhân viên chăm sóc khách hàng tại bệnh viện. Việc nhà vừa xong, ngày chủ nhật 25/12, sau khi ăn tối tại nhà bạn, cả hai đang ngồi trước hiên nhà uống nước, ông bị một cơn đau nhói ở ngực. Bạn ông biết đôi chút về bệnh tim nên gọi cho Ngọc, con gái ông Dục đến đưa đi viện khám.

“Lên taxi ba tôi kêu ngực nóng và tức, khoảng 10 phút sau, ba nấc lên và ngưng thở, chân tay đờ ra và mắt trợn lên. Tôi cuống lên, vừa gọi điện đến bệnh viện nhờ chuẩn bị phòng cấp cứu, vừa giục taxi chạy nhanh. Hơn 15 phút sau taxi mới đến được bệnh viện vì người lái xe không biết đường tắt, mà tôi thì rối trí nên quên chỉ đường”, Ngọc kể.

Ông Dục được đưa đến bệnh viện trong tình trạng co quắp vì đã ngưng thở trên taxi hơn 15 phút. Khi được đưa vào phòng cấp cứu, trong 15 phút đầu, các bác sĩ không bắt được mạch cho bệnh nhân. Êkíp trực tiêm rất nhiều thuốc hồi dương và làm các biện pháp sốc tim, bóp tim nhưng không có dấu hiệu của sự sống, đồng tử mắt đã giãn. Sau 30 phút ông Dục nằm trong phòng cấp cứu, bác sĩ trực cấp cứu báo gia đình chuẩn bị hậu sự.

“Tôi không nhớ chi tiết, chỉ biết một chị tham gia ca cấp cứu nói với tôi, các bác sĩ đã tiêm cho ba tôi rất nhiều ống adrenalin, nhiều trên mức bình thường. Họ cũng làm sốc tim liên tục, nhưng chẳng có dấu hiệu gì. Tôi chỉ biết khóc”, Ngọc kể lại.

“Phước chủ may thầy”

BS Long, giám đốc bệnh viện kể về cuộc chạy đua cứu sống ông Dục chiều ngày Noel 2011 : “Khi anh em gọi điện cho tôi, tôi ở ngoài bệnh viện vì là chủ nhật, được nghỉ. Đây là người nhà của một nhân viên bệnh viện, thêm vào đó, ông đã chết ngoài bệnh viện nên anh em gọi điện hỏi ý kiến tôi. Tôi đến bệnh viện và kiểm tra.

Dù thấy mạch không đập, đồng tử mắt đã giãn, tôi cảm nhận dường như mắt có phản ứng, nên tôi đoán có thể đồng tử giãn do tác dụng của một số thuốc hồi dương. Vì thế tôi để anh em tiếp tục làm các thao tác cấp cứu. Khoảng 45 phút sau thì nhịp tim và mạch xuất hiện trở lại”.

Sau khi tim của ông Dục đập lại, các bác sĩ chẩn đoán ông Dục bị tắc hoàn toàn động mạch liên thất trước (một động mạch chính cung cấp máu cho tim) dẫn đến nhồi máu cơ tim cấp. Sáng hôm sau, ông Dục được đưa vào phòng can thiệp mạch vành và đặt stent để tái lưu thông mạch máu.

“Thông thường, các bệnh nhân đặt stent sau 24 – 48 giờ là có thể xuất viện, nhưng ông Dục, khi đưa vào viện thì thận và gan đã bị tổn thương do tình trạng thiếu máu, vì thế phải chạy thận nhân tạo. Cũng may, ông không có tiền sử về bệnh tật nên tám ngày sau thì hồi phục gần như hoàn toàn”, BS Long cho hay.

Theo BS Long, khi thấy đau thắt ngực, nặng ngực và cảm giác mệt – thì đó là dấu hiệu của cơn đau nhồi máu cơ tim, bệnh nhân phải được đưa thẳng đến những bệnh viện có chuyên ngành, tránh đưa đến các cơ sở y tế không chuyên rồi chuyển từ nơi này đến nơi khác. Những nguyên nhân dẫn đến nhồi máu cơ tim thường là do căng thẳng, mệt mỏi, lo lắng, suy nhược, lao tâm lao lực, và những tình trạng khiến sức đề kháng giảm. Nên kiểm tra chuyên khoa tim mạch mỗi quý một lần, nhất là với người trên 50 tuổi.

BS Long cho rằng ông Dục được cứu do ba cái may : thứ nhất bản thân ông Dục không có tiền sử về bệnh tật, thể lực sung mãn. Thứ hai, ông được đưa đến bệnh viện kịp thời, trong thời gian vàng thông tim, để làm thao tác thông tim và đặt ống stent. Thứ ba, vì con ông Dục là nhân viên bệnh viện, nên người nhà bệnh nhân có sự đồng thuận trong chữa trị với các bác sĩ, dù biết mức độ thành công chỉ chiếm 1 – 2%.

“Theo tôi nghĩ, thời gian mạch ngưng đập có thể không dài đến 15 phút. Hoặc trong thực tế khi các bác sĩ làm thao tác xoa bóp, sốc tim thì máu có thể vẫn được đẩy lên não. Vì về mặt khoa học, nếu tim ngưng hoạt động 15 phút thì rất khó cứu do khi đó não đã chết rồi. Mà não chết thì không cứu được”, BS Long nhận định.

Ông Dục cho biết, đây không phải lần đầu ông chết hụt, nhưng là lần đầu tiên ông trải nghiệm cái chết một cách rõ nhất. “Nó giống như đi vào một giấc ngủ. Con người đúng là sống nay chết mai. Nhưng qua cơn thập tử nhất sinh, chết đi sống lại mới thấy có gia đình, vợ con hay người thân ở cạnh là điều vô cùng quý giá. Vợ chồng tôi ly hôn. Nhiều năm qua, tôi sống một thân một mình, lang bạt mọi nơi, cả năm mới về nhà một lần. Chẳng mấy quan tâm đến ốm đau bệnh tật. Vừa rồi, nếu không nhờ con, chắc tôi đã chết rồi. Giờ chỉ mong có cơ hội sống trong một mái gia đình, cùng với vợ con rồi sau này có cháu chắt. Tôi không mong muốn gì hơn là có người thân bên cạnh”, ông đăm chiêu. (theo Kim Dung)

Xuân Mai tổng hợp