CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (14)

BIẾT TRƯỚC VẬN MỆNH,

CÁC DANH NHÂN XƯA

ĐÃ LÀM GÌ THAY ĐỔI VẬN SÓ ?

Trong lịch sử Việt Nam và Trung Hoa, có nhiều vị tướng kỳ tài có khả năng tri mệnh (biết trước được vận mệnh) như Trần Nguyên Đán và Gia Cát Lượng. Dù có tài năng như vậy, nhưng họ có thể làm gì để thay đổi vận mệnh theo ý mình ?

1/- Trần Nguyên Đán làm gì cứu nhà Trần và cháu ngoại là Nguyễn Trãi ?

Cuối đời nhà Trần, Hồ Quý Ly được thăng quan tiến chức rất nhanh, nổi lên là một quyền thần trụ cột, thao túng triều chính. Theo lịch sử thì hai bà cô ruột của Hồ Quý Ly (cũng là hai chị em ruột) đều là Hoàng phi của vua Trần Minh Tông. Bà Minh Từ sinh ra vua Trần Hiến Tông và vua Trần Nghệ Tông, còn bà Đôn Từ thì sinh ra vua Trần Duệ Tông. Sau, con gái của Hồ Quý Ly lại là Hoàng hậu của vua Trần Thuận Tông. Em gái họ của Hồ Qúy Ly lấy Trần Duệ Tông, sinh ra Trần Phế Đế.

Dựa vào mối quan hệ hôn nhân phức tạp này, Hồ Qúy Ly thao túng nhà Trần, nhiều tôn thất nhà Trần biết đây là mối họa lớn nhưng không sao diệt trừ được. Trụ cột của nhà Trần lúc đó là quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán xem lá số tử vi Thái Thượng Hoàng Nghệ Tôn thấy có Vũ Phá thủ mệnh, coi người thân như cừu thù, coi kẻ ác như ruột gan chắc chắn sẽ nghe Hồ Quý Ly; lại thấy Quý Ly có Tử Phá thủ mệnh, biết y sẽ cướp ngôi, và nhà Trần mất.

Biết trước được điều này, Trần Nguyên Đán đã làm gì để thay đổi vận mệnh cho nhà Trần ? Ông đã hết lòng khuyên can Thượng Hoàng, nhưng những lời lẽ ruột gan của ông không được Thượng Hoàng nghe theo. Khi Thượng Hoàng Nghệ Tôn gả công chúa cho Hồ Quý Ly, thì Trần Nguyên Đán hết sức khuyên can, ông còn làm bài thơ “Thập cầm” (Mười giống chim) cảnh tỉnh Thượng Hoàng hãy cảnh giác với “con quạ già hiểm độc” (chỉ Hồ Quý Ly). Trong bài thơ có câu:

Nhân ngôn ký gửi dữ lão nha

Bất thức lão nha liên ái phầu

Tạm dịch là:

Gửi con cho lão quạ già

Biết là lão quạ thương là mấy thương

Cảnh tỉnh Thượng Hoàng không được, ông biết vận mệnh nhà Trần đã hết, ông quyết định về Côn Sơn (Hải Dương) dạy học. Trước khi đi ông kết thân với Hồ Quý Ly, giao các con mình Mộng Dữ, Thúc Giao và Thúc Quỳnh cho Hồ Quý Ly.

Đáp lại, Hồ Quý Ly cũng đem con gái là Hoàng Trung gả cho Mộng Dữ và cho Mộng Dữ làm chức Đông cung phán thủ.Thúc Giao và Thúc Quỳnh đều được làm Tướng quân.

Chính vì thế mà cho đến tận ngày nay, nhiều người chê trách Trần Nguyên Đán về việc này, nhiều người gia tộc họ Trần xem hành động này của ông là phản bội là nhà Trần.

Thực ra cũng không thể trách Trần Nguyên Đán được, ông đã biết trước tương lai và đã làm tất cả những gì có thể làm được, nhưng ông cũng biết rằng đã là vận mệnh thì sức người không thể thay đổi, dù biết trước cả nhưng không thay đổi được, nên đành thuận thiên mà hành động thội. Việc ông kết thân với Hồ Quý Ly là nhằm bảo vệ gia tộc họ của mình khỏi bị tận diệt khi Hồ Quý Ly cướp ngôi.

Đúng như dự đoán của Trần Nguyên Đán, năm 1399 Hồ Quý Ly cho thanh trừng 370 tướng lĩnh tôn thất nhà Trần, dẹp tan thế lực nhà Trần, năm 1400 thì lên ngôi Vua.

Tuy nhiên gia đình Trần Nguyên Đán thì không hề bị Hồ Quý Ly đụng đến, nhờ thế cháu nội và cháu ngoại của ông là Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi mới có điều kiện ăn học thành tài, sau này đều là anh hùng dân tộc.

Trần Nguyên Đán khi xem lá số của Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi biết 2 cháu mình sau này sẽ thành nghiệp lớn. Với Trần Nguyên Hãn thì ông không lo lắng lắm, nhưng ông lại rất lo cho Nguyễn Trãi vì đứa cháu ngoại này có số bị chết cả 3 họ, ông chỉ có thể dặn dò Nguyễn Trãi rằng “chiếm thành thì lui binh”.

Quả nhiên sau này hai người cháu của ông đều là trụ cột hàng đầu cho nghĩa quân Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn thuộc dòng quan võ, làm đến Thái Úy chỉ huy toàn bộ các tướng lĩnh. Đặc biệt Nguyễn Trãi là người hoạch định và ra toàn bộ các kế sách giúp quân Lam Sơn đánh đuổi quân Minh là giành lại được giang sơn đất nước.

Khi chiến thắng quân Minh, nhớ lại lời ông ngoại của mình từng dặn dò kỹ “chiếm thành thì lui binh”, Nguyễn Trãi bèn xin về Côn Sơn ở ẩn. Thế nhưng vận mệnh khó tránh, ông vẫn bị bắt ra làm quan. Vì làm quan thanh liêm chính trực, Nguyễn Trãi bị các đại thần ghen ghét vu cho ông tội giết Vua trong vụ án“Lệ chi viên” khiến ông bị tru di tam tộc.

Lời dự đoán ngày nào của Trần Nguyên Đán đã ứng nghiệm, ông dù biết rất rõ, đã căn dặn Nguyễn Trãi cẩn thận, Nguyễn Trãi cũng đã làm theo, nhưng quả nhiên mệnh trời khó tránh.

Cũng như Nguyễn Trãi, sau khi đánh thắng quân Minh, Trần Nguyên Hãn xin về quê ở ẩn, thế nhưng nhiều kẻ ghen ghét nói ông có khả năng mưu phản, vua Lê Lợi sai người đến đưa ông về kinh thành chịu tội.

Theo lịch sử thì trên đường về kinh thành, khi đến bến Đông Hồ trên dòng sông Lô. Trước khi chết, Trần Nguyên Hãn nói: “Tôi với hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân, nay sự nghiệp lớn đã thành, hoàng thượng nghe lời gièm mà hại tôi. Hoàng thiên có biết xin soi xét cho”.Nói rồi ông trầm mình xuống sông tự vẫn.

Thế nhưng theo dòng tộc họ Trần truyền lại thì khi đến giữa sông, Trần Nguyễn Hãn đã giết mấy tên sai nha, tự làm đắm thuyền giống như mình đã tự vẫn, rồi bơi trở vào bờ.

Còn theo dân gian thì khi thuyền đến xã Đông Sơn, ông ngửa mặt khấn trời rằng: “Tôi với Vua cùng mưu việc cứu dân. Việc lớn đã hoàn tất mà Vua lại muốn giết tôi.Hoàng Thiên có biết thì xin soi xét cho”.

Ông vừa khấn xong thì bỗng nhiên gió lớn nổi lên, lật úp cả thuyền xuống.Bốn mươi hai xá nhân đều chết đuối cả, riêng ông cùng hai gia đồng lại trôi dạt được vào bờ và thoát chết.

Lời tiên đoán của Trần Nguyên Đán về Trần Nguyên Hãn cũng lại ứng nghiệm, ông đã thấy trước nạn của Trần Nguyên Hãn nhưng lại không lo lắm, mà chỉ lo cho Nguyễn Trãi.

2/- Chuyện tương lai hung kiết Gia Cát Lượng đều hiểu rõ, ông đã làm gì ?

Gia Cát Lượng là bậc quân sư kỳ tài thời hậu Hán, tài năng và của ông đều còn lưu truyền đến ngày nay.

Về chuyện Tam quốc, đến nay rất nhiều người lấy làm tiếc vì nhà Thục không thống nhất được thiên hạ. Nhiều người tiếc nuối, giá như không có cơn mưa lớn ở hang Thương Phương cứu cha con Tư Mã Ý cùng đại quân Ngụy; nếu như khi Gia Cát Lượng đánh bại quân Tư Mã Ý chuẩn bị tiến đến kinh thành nước Ngụy, Thục Chủ là Lưu Thiện đừng nghe lời xàm tấu bắt gọi Gia Cát Lượng kéo quân về nửa chừng thì mọi nguyện đã khác. Thế nhưng thực hư chuyện này là do dâu ?

Khi Lưu Bị lên lều cỏ tìm Gia Cát Lượng giúp mình, Gia Cát Lượng nhận thấy vận mệnh nhà Hán đã hết, nhưng trước sự kiên nhẫn của Lưu Bị, ông quyết định giúp Lưu Bị. Sáu lần xuất binh ra Kỳ Sơn phạt Ngụy, trên đường hành quân trên xe ngựa ông đã viết “Mã tiền khóa” dự đoán tương lai hàng trăm năm sau.

Mở đầu “Mã tiền khóa”, Gia Cát Lượng đã viết trong khóa thứ nhất rằng :

Vô lực hồi thiên

Cúc cung tận tụy

Âm cư Dương phất

Bát thiên nữ quỷ

Tạm dịch là:

Không sức đổi Trời

Còng mình gắng sức

Âm tồn Dương phất

Tám ngàn nữ quỷ

“Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là nói bản thân Gia Cát Lượng, như ông viết trong “Xuất sư biểu”: “Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”. “Âm cư Dương phất” chỉ hoạn quan Hoàng Hạo loạn quyền, Khương Duy chỉ có thể duy trì tàn cục chứ không thể làm gì được. Câu cuối “Bát thiên nữ quỷ”: Chữ “Bát” (八) thêm chữ “thiên” (千) thêm chữ “nữ” (女) rồi thêm chữ “quỷ” (鬼), hợp thành một chữ “Ngụy” (魏) ý nói nhà Ngụy sẽ thống nhất thiên hạ.

Gia Cát Lượng dù khi ấy đang trên đường hành quân đánh Ngụy, nhưng ông đã biết trước rằng nhà Ngụy rồi sẽ thống nhất thiên hạ, bản thân ông dù biết trước cũng “không sức đổi trời”, chỉ có thể “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi”.

Khóa thứ hai trong “Mã tiền khóa” cho thấy ông biết trước kết thúc tam quốc phân tranh, nhà Tấn sẽ lên ngôi

Hỏa thượng hữu hỏa

Quang chúc Trung Thổ

Xưng danh bất chính

Giang Đông hữu hổ

Tạm dịch là:

Trên lửa có lửa

Rọi sáng Trung Thổ

Xưng danh bất chính

Giang Đông có hổ

“Hỏa thượng hữu hỏa”, trên “hỏa” (火) có “hỏa” (火) tức hai chữ hỏa trên dưới tạo thành chữ “Viêm” (炎).Chỉ Tư Mã Viêm lập nên triều Tấn.

“Xưng danh bất chính” chỉ triều Tấn của Tư Mã Viêm thực chất là soán ngôi Tào Ngụy mà kiến lập, mà Tào Ngụy lại là soán ngôi triều Hán mà kiến lập, danh không chính ngôn không thuận.

“Giang Đông hữu hổ” chỉ Đông Tấn thành lập, đóng đô tại Kiến Khang thuộc Giang Đông.

Chính vì “Không sức đổi trời” nên khi Gia Cát Lượng lừa cha con Tư Mã Ý cùng đại quân nước Ngụy đến hang Thượng Phương, quân Thục dùng hỏa quân thiêu quân Ngụy. Không còn đường thoát, cha con Tư Mã Ý ngửa mặt lên trời gào khóc chờ chết, đột nhiên một cơn mưa lớn đổ ập xuống cứu thoát nước Ngụy.

Kỳ sơn tháng 9 không bao giờ có mưa, nhưng trời lại mưa một lần duy nhất, và đó chính là cơn mưa cứu nước Ngụy. Điều đó thể hiện rằng ngọn lửa tài năng nhiệt huyết của con người không thể nào thắng được cơn mưa của trời.

Cảm thán trước sự việc này “Tam quốc diễn nghĩa” đã có thơ rằng:

Cửa hang gió cát với mây bay

Mưa xối mây đen kéo lại đây

Võ Hầu kế diệu ví thành đạt

Tấn triều sao chiếm núi sông này?

(Võ Hầu tức chỉ Gia Cát Lượng)

Nước Thục phía sau được bao bọc bởi núi Âm Bình hiểm trở không thể vượt qua, thế nhưng Gia Cát lượng cũng biết trước nhà Thục sẽ mất ở chính đường qua núi Âm Bình này, chính vì thế ông luôn báo trước cho các tướng việc này, đồng thời căn dặn khi nào cũng phải có quân túc trực phòng bị trên núi.

Thế nhưng “người tính không bằng trời tính”, sau khi Gia Cát Lượng mất, các tướng nhà Thục nhận thấy đường qua núi Âm Bình vô cùng hiểm trở, không thể đi đường này mà đánh nước Thục được nên bỏ qua, không cho quân canh giữ nữa.

Khi quân Ngụy tiến đánh nhà Thục, cánh quân Chung Hội tiến đánh phía trước, Khương Duy đưa toàn quân ra phía trước chặn Chung Hội, phía sau là núi Âm Bình hiểm trở không có ai canh giữ.

Đặng Ngải dẫn một cánh quân Ngụy theo đường núi này, liều chết qua núi, qua được ngọn núi này thì quân sĩ chết gần hết, chỉ còn 500 quân tiến vào kinh đô nhà Thục. Quân chủ lực nhà Thục không còn để chống lại, Thục Chủ đầu hàng, nhà Thục mất. Lời tiên đoán của Gia Cát Lượng đã ứng nghiệm, ông đã biết trước tất cả nhưng chỉ có thể làm được vậy, không thể thay đổi ý trời được.

Nhiều danh nhân trước đây đều có khả năng tri thiên mệnh, họ thành đại nghiệp là nhờ ‘thuận thiên’ mà làm, tức thuận theo số mệnh mà làm chứ không phải thay đổi số mệnh

Vào cuối thời nhà Tần, nhiều người lập cát cứ nổi lên chống Tần, Lưu Bang lúc đó không phải là thế lực mạnh nhất, nhưng Trương Lương biết rõ Lưu Bang có chân mạng Đế Vương nên đi theo phò tá. Kết quả Lưu Bang dù yếu thế hơn Sở Bá Vương Hạng Võ nhưng vẫn giành thắng lợi, lên ngôi Hoàng Đế.

Nhiều người nói rằng Lưu Bang lên ngôi là nhờ có quân sư Trương Lương phò giúp, nhưng giả sử như Trương Lương theo giúp người khác thì sẽ không thành được, vì người khác không có chân mạng Đế Vương.

Nhà tiên tri thiên tài là Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh vào thời loạn lạc, khi làm quan cho nhà Mạc, thấy nhiều quan lại cường quyền bức hại dân chúng, ông đã làm sớ dâng vua xin trị tội 18 kẻ nịnh thần, chém đầu làm gương. Thế nhưng nhà Vua chỉ mải thú vui bên các lời xu nịnh mà không nghe lời ông. Ông biết nhà Mạc đã mạt, thời thế loạn lạc, không có ai đáng để theo phò giúp nên về quê ở ẩn.

Người xưa đã đúc kết lại rằng: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, mệnh trời khó cãi”. (theo Trần Hưng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CÁI CHẾT BI THẢM CỦA

TÔ ĐÁT KỶ

Mổ bụng xem thai, chặt chân xem xương, moi tim coi có 7 ngăn…

Nhắc đến mỹ nhân Trung Quốc, mọi người đều nhớ đến “Tứ đại mỹ nhân” như biểu tượng của cái đẹp. Thế nhưng ít ai biết rằng, xinh đẹp không thua kém “Tứ đại mỹ nhân” còn có “Tứ đại yêu cơ” – bốn yêu nữ biến thành mỹ nhân làm thay đổi lịch sử : Đát Kỷ, Muội Hỷ, Ly Cơ, Bao Tự. Tuy nhiên, vì là yêu nữ gây nhiều tội ác nên họ không được người đời ca tụng giống như “Tứ đại mỹ nhân”!

Đát Kỷ là yêu nữ xinh đẹp nổi tiếng nhất trong “tứ đại yêu cơ”, đã trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao bộ phim điện ảnh Trung Hoa. Tương truyền Đát Kỷ là nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng được người đời thêu dệt thành một nhân vật yêu ma đầy bí ẩn.

Nhiệm vụ của Hồ ly tinh

Câu chuyện xảy ra vào đời Thương. Lần ấy Trụ Vương đi miếu Nữ Oa, vì quá mê mẩn trước sắc đẹp của bà mà đã nói những lời bất kính. Nữ Oa nổi giận, bèn phái Hồ ly tinh mê hoặc Trụ Vương, giúp Chu Vũ Vương phạt Trụ cứu dân.

Khi đó, con gái của Ký Châu Hồng Tô Hộ, tên Tô Đát Kỷ xinh đẹp mỹ miều, được mệnh danh “Hồng nhan họa thủy”, không thua kém gì Tứ đại mỹ nhân. Trong “Phong thần diễn nghĩa” còn ghi lại, Đát kỷ đàn ca khiêu vũ hết sức giỏi giang; 16 tuổi, tựa bông hoa rực rỡ đẹp tuyệt trần, mắt nàng long lanh như sương mai, nước da hồng hào, mũi cao thẳng, miệng hoa nhỏ, đôi môi thắm, dáng đi uyển chuyển, giọng nói trong trẻo… Biết Tô Đát kỷ là người được đem dâng cho Trụ Vương, Hồ ly tinh bèn giết chết Đát Kỷ, rồi nhập vào xác của cô, mê hoặc Trụ Vương.

Đát Kỷ – Trụ Vương

Kể từ ngày có Đát Kỷ, Trụ Vương càng đam mê tửu sắc. Để lấy lòng mỹ nhân, Trụ Vương đã làm vô số điều thất đức, hại dân, hại quân thần trung tín, gây nên sự sụp đổ tất yêu của nhà Thương.

Tương truyền, trong cung Trụ có 1 nơi dành riêng cho thú vui của vua Trụ. Vua Trụ, Đát Kỷ cùng các mỹ nhân thường xuyên vui chơi truy lạc tại đây. Họ ra lệnh dùng roi đánh khắp người các con vật thật đau, để hằn lên vết đỏ, rướm máu, rồi mang nướng lên để thưởng thức, đem thịt treo thành rừng, gọi là nhục lâm. Nơi này được thiết kế với những hồ nhỏ, vua Trụ cho đổ rượu vào đầy hồ, gọi là tửu trì, rồi cùng Đắc Kỷ và các mỹ nhân xuống tắm rượu.

Có lần Đát Kỷ bất hòa với thân thuộc của vua là Tỷ Can, bắt ông này phải moi tim ra. Một vị quan giỏi xem tinh tượng, bói toán cũng vì bất hòa mà bị bà cho cột lưng vào cột nung đỏ, cháy cả lưng. Trụ Vương còn cho xây cung “Lộc Đài” vuông mỗi bên 3 dặm, cao ngàn thước, quy mô lớn chưa từng thấy, phải dùng đến hàng vạn thợ xây, xây 7 năm mới xong.

“Bào lạc” lại là 1 phát minh của Đát Kỷ, Trụ Vương. Đó là 1 ống đồng dài, khi sử dụng mang ống đồng nhét đầy than đỏ bắc ngang qua hố lửa, bắt tội nhân cởi hết quần áo giày dép ra và chạy từ đầu này sang đầu kia của ống đồng. Quan thần trong triều bấy giờ bị tàn sát vô tội vạ…

Sự hiếu kỳ của Tô Đát Kỷ

Những câu chuyện về Đát Kỷ nhiều vô kể, nhưng có lẽ câu chuyện làm người đời “rùng mình” nhất chính về sự hiếu kỳ của nàng. Sự hiếu kỳ của một mỹ nhân đã thật đáng sợ, sự hiếu kỳ của một hồ ly tinh lại càng khiến người ta khiếp đản!

Chuyện kể rằng, một lần trụ Vương cùng Đát Kỷ đi dạo, thấy cảnh một cụ già và một em bé đi trong mưa tuyết, cụ già thì khỏe mạnh, còn em bé run rẩy vì lạnh. Tô Đát Kỷ cảm thấy thật hiếu kỳ. Không lẽ cụ già sinh ra lúc cha mẹ còn trẻ nên ống chân có tủy, đứa trẻ kia sinh ra lúc cha mẹ già yếu nên ống chân không có tủy  Nghĩ vậy, Đát Kỷ bèn sai người chặt chân cụ già và em bé ra xem rồi cười ha hả!

Lại có một lần, Tô Đát Kỷ cùng các cung nữ ra ngoài ngắm cảnh, thấy môt người phụ nữ mang thai đi qua. Tô Đát Kỷ thầm nghĩ : Thật là kỳ quái, tại sao đứa trẻ lại có thể lớn lên trong bụng như vậy ? Nghĩ vậy bèn sai quân lính mổ bụng người mẹ ra xem. Sự hiếu kỳ của Tô Đát Kỷ một lúc đã cướp đi sinh mạng hai mẹ con !

Trong triều có Tỷ Can là vị đại thần vô cùng giỏi giang, học vấn uyên thâm, là một trụ cột của nước Thương lúc bấy giờ. Tô Đát Kỷ cảm thấy vô cùng kỳ lạ, ông ta học nhiều như vậy, kiến thức cất ở đâu cho hết ? Lại nghe câu “Thánh nhân chi tâm hữu thất khiếu” (Trái tim người tài có bảy ngăn). Đát Kỷ bèn hạ lệnh moi tim ông ra để xem liệu tim Tỷ Can thật có bảy ngăn hay không !

Kết cục của Tô Đát Kỷ

Về sau, Chu Vũ Vương được sự phò tá của Khương Tử Nha đã đánh đổ nhà Thương. Trụ Vương mất nước bèn mặc áo dát ngọc leo lên “Lộc Đài” tự châm lửa thiêu. Đát Kỷ cũng tự thắt cổ chết.

Cũng kể từ đó, trong dân gian “Đát Kỷ” trở thành thành ngữ nói về sắc đẹp của “hồ ly tinh”, hay những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội nam nhân có quyền lực, từ đó dẫn đến những việc làm vô đạo.

Xuân Mai chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (13)

NỮ TRẠNG NGUYÊN DUY NHẤT

TRONG SỬ VIỆT

Thời xưa “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được xem là việc của đàn ông, vì thế mà cảnh đèn sách đi thi của các sĩ tử thì tuyệt chỉ có nam giới, không hề có bóng nữ nhi nào. Chính vì thế nếu có bậc nữ nhi nào thông tỏ Tứ thư Ngũ kinh, có chí dùi mài kinh sử thì chỉ có nước đóng giả nam mới có cơ hội lọt vào trường thi.

Lịch sử Việt Nam cũng đã từng có một bậc nhi nữ phải cải trang thành nam để thi tài, kết quả đã vượt qua tất cả các sĩ tử khác đứng đầu khoa thi.

Nữ trạng nguyên duy nhất sử Việt

Nguyễn Thị Duệ sinh ngày 14/3/1574 ở Kiệt Đặc, nay là phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ bà có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn. Tương truyền rằng khi lên 4 tuổi bà đã biết viết chữ, đọc văn thơ, nức tiếng gần xa.

Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện rằng, thuở nhỏ, khi bị một cậu ấm trong vùng đến chọc ghẹo, bà đã làm hai câu thơ như sau:

Xá chi vàng đá hỗn hào

Thoảng đem cánh phượng bay cao thạch thành.

Năm 10 tuổi, Nguyễn Thị Duệ đã nổi tiếng là vừa đẹp người, lại đẹp nết, khiến nhiều gia đình quyền quý đến xin cưới hỏi, nhưng gia đình bà đều không ưng thuận. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì “bà thông minh hơn người, học rộng hay chữ, hơn 10 tuổi giả trai, theo thầy học tập”.

Cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, cuộc chiến Trịnh – Mạc nổ ra. Năm 1592, Trịnh Tùng đưa quân tiến đánh Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, chính là gần với quê hương của Nguyễn Thị Duệ. Trận này Mạc Mậu Hợp thất thế và bị bắt, vùng đất Hải Dương bị chiến tranh tàn phá, nhiều người chết. Để tìm đường sống, nhiều người dân trong vùng theo chân nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, gia đình Nguyễn Thị Duệ cũng nằm trong số đó.

Tại Cao Bằng, bà tìm học người thầy họ Cao. Khi nhà Mạc mở khoa thi năm 1594, dù có phần sa sút so với trước kia nhưng vẫn có nhiều sĩ tử các nơi đăng ký tham gia. Nguyễn Thị Duệ cùng người thầy của mình cũng đăng ký.

Nguyễn Thị Duệ năm ấy 20 tuổi, cải trang nam nhi mang tên là Nguyễn Du, vượt vào trường thi. Kết quả bất ngờ là bà đã đứng đầu cuộc thi này, còn thầy của bà đứng thứ hai. Sau cuộc thi, người thầy cảm động nói với bà rằng : “Màu xanh từ màu lam mà ra, ấy vậy mà lại đẹp hơn màu lam”. Hiền tài khiến vua chúa triều nào cũng mến phục

Đến buổi yến tiệc dành cho các sĩ tử, nhiều ánh mắt đổ về người đỗ đầu với sự ngưỡng mộ. Vua Mạc Kính Cung thấy chàng trai đỗ đầu này dáng người mảnh mai, nét mặt thanh tú, bèn tìm cách dò hỏi mà biết rõ mọi chuyện của Nguyễn Thị Duệ. Thế nhưng khi biết thân thế thật sự của bà, vua Mạc không trách cứ mà còn khen ngợi.

Nguyễn Thị Duệ được mời vào cung để làm thầy dạy cho các phi tần của vua, ban hiệu là “Lễ nghi cố vấn”, rồi sau đó được tuyển làm Tinh phi. Vì thế người đời quen gọi bà là “bà chúa Sao”.

Năm 1625, quân Trịnh tiến đánh Cao Bằng diệt nhà Mạc, Nguyễn Thị Duệ phải chạy vào ẩn náu trong rừng nhưng bị quân Trịnh đổi theo bắt được. Tướng nhà Trịnh là Nguyễn Quý Nhạ vốn cùng quê với bà, từ lâu đã nghe danh tiếng của bà, bèn thảo một tờ biểu cho chúa Trịnh xem xét.

Chúa Trịnh Tráng sau khi tìm hiểu, biết bà là người có học thức bèn giao cho bà giảng dạy cho các phi tần ở phủ chúa, cung vua.

Với học vấn uyên thâm, Nguyễn Thị Duệ ở trong cung dạy lễ nghĩa, văn thơ. Tại phủ chúa mỗi khi được hỏi han, bà đều viện dẫn kinh sử cùng các tích cổ nhằm khéo khuyên chúa nghe theo lời răn dạy của các bậc Thánh hiền, lấy dân làm gốc.

Thời gian này Nguyễn Thị Duệ có được mối giao hảo thâm tình với hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc (vợ vua Lê Thần Tông). Hai bà hàng ngày cùng lễ chùa, vãn cảnh. Nhờ các cuộc đàm đạo với sư sãi cũng như giao tiếp bên ngoài mà bà biết thêm tình hình đất nước cũng như sự cơ cực lầm than của người dân, để khi cần có thể lên tiếng giúp triều đình có được các chính sách hợp lòng dân.

Có công lớn trong nền giáo dục nước nhà

Cả vua Lê và chúa Trịnh đều coi trọng bà, phong bà là Nghi Ái Quan, cho phép bà được chấm các bài thi Hội, thi Đình. Nhiều câu chuyện về bà được lưu truyền trong dân gian.

Năm Đức Long thứ 3 thời vua Lê Thần Tông (1631), bà làm giám khảo kỳ thi tiến sĩ được tổ chức ở làng Mao Điền, Hải Dương, có rất nhiều sĩ tử dự thi.

Khi chấm bài, các quan giám khảo thấy có một quyển làm 4 mục rất tốt, nhưng lại bỏ qua không làm 8 mục. Nhưng vì bài làm rất tốt nên các quan không nỡ đánh trượt, bèn trình lên cho Chúa xem. Chúa đọc thấy rất tâm đắc nhưng còn vài chỗ chưa hiểu nên hỏi Nguyễn Thị Duệ. Bà liền giải nghĩa theo điển tích, nói ra hàm ý sâu xa, khiến Chúa cùng các quan phải khâm phục cả người làm lẫn người diễn giải.

Bà còn bình rằng : “Bài văn làm được 4 câu mà hay còn hơn làm hết 12 câu mà không hay, triều đình cần người thực tài chứ không cần kẻ nịnh bợ”. Thế là các quan cùng đồng ý chấm cho người làm bài đậu tiến sĩ khoa thi năm đó. Đến lúc tra ra mới biết sĩ tử làm bài thi đó là Nguyễn Minh Triết, em họ của bà.

Nhằm khuyến khích việc học tập khắp nơi để có được hiền tài cho đất nước, Nguyễn Thị Duệ đã gửi đề thi đến từng địa phương, rồi tập trung bài lại để chấm.

Theo văn bia và một số tài liệu, mỗi tháng 2 kỳ, bà cho họp các sĩ tử hàng huyện lại cho đề văn do bà đặt, bài làm xong giao hội “Tư Văn Chí Linh” để nộp lại cho bà. Đúng hạn bà trả bài, cho đăng tên, điểm trên văn chỉ. Phương pháp này của bà giúp người ở những làng quê xa cũng có tinh thần hiếu học, nhiều người nhờ bà rèn dũa mà thi đỗ, một số người đỗ đại khoa.

Nguyễn Thị Duệ cũng xin triều đình lấy nhiều mẫu ruộng tốt cho canh tác lấy hoa lợi, số tiền thu được dùng để thưởng cho những ai có thành tích tốt trong học tập.

Tưởng nhớ

Tình hình đất nước bấy giờ khiến bà trăn trở. Hết cuộc nội chiến Trịnh – Mạc rồi đến Trịnh – Nguyễn khiến đất nước rối ren, người dân Bắc Hà đói khổ. Càng nghĩ càng thêm chán nên Nguyễn Thị Duệ quyết định xin rời khỏi cung để về quê.

Vua Lê và chúa Trịnh không khuyên được nên đành để bà về quê. Bà dựng am để có nơi đọc sách và bảo ban các sĩ tử trong làng. Vua Lê giao cho bà số thuế hàng năm của tổng Kiệt Đặc để làm bổng lộc an hưởng tuổi già, nhưng bà chỉ lấy một ít để dùng, còn lại chi tiêu vào việc công ích và trợ giúp người nghèo.

Bà mất năm 1654, thọ 80 tuổi. Bên cạnh bia mộ của bà có một ngôi tháp tên là “Tinh phi cổ pháp” khắc mười chữ Hán “Lễ sư sinh thông tuệ. Nhất kính chiếu tam vương” nghĩa là người thầy dạy lễ này sinh thời thông tuệ, các vua chúa đều mến phục bà.

Tại Văn Miếu ở Mao Điền, Hải Dương, có thờ 600 vị tiến sĩ, trong đó có 8 vị đại khoa của tỉnh Hải Dương. Bà Nguyễn Thị Duệ nằm trong số 8 vị đại khoa này. Văn Miếu ở Mao Điền chỉ đứng sau Văn Miếu Quốc Tử Giám bởi nó đã có 500 năm tồn tại. Chính giữa Văn Miếu Mao Điền thờ Khổng Tử, sau đó lần lượt hai bên là Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Sư Mạnh, Vũ Hữu, Tuệ Tĩnh, Nguyễn Thị Duệ. Đặc biệt bà Nguyễn Thị Duệ là nữ trạng nguyên duy nhất của nước Việt.

Vào tháng 2 âm lịch hàng năm, lễ hội lớn sẽ diễn ra ở Văn Miếu Mao Điền để người Việt tham quan các di tích, ôn lại truyền thống hiếu học của các bậc hiền tài nước Việt thuở xưa. (theo Trần Hưng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

HÃI HÙNG HOÀNG ĐẾ “MÂY MƯA”

NGÀN LẦN TRONG GẦN 1 THÁNG

Theo một số tài liệu, hoàng đế Lưu Hạ đã uống máu hươu, “quan hệ” hơn ngàn lần chỉ trong chưa đầy 1 tháng.

H1: Lưu Hạ hay còn gọi Xương Ấp Vương (92 TCN – 59 TCN) là vị hoàng đế thứ 9 của nhà Hán. Đây là một trong những ông hoàng Trung Quốc có thời gian nắm vương quyền siêu ngắn. H2: Lưu Hạ chỉ ngồi trên ngôi báu 27 ngày vào năm 74 TCN. Do lên ngôi báu trong thời gian ngắn nên hoàng đế Lưu Hạ chưa kịp đặt niên hiệu.

H3: Lưu Hạ là cháu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt – vị hoàng đế anh minh, lỗi lạc của triều đại Tây Hán. Tuy nhiên, tính cách của Lưu Hạ trái ngược với tài năng, đức độ của người ông. H4: Vị hoàng đế cầm quyền chỉ trong 27 ngày nổi tiếng ăn chơi trác táng, hoang dâm vô độ ngay từ khi còn trẻ. Ngay cả khi Hán Chiêu Đế băng hà vì bệnh tật năm 74 TCN, Lưu Hạ vẫn tổ chức tiệc tùng, ăn chơi xa hoa. H5: Vào thời đó, đây là trọng tội và có thể bị xử tử. Tuy nhiên, Lưu Hạ có nhiều hiền thần giúp đỡ mà thoát nạn, bình an vô sự.

H6: Ngay cả khi lên ngôi vua, Lưu Hạ vẫn giữ thói quen ăn chơi, đi săn thú rừng và uống máu thú săn, đặc biệt là loài hươu. Ông hoàng này cũng nổi tiếng hoang dâm vô đạo khi “yêu” hơn 1.000 lần chỉ trong 27 ngày tại vị. Lưu Hạ còn “quan hệ” với các cung nữ trong hậu cung của Hán Chiêu Đế trong thời gian cả nước để tang.

H7: Với tần suất “quan hệ” dày đặc như trên, Lưu Hạ trở thành ông hoàng có đời sống tình dục cao ngất ngưởng, khó có ai bì kịp.  H8: Theo một số tài liệu, việc uống máu thú rừng, đặc biệt là hươu khiến hoàng đế Lưu Hạ tràn đầy sinh lực, bổ thận, tráng dương. Tuy nhiên, phương pháp tăng cường khả năng phòng the này chỉ là bài thuốc được lưu truyền trong dân gian mà không có cơ sở khoa học.

H9: Một số chuyên gia còn đưa ra nhận định việc uống máu động vật có thể khiến con người nhiễm độc tố hoặc mắc một số bệnh tật, khiến sức khỏe sa sút. Số khác cho rằng việc uống máu động vật có thể giúp nam giới sung mãn hơn trong cuộc “yêu” nhưng chỉ là tức thời.H10: Sau gần 1 tháng ngồi trên ngai vàng mà chưa từng lần nào họp bàn chính sự với các triều thần, Lưu Hạ bị phế truất và trở về Xương Ấp Quốc trong dáng vẻ nhếch nhác bằng cỗ xe trâu, khác xa so với lúc trống rong cờ mở, xe ngồi long trọng khi vào cung lên ngôi báu. (theo Kiến Thức)

Quế Phượng chuyển tiếp

CHÙA PHẬT TÍCH Ở BẮC NINH

Chùa có tên hiệu là  Vạn Phúc, tọa lạc ở sườn phía Nam núi Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chùa cách Hà Nội khoảng 25 km về phía Đông Bắc

Khởi nguyên của chùa gắn liền với trung tâm Phật giáo Luy Lâu và sự du nhập của Phật giáo Ấn Độ gắn liền với nhà sư Khâu-Đà-La. Chùa được dựng vào khoảng thế kỷ VII-X. Đến thời Lý, chùa được đại trùng tu quy mô, trở thành một trung tâm Phật giáo Việt Nam bấy giờ. Vào năm 1057, vua Lý Thánh Tông đã cho dựng cây tháp và đúc pho tượng mình vàng. Vua còn tự tay viết chữ “Phật” dài 1 trượng 6 thước được khắc vào bia đá.

Thời Trần đã cho lập một thư viện lớn trên núi Lạn Kha do danh nho Trần Tôn làm Viện trưởng để giảng dạy các sinh đồ. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết hằng năm vào ngày mồng 4 tháng giêng mở hội xem hoa, nhiều người đến dâng hương lễ Phật. Chính hội xem hoa này đã dẫn đến câu chuyện lãng mạn “Từ Thức gặp tiên”.

Từ năm 1991, Lễ hội Khán hoa mẫu đơn truyền thống vào ngày mồng 4 Tết Nguyên đán được khôi phục và tổ chức long trọng tại chùa vẫn giữ được những nét truyền thống từ ngàn xưa.

Năm 1383, vua Trần Nghệ Tông tổ chức thi Thái học sinh ở ngay trong chùa, lấy đỗ 30 người. Đời vua Lê Hy Tông, chùa được bà Trần Ngọc Am, đệ nhất cung tần của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cho xây dựng quy mô tráng lệ vào năm 1686.
Chùa bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn vào năm 1947. Năm 1959 và năm 1986, chùa được dựng lại sơ sài. Năm 1991, chùa được xây dựng lại với kiến trúc đơn giản hiện có, gồm ngôi chánh điện, nhà Tổ, nhà thờ Thánh Mẫu …

Chùa giữ được nhiều cổ vật điêu khắc thời Lý

Ở thềm bậc nền thứ hai, có 10 tượng linh thú bằng đá to lớn phủ quỳ trên bệ hoa sen là : sư tử, voi, trâu, ngựa, tê giác, mỗi loại 2 con đặt đối xứng trước cửa chùa. Tượng thú có chiều cao trung bình 1,2m, chiều dài từ 1,5m đến 1,8m. Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 12-12-2007:

Chùa Phật Tích – ngôi chùa có 5 cặp tượng linh thú bằng đá lớn nhất Việt Nam. Sau ngôi chánh điện, còn một số đấu kê chân tảng. Đặc biệt, có một chân tảng chạm khắc thật sinh động các nghệ sĩ đang biểu diễn các nhạc khí gồm : sáo dọc, sáo ngang, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tam, đàn tì bà, trống phách. Đó là dàn nhạc bát âm cổ vào thời Lý.

Bát âm là tám chất liệu âm thanh gọi chung cho 8 loại nhạc khí được chế tác bằng 8 chất liệu khác nhau : Thạch (đá, như đàn đá, khánh đá), Thổ (đất, như trống đất của dân tộc Cao Lan), Kim (sắt, có dây bằng sắt), Mộc (gỗ, như song loan, mõ), Trúc (hơi thổi, như tiêu, sáo), Bào (nhạc khí làm bằng vỏ quả bầu, như tính tẩu, đàn bầu), Tì (dây tơ, như đàn nhị, hồ, líu), Cách (da, như trống cái, trống chầu).

Sau chùa có ao Rồng chữ nhật dài 7m, rộng 5m, sâu 2,2m. Đáy ao có thềm đá hình bán nguyệt đường kính 3,8m chạm nổi rồng khá lớn và hoa văn sóng nước. Chùa còn có giếng cổ, dưới đáy có đầu rồng dài 0,53m, rộng 0,20 m, miệng ngậm ngọc.

Đại đức trụ trì Thích Đức Thiện cho biết chùa mới tìm ra móng ngôi tháp cổ thời Lý khi thợ đào móng xuống khoảng 3,2m để xây lại ngôi Tam Bảo vào trung tuần tháng 11 vừa qua. Chùa đã tìm thấy nhiều viên gạch cổ có chữ đề ”Lý gia Đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (vua thứ ba đời Lý, năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 xây dựng).

Với phần móng tháp dài 9,1m, rộng 2,4m, các nhà khoa học đoán định ngọn tháp cao khoảng 42m. Nhiều cổ vật quý giá khác cũng được tìm thấy đó là : 2 phù điêu lá đề bằng đá, mỗi phiến nặng 40kg có chạm trổ hình rồng chầu, một chiếc đầu rồng bằng đá được chạm hết sức tinh xảo, có bề ngang 0,5m, cao 0,3m, mảnh 1/4 đài sen bệ tượng Phật và nhiều phù điêu, mảnh vở có chạm khắc hoa văn. Vườn sau chùa có 32  bảo tháp của chư Tổ, chư Tăng đã viên tịch từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.

Đặc biệt, ở điện Phật, có pho tượng đức Phật A Di Đà ngồi thiền định trên tòa sen cao 1,85m, kể cả bệ là 2,8m. Đây là một kiệt tác điêu khắc bằng đá thời Lý ở Việt Nam. Pho tượng đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục vào ngày 04-5- 2006 : Chùa Phật Tích với bảo tượng Phật bằng đá thời Lý lớn nhất Việt Nam.

Chùa còn thờ pho tượng táng một vị thiền sư được một số nhà nghiên cứu ngày nay cho là tượng táng Thiền sư Chuyết Chuyết đã viên tịch tại chùa. Bảng giới thiệu “Phục nguyên di hài thiền sư ở chùa Phật Tích” được gắn tại chùa cho biết vào tháng 4-1991, Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường cùng các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu di hài thiền sư là một người đàn ông chừng 65-70 tuổi, cao 1,50m.

Pho tượng bị những kẻ đi tìm của quý đập vỡ thành 342 mảnh. Các nhà khoa học đã dùng phương pháp Geraximov, là phương pháp khôi phục lại mặt theo xương sọ của người Nga. Pho tượng thiền sư đã được phục nguyên từ ngày 12-01-1993 đến ngày 01-5-1993 thì hoàn thành. Đây là lần đầu tiên ở nước ta đã sử dụng thành công phương pháp khoa học không có cốt bằng kim loại hoặc gỗ ở bên trong, mà chất liệu chỉ bằng sơn ta, mạt cưa, vải màn … Chiều cao tượng ngồi 67,3cm, nặng 10kg. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1962.

Cuối năm 2005, Đại đức Tiến sĩ Thích Đức Thiện đã thành lập Trung tâm tu tập Phật Tích và Quan Âm viện. Chùa đã mở nhiều lớp tin học miễn phí cho học sinh, đóng góp một phần chương trình phổ cập tin học trong huyện nhà.

Để bảo tồn nhiều di vật thời Lý và tôn tạo ngôi chùa có lịch sử gần 1.000 năm, từng là một trung tâm giáo dục và văn hóa của Đại Việt, ngày 11-10-2008, tỉnh Bắc Ninh đã cùng chùa tổ chức long trọng lễ khởi công trùng tu, tôn tạo Di tích lịch sử văn hóa chùa Phật Tích với kinh phí khoảng 35 tỷ đồng do Công ty cổ phần Tu bổ di tích và Thiết bị văn hóa trung ương thi công từ năm 2008 đến năm 2010, gồm : Tứ trụ, gác chuông, tòa Tam Bảo, nhà Tổ Đệ nhất, phủ Mẫu … theo mẫu kiến trúc chùa Phật Tích thời Lê.

Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, ngôi đại tự danh tiếng trang nghiêm Phật Tích mở rộng cửa đón muôn khách, Phật tử năm châu về chiêm bái, đảnh lễ, tu tập trong sự an lạc của thân tâm.

Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Trong gian chính của chùa vẫn đang thờ tượng phật A Di Đà bằng đá xanh có từ năm 1057. Đây là bức tượng độc đáo, mang ảnh hưởng của trường phái nghệ thuật Giupta (Ấn Độ)

Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích (dấu tích của Phật).. Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích

Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am – đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này

Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều. Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử – văn hoá.

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúaTrịnh Tráng tu ở chùa này nên có câu đối “Đệ nhất cung tần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương”. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình

Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi; hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền

Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu. Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60 m, rộng khoảng 33 m, mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật

Dung Dung chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (12)

QUỐC CA MỸ

ĐÃ RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO ?

Vào một đêm mưa ngày 13/9/1814, một luật sư người Mỹ 35 tuổi có tên là Frances Scott Key nhìn quân Anh nã pháo liên hồi vào pháo đài McHenry ở Cảng Baltimore. Cuộc chiến năm 1812 đã kéo dài suốt 18 tháng và luật sư Key đang đàm phán để phóng thích một tù binh Mỹ.

Lo ngại rằng ông đã biết quá nhiều, quân Anh đã giữ ông trên tàu nằm cách bờ biển tám dặm. Khi màn đêm buông xuống, ông nhìn thấy bầu trời chuyển sang màu đỏ và trước quy mô của cuộc tấn công, ông tin rằng quân Anh sẽ chiến thắng.

“Dường như lòng đất mở ra để thổi đi những loạt đạn pháo trong màn lửa và lưu huỳnh,” ông kể lại. Nhưng khi khói tan vào lúc những tia nắng đầu tiên của bình minh ló dạng, trong sự sững sờ và thở phào nhẹ nhõm, Key thấy lá cờ Mỹ, chứ không phải cờ Anh giương lên trên pháo đài.

Ngập tràn cảm xúc

Theo Viện Smithsonian, nơi lưu giữ nhiều hiện vật lịch sử vô giá, thì trong lòng Key tràn ngập cảm xúc trước những gì ông chứng kiến nên ông đã viết thành thơ.

Ông đã đưa bài thơ ông viết cho anh rể, Joseph H Nicholson, tư lệnh một đơn vị dân quân ở Fort McHenry xem, và ông này đã nhận xét rằng lời thơ hài hòa hoàn hảo với một giai điệu ngắn rất được ưa chuộng của nước Anh do nhạc sỹ John Stafford Smith sáng tác vào năm 1775.

Bài hát Anacreontic Song, hay còn gọi là Anacreon in Heaven, được viết cho một câu lạc bộ của giới thượng lưu ở London nhưng vào đầu thế kỷ 19 nó đã vượt Đại Tây Dương và trở nên nổi tiếng ở Mỹ.

Ấn tượng mạnh mẽ với bài thơ của Key, Nicholson đã đem nó đến một nhà in ở Baltimore và phát hành dưới tên Đơn vị phòng vệ Fort M’Henry và ghi giai điệu mà lời thơ này nên được phổ nhạc hát theo.

Báo The Baltimore Patriot cho in lại và chỉ trong vòng có vài tuần, bài hát The Star-Spangled Banner (tạm dịch “Lá cờ chói lọi ánh sao”), cái tên mà nó nhanh chóng được biết đến, đã xuất hiện trên nhiều ấn phẩm trên khắp đất nước và khiến lời hát của Key cũng như lá cờ mà lời thơ tôn vinh vốn không lâu sau đã trở thành lịch sử đã trở nên bất tử.

Lời ca lay động tâm hồn

Được hải quân sử dụng vào năm 1889, bài hát đã được Puccini trích lại trong vở opera của ông có tựa đề Madame Butterfly.

Vào đầu thế kỷ 20, sức hút của bài hát dường như không gì có thể cưỡng lại được. Nó được ưa thích đến mức cho đến năm 1916 đã có hàng chục bản khác nhau và Tổng thống Woodrow Wilson đã yêu cầu Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đưa ra bản chính thức.

Cơ quan này đã nhờ sự giúp đỡ của năm nhạc sỹ : Walter Damrosch, Will Earheart, Arnold J Gantvoort, Oscar Sonneck và John Philip Sousa. Buổi trình diễn đầu tiên của bản đã được chuẩn hóa diễn ra ở Carnegie Hall vào tháng 12/1917.

Tuy nhiên, phải cho đến ngày 3/2/1931 bài hát The Star-Spangled Banner mới chính thức trở thành quốc ca của Hoa Kỳ, theo một đạo luật của Quốc hội do Tổng thống Herbert Hoover ký.

– Quốc Ca Mỹ : “The Star-Spangled Banner”

https://youtu.be/2yamBAhP9EA

Thời gian ra đời chính thức của Quốc ca Mỹ tương đối muộn có lẽ là ngạc nhiên đối với những ai nghĩ rằng nó có từ rất lâu trong lịch sử, nhưng sự thiếu hiểu hiểu biết này thể hiện một xu thế lớn hơn.

“Nhiều người Mỹ không biết rằng có rất nhiều những thứ mà chúng ta cho là nền tảng của Hoa Kỳ thật ra bắt nguồn từ những năm 1920 và thời kỳ Đại Suy thoái,” Sarah Churchwell, giáo sư văn chương Mỹ tại Đại học Đông Anglia và là tác giả của cuốn sách được ca ngợi rộng rãi Careless People, nói.

“Khi F Scott Fitzgerald – một người họ hàng xa của Frances Scott Key – đang bắt đầu nghĩ về cuốn tiểu thuyết The Great Gatsby vào năm 1922, năm mà ông lấy bối cảnh cho cuốn tiểu thuyết này thì nước Mỹ vẫn đang tranh luận có nên có một bài quốc ca hay không”.

Giấc mơ Mỹ

Mặc dù The Star-Spangled Banner là ứng cử viên hàng đầu, Churchwell chỉ ra rằng nó đã bị một số người phản đối dữ dội.

Vào ngày 11/6 năm 1922, nhà khoa học Augusta Emma Stetson, người xây dựng nhà thờ First Christian Science tại Công viên Trung tâm New York đã đăng một quảng cáo lớn ấn tượng trên tờ New York Tribune với tiêu đề: “The Star-Spangled Banner không bao giờ trở thành Quốc ca của chúng ta”.

Đoạn quảng cáo này đã nói về ‘những giai điệu bạo lực, không thể hát được vốn không bao giờ diễn đạt được những lý tưởng nền tảng của đất nước chúng ta’. (Không chỉ bởi phần nhạc không phải do người Mỹ sáng tác mà tệ hơn nữa nó là giai điệu của một bài hát thô tục, đầy nhục dục của những người uống rượu, Churchwell cho biết).

“Sẽ không bao giờ Quốc hội hợp pháp hóa một bản quốc ca vốn xuất phát từ những phẩm chất thấp nhất của tình cảm con người,” đoạn quảng cáo nói. Quốc hội lại nghĩ khác. “The Star-Spangled Banner đã trở thành quốc ca Mỹ vào năm 1931, hai năm sau khi thị trường chứng khoán sụp đổ, khi người Mỹ cần sự khôi phục niềm tin” Churchwell nói.

Bà cũng chỉ ra rằng chính trong năm này khẩu hiệu ‘Giấc mơ Mỹ’ đã trở thành câu cửa miệng nổi tiếng của nước Mỹ nhờ vào một cuốn sách có tựa đề Epic of America của James Truslow Adams.

“Nhìn chung, tôi nghĩ người Mỹ được khuyến khích nghĩ rằng tất cả những gì về đất nước chúng tôi kéo dài từ rất lâu và vượt qua cả lịch sử.

Đó là khía cạnh chính của Giấc mơ Mỹ và chính là điều mà Fitzgerald muốn nhắc đến trong Gatsby – ý tưởng rằng chúng tôi luôn bị lôi cuốn về lịch sử của mình mà chúng tôi không hiểu được nó.”

Yên Huỳnh chuyển tiếp

BA CỰU CHIẾN BINH “HOMELESS”

VÀ PHIM “INSIDE THE VIETNAM WAR”

Có lẽ đã tới lúc người Mỹ nhận thức được “món nợ phải trả” cho sự hy sinh của những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Tôi rất ngạc nhiên khi bà thư ký dẫn vị sĩ quan an ninh của sở vào văn phòng với nét mặt hoảng hốt và rụt rè lên tiếng :

– Duy à… Có chuyện rồi ! Đại uý Morrow cần gặp riêng Duy.

Bà ta vội vã quay lưng, với tay đóng cửa và bước nhanh ra ngoài. Tôi vừa bắt tay đại uý Morrow vừa hỏi :

– Mời đại uý ngồi. Anh tìm tôi có việc gì quan trọng”

– Xin lỗi anh Duy nhé. Ở dưới nhà có 3 người “homeless” cứ nằng nặc đòi gặp anh cho bằng được. Nhân viên an ninh đã giữ họ lại và báo cáo cho tôi tìm gặp ông để thảo luận. Những người này có vẻ không đàng hoàng… nhưng có một người tên Norman khai rằng anh là bạn của hắn ta.

– Ồ… Đó là anh chàng thỉnh thoảng vẫn thổi kèn Saxophone kiếm tiền ở trạm xe điện ngầm Farragut West đó mà. Anh ta đàng hoàng lắm. Không sao đâu. Để tôi xuống gặp họ.

– Anh chờ chút. Chúng tôi muốn sắp xếp để canh chừng vì hai anh chàng kia trông có vẻ “ngầu” lắm. Mấy tay này cứ luôn miệng chửi thề và “càm ràm” với giọng điệu rất hung hăng về cuộc chiến Việt Nam. Tôi đoán chắc họ thuộc nhóm cựu chiến binh Việt Nam mắc bệnh tâm thần… Anh tính sao”

– Tôi nghĩ không cần thiết lắm đâu. Tôi biết tôi không thể dẫn họ lên văn phòng, nhưng có thể mời họ vào “cafeteria” uống ly nước, chắc không sao chứ”

– Cũng được, nhưng cẩn thận vẫn hơn. Để tôi bảo nhân viên để ý trông chừng trong lúc anh gặp họ ở “cafeteria”. Anh không ngại chứ”

– Cám ơn các anh, nhưng đừng lộ liễu quá, họ tủi thân.

Trong lúc theo với đại uý Morrow xuống nhà gặp “khách”, tôi nghĩ về kỷ niệm quen biết Norman từ gần 10 năm trước.

Hồi đó, tôi mới về làm cho National Geographic, vì chưa quen đường sá ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn nên thường đi làm bằng xe “Metro”. Một buổi sáng Thứ Sáu, tôi đi trễ hơn bình thường vì phải ghé qua trường học để ký một số giấy tờ cho các con trước ngày tựu trường. Vừa ra khỏi xe điện ngầm ở trạm Farragut West, tôi nghe vọng lại tiếng kèn Saxophone rất điêu luyện đang “rên rỉ” bài Hạ Trắng :

Gọi nắng… trên vai em gầy đường xa áo bay Nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say Lối em đi về… trời không có mây Đường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy… Lên khỏi cầu thang ở trạm xe điện, tôi sững sờ khi trông thấy một một người Mỹ “homeless” đang “ngất ngưởng” thả hồn vào một cõi xa xăm vô định, miệt mài thổi Saxophone. Bài hát vừa dứt, đám đông vây quanh vừa vỗ tay tán thưởng, vừa bỏ một vài đồng bạc lẻ vào cái mũ vải bên cạnh… Tôi tiến đến gần hơn, móc ví lấy tờ giấy bạc $10 bỏ vào mũ biếu anh ta, một người Mỹ có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam vì anh ta đang mặc chiếc áo khoác quân nhân, với bảng tên Norman Walker trên túi áo và bên cạnh còn treo lủng lẳng một số huy chương. Tôi chưa kịp bỏ tiền vào mũ, anh ta đã hỏi bằng tiếng Việt :

– Mày Việt Nam hả ? Biết bài hát vừa rồi không ?

– Đương nhiên rồi. Ông thổi kèn rất hay và có hồn. Ông nói tiếng Việt cũng giỏi.

– Đại khái thôi. Kêu mày tao được rồi. Tao đã từng đấm đá gần 8 năm trời trên quê hương của mày, nhưng khi trở về bị quê hương tao ruồng bỏ. Nản bỏ mẹ. Tao nhớ Việt Nam nên tập thổi nhạc Trịnh, thỉnh thoảng ra đây biểu diễn kiếm thêm ít đồng mua cơm mua cháo sống qua ngày với đám bạn không nhà không cửa trở về từ cuộc chiến.

– Ông…

– Lại ông nữa. Mày tao cho thân tình. Không phải người Việt tụi mày vẫn nói thế sao ?

– Tôi không quen gọi người lạ như thế. Hay gọi nhau là “anh tôi” được không ?

– Tuỳ mày. Tiếng Việt tụi mày rắc rối lắm. Mày có cần phải đi làm chưa ? Tao phải tiếp tục thổi thêm vài tiếng nữa mới đủ sở hụi. Tao nghỉ lúc 11 giờ, mày có thể tới nói chuyện. Nếu bận thì thôi. Thứ Sáu nào tao cũng làm ăn tại đây. Nếu không chê, mày có thể trở lại.

– Tôi sẽ trở lại trước 11 giờ. Văn phòng tôi làm việc cũng chỉ cách đây một quãng đường ngắn.

– Mày không sợ hả ?

– Sợ gì ?

– Tụi tao là loại người bị ruồng bỏ và khinh chê.

– Không có đâu. Tôi sẽ trở lại.

– Đi đi. Hẹn gặp lại.

Tôi đã trở lại gặp Norman và mời anh ta cùng ăn trưa hôm đó. Anh ta rất cảm động, và chúng tôi trở thành “bạn” từ dạo đó.

Tôi thắc mắc tự hỏi không hiểu tại sao hôm nay Norman không gọi điện thoại cho tôi mà lại dẫn theo hai người bạn tới văn phòng tìm tôi, gây xáo trộn cho thêm rắc rối. Tôi chỉ sợ Norman và bạn của anh ta sẽ buồn và mất cảm tình với National Geographic cũng như cá nhân tôi vì bị những nhân viên an ninh của sở “hạch hỏi”.

Đã từ lâu lắm rồi, tôi cảm nhận được nội tâm đơn thuần và tính tình chân thật của những cựu chiến binh không nhà không cửa lang thang khắp đường phố thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Có những người đã từ bỏ tất cả để sống kiếp lang thang tại vùng thủ đô để thỉnh thoảng có dịp ghé thăm và tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến được khắc tên trên bức tường cẩm thạch mầu đen ở đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial).

Những cựu chiến binh râu ria xồm xoàm, quần áo rách nát và bẩn thỉu, thân thể xâm đầy những bức hình ngổ ngáo hay những dòng chữ ngang tàng để che dấu một nội tâm lúc nào cũng khắc khoải trong đau thương tủi nhục và nhức nhối từng đêm vì những ám ảnh từ cuộc chiến Việt Nam. Tôi cảm thương với hoàn cảnh của họ và trân quý những hy sinh họ đã dành cho Quê Hương Yêu Dấu Việt Nam của chúng ta.

Vừa gặp mặt, Norman siết chặt tay tôi cười lớn, rồi lên giọng :

– Gặp mày còn khó hơn gặp sĩ quan cao cấp ngoài mặt trận nữa. Hôm nay nói tiếng Anh nhé. Bạn tao không biết tiếng Việt và tao cũng không muốn đám “cớm dởm” ở đây nghi ngờ, gây thêm phiền phức cho thằng bạn người Việt rất thân của tao.

Norman đổi giọng, nói tiếng Anh :

– Đây là thằng Duy rất thân của tao. Nó là người Việt tỵ nạn nhưng đang làm lớn ở đây. Chắc nó giúp được tụi mình. Còn đây là Bernie và Bob, hai thằng bạn thân “homeless” của tao.

Norman vẫn không buông tay nên tôi đành bắt tay trái với Bernie và Bob, rồi lên tiếng mời :

– Mời các bạn xuống “cafeteria” uống nước và nói chuyện.

– Có tiện không ? Hay tụi tao chờ mày ở ngoài kia, lúc nào rảnh ra nói chuyện.

– Không sao đâu. Tuy nhiên, Norman đừng đòi cà phê sữa đá, ở đây không có đâu.

 Norman cười ha hả trả lời bằng tiếng Việt :

– Biết rồi ! Khổ lắm, nói mãi ! Đúng không ?

– Rất đúng. Nghe giống hệt “một ông già Bắc kỳ” thứ thiệt.

Chúng tôi vui vẻ bước vào gọi cà phê, cùng tiến về một bàn trống phía trong cùng trước bao nhiêu con mắt kinh ngạc của những người đang có mặt trong “cafeteria” sáng hôm đó. Vừa ngồi xuống bàn, Norman vội vàng lên tiếng :

– Để khỏi mất thì giờ của mày, tao vào đề ngay nhé. Hôm qua Bernie đọc thấy ở đâu đó nói tuần này National Geographic sẽ có “preview” cuộn phim “Inside the Vietnam War” trước khi trình chiếu vào dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân. Đúng không ?

– Đúng rồi. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiếu trên đài National Geographic từ ngày 18 tháng 2 này.

– Đài của tụi mày chỉ có trên “Cable” và “Direct-TV”. Dân “homeless” tụi tao làm sao xem được. Tao biết họ vẫn mời mày 2 vé “preview” mỗi khi có phim mới. Mày kiếm thêm vé cho 3 đứa tao đi xem với. Được không ?

– Chắc được. Mấy lần trước tôi đưa vé cho bạn nhưng có bao giờ xuất hiện đâu !

– Lần này khác… vì họ nói về tụi tao và những bạn bè từng đấm đá trên Quê Hương của mày.

oOo

Để giữ sĩ diện cho tôi, cả 3 người “bạn” cựu chiến binh đều ăn mặc quần áo tươm tất, đầu tóc chải gọn gàng đứng chờ ngoài hành lang “Explorer Hall” cả giờ đồng hồ trước khi tôi xuống dẫn vào xem phim trong hội trường chính của National Geographic.

Sau khi cầm trong tay 4 tấm vé “preview”, tôi đã liên lạc nhờ mấy người trong nhóm “Audio & Video” của sở sắp xếp để chúng tôi ngồi trong góc cuối của hội trường, tránh xa những vị “tai to mặt lớn” trong sở cũng như những vị khách từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, Quốc Hội, và viên chức Chính Phủ Mỹ.

Sau những lời giới thiệu, những bài diễn văn theo thủ tuc, cuộn phim bắt đầu chiếu. Mấy người bạn cựu chiến binh Mỹ của tôi chăm chú lắng nghe, mắt người nào cũng long lanh ngấn lệ, cùng siết chặt tay nhau để nén lại những cảm xúc đang cuồn cuộn trào dâng trong tim của mỗi người.

Thỉnh thoảng tôi nghe thoang thoảng đâu đó một vài tiếng sụt sùi nho nhỏ vang lên khắp hội trường. Ba người bạn của tôi vẫn “án binh bất động” dõi mắt đăm chiêu theo từng tấm hình, từng tiếng súng, từng bước đi, từng câu nói, từng tiếng khóc… trên màn ảnh. Tới đoạn phim chiếu lại cảnh những cựu chiến binh trở về từ Việt Nam bị “dân Mỹ” và có lúc cả gia đình và bạn bè miệt thị, Bob bật tiếng khóc thật lớn, rồi Bernie, rồi Norman và một vài người chung quanh cùng khóc theo !

Ai đó đã ra lệnh tạm ngưng. Đèn hội trường bật sáng. Tôi vội vã xin lỗi những người chung quanh rồi vội vàng “kéo” ba người bạn cựu chiến binh ra khỏi hội trường. Cả ba vừa đi vừa khóc, lững thững lê gót “khật khưỡng” bước theo tôi như ba cái xác không hồn!

oOo

Mấy ngày sau, tôi nhận được một cú điện thoại từ nhóm thực hiện cuộn phim tài liệu “Inside the VietNam War” nhờ tôi sắp xếp một cuộc gặp gỡ với 3 người bạn cựu chiến binh “homeless” đã cùng tôi đi xem “preview” hôm đó, và cũng nhờ họ mời thêm những bạn bè khác vì Bộ Quốc Phòng và Bộ Cựu Chiến Binh cùng một vài viên chức trong chính phủ muốn gặp gỡ và giúp đỡ họ.

Có lẽ đã tới lúc người Mỹ nhận thức được “món nợ phải trả” cho sự hy sinh của những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Lòng tôi chợt nhói lên một niềm đau khi nghĩ tới số phận của những cựu quân nhân và công chức của Miền Nam trước năm 1975. Ai còn Ai mất !?.

Về tác giả : Nguyễn Duy An là người Á châu đầu tiên đảm nhiệm chức vụ Senior Vice President  National Geographic, tổ chức văn hoá khoa học lớn nhất thế giới. Năm 2006, ông là tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ. Bài viết mới nhất của ông cho giải thưởng năm thứ 9 mang theo một thông tin đặc biệt: Truyền hình National Geographic  chiếu phim  “Inside the Vietnam War” nhân kỷ niệm 40 năm trận chiến Mậu Thân.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

CHỆT XẨM “HỒN NHIÊN”

NGỦ NGON TRONG  

SIÊU THỊ NỘI THẤT

Mặc dù nhãn hàng nội thất IKEA đã ra luật cấm, nhưng người dân Trung Quốc vẫn tiếp tục vô tư đến siêu thị để ngủ trưa. IKEA vốn là một thương hiệu có chính sách bán hàng rất thoải mái, những cửa hàng trưng bày của IKEA luôn được bố trí như một căn hộ đầy đủ, tiện nghi nhất để phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các cửa hàng này tại Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng khách hàng đến đây để ngủ trưa, thậm chí là pha trà uống như ở nhà.

Sau một thời gian dài im lặng, mới đây IKEA Trung Quốc đã phải ban hành luật cấm khách hàng đến ngủ, nhưng mọi người vẫn tiếp tục đến một cách hồn nhiên và vô tư. Họ thường không quan tâm các nhân viên của nhãn hàng này nói gì, mà chỉ đơn giản là trùm chăn… ngủ tiếp.

Nhân viên của IKEA cho biết, số lượng người dân đến đây quá đông, nhất là vào mùa hè nóng bức, đã biến gian hàng của IKEA trở nên mất mỹ quan trong mắt khách hàng có nhu cầu mua sắm, thậm chí nhiều em bé còn “bĩnh” ra giường mẫu ngay trong gian trưng bày.

Sau đây một số hình ảnh ghi lại khách hàng ngủ ngon lành trong cửa hàng IKEA:

H1: “Đôi bạn cùng tiến” người ngủ người uống trà.

H2: Ngon giấc nồng. H3: Công việc mệt mỏi quá vào IKEA ngủ thôi. H4: Ngủ ngoan nhé cả mẹ và con. H5: Người già càng cần nằm nghỉ ngơi. H6: “Chị ơi ra giường ngủ cho đỡ đau lưng”.

H7-8: Vừa ngủ vừa tạo dáng. H9: Có máy lạnh ngủ mới phê H10: Xấu hổ quá đi. H11-12: Đủ kiểu nằm ngồi để ngủ

Và xem một đoạn video clip mhé :

http://www.youtube.com/embed/jpQM3b9oBPc?rel=0

Lan caysu chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIO MỚI KỂ (11)

LÝ DO VÌ SAO HỌ NGUYỄN

CHIẾM 40% DÂN SỐ NƯỚC VIỆT

Gần một nửa người Việt mang họ Nguyễn ?

Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt. Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này ?

Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có khoảng 90 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc.

Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần : Họ – tên đệm – tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi).

Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất và đông nhất ở Việt Nam ? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.

Thời cổ đại 

Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy, Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam. Bộ phận người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một bộ phận đáng kể người Việt có họ Nguyễn.

Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản địa ở Việt Nam.

Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý (1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm.

Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới tên họ của người Việt.

Đó là việc gì ? Ðời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành họ Nguyễn.

Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên.

Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như sau : “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”. 

Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn.

Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.

Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc.

Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng. Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Thời cận đại  

Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các  vương tôn quý tộc mới có họ.

Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất trên khắp Việt Nam. Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức lớn, đó là : Đại bộ phận người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên không có cách nào để thống kê tổng kết.

Vào lúc này phải làm như thế nào ? Người Pháp liền nghĩ ra một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.

Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 40% như vậy, không thể không kể tới tác động của người Pháp. Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này. (theo Kiên Định) 

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Đọc thêm :

TRẦN THỦ ĐỘ

NGƯỜI KHÔNG BIẾT CHỮ,

NHƯNG BIẾT CÁCH

DỰNG LÊN

CẢ MỘT VƯƠNG TRIỀU

Ngoài những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt còn là một triều đại có những thành tựu văn hóa rực rỡ. Các hoàng đế nhà Trần, từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều là những triết gia, những thi sỹ đứng ở đỉnh cao của văn hóa Đại Việt giai đoạn trung đại. Thế nhưng, một thực tế không sao phủ nhận được là những ông vua bề bề chữ nghĩa ấy đều phải sâu sắc chịu ơn của Trần Thủ Độ – một người vốn không biết chữ. Không biết chữ, nhưng biết cách dựng lên một vương triều.

Sách Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, ở phần nói về các sự kiện xảy ra dưới triều vua Lý Huệ Tông, có chép : “Giáp Thân, năm thứ 14 (1224). Dùng em họ của Hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ… Thủ Độ quản lĩnh điện tiền chư quân hộ vệ cấm đình, xét xử tất cả mọi việc” (Tập I, tr 418).

Sự bổ nhiệm này, có thể nói, chính là yếu tố chuẩn bị cực kỳ quan trọng cho việc nhà Trần soán lấy thiên hạ của nhà Lý. Trò đùa (hoặc sự báo ứng) của lịch sử chăng ?

Ta nhớ lại rằng trước đó hơn hai trăm năm (năm 1009), sau khi Lê đế Long Đĩnh băng hà, Lý Công Uẩn đã được bách quan tôn làm thiên tử. Giang sơn đã từ tay nhà Tiền Lê về tay nhà Lý. Chức quan của Lý Công Uẩn khi ấy cũng là Điện tiền chỉ huy sứ, nắm quyền thống lĩnh toàn bộ quân cấm vệ. Chỉ có một khác biệt giữa hai người: Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn trở thành vị hoàng đế khai mở vương triều Lý, còn Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ thì trở thành một đại công thần, người khởi dựng và đã dùng trọn đời mình để bảo vệ sự tồn tại của vương triều Trần.

Hãy thử xem lại một lần cái tấn kịch lịch sử của sự chuyển giao vương quyền từ họ Lý sang họ Trần: “Trần Cảnh lên 8 tuổi, đến phiên vào hầu. Chiêu Hoàng thấy Cảnh, đem lòng yêu thích, thường vời vào hầu, nô nghịch cười đùa. Trần Cảnh đem việc đó mách bảo Thủ Độ. Thủ Độ nói : “Nếu quả vậy thì họ ta sẽ là họ nhà vua hay là cả họ sẽ bị giết sạch ?”.

Một hôm Chiêu Hoàng lại lấy cái khăn trầu ném cho Trần Cảnh. Trần Cảnh lạy, nhận lấy, rồi mách với Thủ Độ. Thủ Độ liền đem gia thuộc và họ hàng vào trong cung cấm, sai đóng các cửa thành lại. Trăm quan tiến triều không vào được. Thủ Độ nhân thế loan báo cho mọi người: “Bệ hạ có chồng rồi !” Các quan đều vâng lời và xin chọn ngày vào chầu để làm lễ yết kiến. Ngày 21 tháng 12, bầy tôi tiến triều, lạy mừng. Nhà vua xuống chiếu truyền ngôi cho Trần Cảnh” (Sđd, tr 420).

Không hồ nghi gì nữa, tham vọng soán ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ là một sự thật hiển nhiên. Bởi thế ông mới có động lực để ngang nhiên “phiên dịch” những hành vi đùa nghịch vô tư của đám trẻ con vương giả theo lối giải nghĩa biểu tượng : Chiêu Hoàng ném khăn trầu – khăn đựng các đồ ăn trầu, cau, vỏ, ống vôi – cho Trần Cảnh, tức là muốn… làm dâu họ Trần ! Tuy vậy, ở đây cũng phải thấy óc phán đoán nhanh nhạy và sự chủ động trong xử lý tình huống của Trần Thủ Độ.

Buổi mạt vận của nhà Lý, đỉnh điểm cho sự hợp thức hóa việc “sang tên” vương quyền là tờ chiếu truyền ngôi, có đoạn : “Trẫm xét thấy ngôi báu rất là trọng đại mà trẫm là vua đàn bà, phải gánh vác lịch số do trời giao cho, riêng những nơm nớp lo sợ, như sắp sa xuống vực sâu. Nghĩ sao tìm được hiền nhân quân tử để giúp đỡ về chính trị. Duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, uy nghi đường hoàng, thực có phong độ bậc quân tử, có thể nhường cho ngôi báu để chống đỡ trong buổi gian nguy. Vậy rất mong Trần Cảnh đồng lòng hợp sức, dẹp yên loạn lạc, cứu vớt sinh dân để cùng hưởng phúc thái bình” (Sđd, tr 421).

Có thể tin được đây là lời của một bé gái bảy tuổi nói về một bé trai tám tuổi chăng ?

Trần Thủ Độ dù ít học, độc ác nhưng hết lòng với nhà Trần. Muốn trừ hết con cháu nhà Lý, Trần Thủ Độ sai đào hầm ở dưới, đặt phên nứa lên trên, rồi bắt con cháu nhà Lý vào làm lễ vua Lý. Phên nứa sụt, mọi người rớt xuống hố. Trần Thủ Độ cho đổ đất lên chôn sống tất cả.

Vương quyền đã về tay, nhưng nhà Trần liệu có thể yên tâm kê cao gối mà ngủ ? Trong bối cảnh những ngày đầu của triều đình nhà Trần, vai trò người hộ giá mẫn cán mà Trần Thủ Độ gánh lấy là cực kỳ quan trọng. “Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ sâu” – triết lý hành động sặc mùi chuyên chế như vậy, Trần Thủ Độ lần lượt bức tử Lý Huệ Tông (năm 1226, lúc này cựu hoàng nhà Lý chỉ là một ông sư ở chùa Chân Giáo), rồi lập kế chôn sống toàn bộ tôn thất nhà Lý (năm 1232).

Trong con mắt hậu nhân, đây chính là vết đen rất khó tẩy rửa trên chân dung của Trần Thủ Độ. Dực Tôn hoàng đế Tự Đức, ông vua nổi tiếng nghiêm khắc của nhà Nguyễn hạ bút : “Thủ Độ là công thần nhà Trần, tức là tội nhân nhà Lý. Huống chi làm những nết xấu như chó lợn (câu này chỉ việc Trần Thủ Độ lấy vợ của Lý Huệ Tông, cũng tức là chị họ của ông) dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được?” (Sđd, tr 426).

Tuy vậy, thử đặt câu hỏi : “Ở buổi đầu của triều Trần, nếu Trần Thủ Độ không xuống tay trước, liệu tôn thất nhà Lý và các thế lực phò Lý có chịu ngoan ngoãn thúc thủ sau khi đã bị tước đoạt quyền lực một cách tức tưởi?”, ta sẽ có đầy đủ lý do để biện hộ cho hành động tận diệt Lý gia của Trần Thủ Độ.

Có nhiều người phàn nàn là Trần Thủ Độ quyền hành quá lớn, dễ lấn át vua Trần. Được tin này, Trần Thủ Độ đã không giận dữ, mà còn bảo : “Họ nói đúng. Có điều là họ chưa hiểu lòng ta !” Rồi từ đó Trần Thủ Độ giữ gìn ý tứ, theo đúng đạo vua tôi để mọi người yên lòng.

Thái độ, cung cách ứng xử của Trần Thủ Độ với vua Trần cũng là điều rất đáng nói. Với sức mạnh và uy thế mà Trần Thủ Độ thực có, ta có quyền hình dung một kịch bản: sau khi đã cướp ngôi nhà Lý về cho nhà Trần, vua còn nhỏ, Trần Thủ Độ sẽ giữ quyền nhiếp chính, chờ một cơ hội thuận tiện, một lý do khả dĩ là lập tức tự đưa mình lên ngôi đế. Quá nhiều tiền lệ lịch sử để ta tin vào khả năng kịch bản đó xảy ra. Thế nhưng, Trần Thủ Độ không hành xử theo lối như vậy. Với vua Trần, ông là một bề tôi tuyệt đối trung thành.

Khi Trần Liễu, anh trai của Trần Cảnh (Trần Thái Tông) nổi loạn không thành, lẻn lên thuyền em để xin hàng, thì : “Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền nhà vua, tuốt gươm lên quát rằng : “Giết thằng giặc là Liễu”. Nhà vua thấy thế vội vàng đẩy Trần Liễu ẩn vào trong thuyền rồi bảo Thủ Độ rằng ; “Phụng Kiền vương đến xin đầu hàng đấy”. Miệng nói nhưng lấy mình che đỡ cho Trần Liễu. Thủ Độ giận lắm, vất gươm xuống sông nói rằng : “Tao thật là con chó săn, biết đâu anh em mày hòa thuận với nhau hay trái ý nhau” (Sđd, tr 437).

Trước tình thế hiểm nghèo khi giặc Nguyên Mông đến xâm lược nước ta. Vua đi hỏi Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ tâu : “Đầu tôi chưa rớt xuống đất, thì xin Bệ hạ chớ lo !” Thấy Trần Thủ Độ nói cứng như vậy, Trần Thái Tông mới quyết tâm đánh giặc.

Có thể nói, đây là đoạn văn phản ánh rất sinh động về con người và tính cách của Trần Thủ Độ : lòng trung thành và sự bộc trực. Ông tôn Trần Cảnh lên ngôi vua, ông quyết liệt bảo vệ cho sự tồn tại của ngôi vua ấy. Mọi thế lực đe dọa nó, cho dẫu đó là anh em cùng máu mủ ruột rà, với ông đều là “giặc” và đều cần phải “giết”. Tuy vậy trong trường hợp này Trần Thủ Độ không tính đến sức mạnh thiêng liêng và sự bền chặt của những quan hệ huyết thống. Hành động “vất gươm xuống sông”, rồi câu nói có cả giận lẫn dỗi ngay sau đó vừa thể hiện sự “ngớ ra” vừa cho thấy cái bộc trực đến mức cục mịch của ông Quốc thượng phụ (mù chữ) quyền hét ra lửa !

Triều Trần, ngoài những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt còn là một triều đại có những thành tựu văn hóa rực rỡ. Các hoàng đế nhà Trần, từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều là những triết gia, những thi sỹ đứng ở đỉnh cao của văn hóa Đại Việt giai đoạn trung đại. Thế nhưng, một thực tế không sao phủ nhận được là những ông vua bề bề chữ nghĩa ấy đều phải sâu sắc chịu ơn của Trần Thủ Độ – một người vốn không biết chữ. Không biết chữ, nhưng biết cách dựng lên một vương triều.

Lan Hương chuyển tiếp

THIÊN TÌNH SỬ VĨ ĐẠI VÀ ĐẪM LỆ

ROMEO & JULIET

CÂU CHUYỆN CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ

Hàng ngày, tôi đều đến ngồi trong một góc hội trường mà nghe Romeo và Juliet, chìm đắm trong thứ âm nhạc đầy đam mê và lay động lạ kỳ ấy. Nó mở ra cho tôi một chân trời mời đầu màu sắc của âm nhạc vĩ đại…

Có thể nói, một trong những tác phẩm nghệ thuật gây nên sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất cho mọi thời đại chính là vở kịch Romeo & Juliet của William Shakespeare. Có đến hàng trăm tác phẩm phim, nhạc, ballet… được lấy cảm hứng từ hay xây dựng trọn vẹn nguyên gốc câu chuyện tình bị kịch này…

Thiên tình sử Romeo & Juliet là một câu chuyện có thật trong lịch sử.

Romeo và Juliet được viết vào khoảng 1594 – 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ. Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời.

Romeo, con trai họ Montague và Juliet, con gái họ Capulet đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet, do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó. Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ tu sĩ Friar Laurence bí mật làm lễ cưới.

Đột nhiên xảy ra một sự việc : do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ.

Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona.

Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu.

Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn.

Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, với cái chết vĩ đại của họ, mối thù truyền kiếp trở nên quá nhỏ nhen và ích kỷ. Trong nước mắt, hai dòng họ đã cùng nhau quên đi mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ.

Thiên tình sử Romeo & Juliet vĩ đại như thế nào qua ngôn ngữ âm nhạc xuất chúng ?

Mời quý độc giả thưởng thức những tác phẩm vô cùng xuất chúng viết về thiên tình sử này. Qua đó chúng ta có thể thấy rằng, ngôn ngữ âm nhạc có sức biểu đạt mãnh liệt, mang chứa được những câu chuyện vĩ đại và lớn lao, thậm chí cả những điều mà ngôn ngữ con người đôi khi cũng không diễn đạt nổi:

Tác giả Nino Rota (1911 – 1979) : Tác phẩm kinh điển A time for us cho Romeo & Juliet mà khắp nơi trên thế giới đều thuộc giai điệu và ca từ, trên nền bộ phim Romeo & Juliet sản xuất năm 1968, cho đến nay vẫn là bản phim được đánh giá cao nhất :

– Ca khúc Romeo – Juliet :  https://youtu.be/yHX62cG-ui8

– A time for us Romeo and Juliet 1968:  https://youtu.be/4FHpmn-KYec

– Lời Việt qua giọng ca của Quang Dũng : https://youtu.be/2_LP8nVRyBo

KIỆT TÁC :

CÁI CHẾT CỦA THIÊN NGA

Và câu chuyện về sự phản bội niềm tin

Được viết cho violoncelle (cello) chơi trên nền hòa âm của hai đàn piano, bản nhạc Le Cygne, hay Thiên Nga là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, của nhà soạn nhạc người Pháp Camille Saint-Saens..

Một piano thể hiện tiếng mặt nước lao xao, một piano thể hiện tiếng sóng cuồn cuộn. Và trung tâm là violoncell- thiên nga nhẹ nhàng duyên dáng trên mặt hồ. Và khi kết hợp với vở ba lê Cái chết của Thiên Nga của Anna Pavlova, nó đã tạo nên một kiệt tác hoàn hảo.

Giấc mộng thiên nga

Giấc mộng thiên nga kể về câu chuyện nàng Thiên Nga đã đặt hết niềm tin vào chàng Hoàng Tử, người có thể cứu vãn kiếp Thiên Nga mà nàng bị phù thủy biến thành. Nhưng với một chút cả tin và sai lầm, chàng Hoàng Tử đã phản bội lời thệ ước tình yêu với nàng. Kết cục ra sao ?

Giấc mộng thiên nga. Giai điệu thấm đượm một nỗi buồn thánh thót trên cao như tiếng đàn cello đang lột tả cùng dàn nhạc. Tác phẩm đã khắc đậm lên tâm hồn khán giả những người yêu nhạc classic một lòng bi mẫn sâu xa và cao thượng.

Tiếng cello trải dài mượt mà uyển chuyển không khác nào vẻ đẹp kiều diễm của thiên nga trên hồ nước. Ta cũng có thể liên tưởng màu của thiên nga với mầu mây bồng bềnh cùng phản chiếu dưới mặt hồ.

Hình ảnh lãng mạn ấy cho ta cảm nhận về cái đẹp thường mong manh hiếm hoi, không bền vững. Sự thương cảm trước cái đẹp sẽ luôn xuất hiện, đó cũng là sự gợi nhắc cho việc đi tìm chân giá trị cuộc sống thật sự.

Một nhà phê bình đã cảm nhận : “Chạm vào giấc mộng thiên nga, giống như một lần ta được chạm vào sự thanh khiết để rồi mừng rỡ hóa ra mình vẫn có thể chảy nước mắt vì một thứ quá đỗi mong manh và dễ tổn thương. Vượt khỏi trải nghiệm mang tên giải trí, thấy mình được tiếp xúc với một thế giới nhẹ bẫng và đầy an ủi, được tạm quên đi sự xấu xí đang bủa vây đến ngạt thở cuộc sống mà mình đang chìm trong nó.”

Nàng thiên nga trắng muốt với sức căng mạnh mẽ ở những động tác đập cánh, những bước chân uyển chuyển, những cánh tay mềm mại. Và khi cái chết đến gần, những cú đập cánh run rẩy khiến người xem không khỏi rơi lệ trước vẻ đẹp bi tráng…

Với những cố gắng cuối cùng, đôi cánh đập mạnh liên hồi…Phút cuối, đôi mắt mở to và nàng thiên nga từ từ lịm đi, gục xuống. Không thể nào có sự thể hiện hoàn hảo và diễm lệ hơn thế nữa…

Mời quý độc giả thưởng thức Cái chết của thiên nga qua phần trình diễn được nhận xét là hoàn mỹ nhất cho tới nay của nghệ sĩ Uliana Lopatkina.

Triết lý mà Cái Chết của Thiên Nga gửi gắm lại nằm ở chính vẻ bi thương đẩy đến mức tuyệt mỹ: khi chúng ta không còn giữ được sự trong trắng của tâm hồn mình, khi chúng ta phản bội niềm tin, thì tình yêu tuyệt đối sẽ chết ! Và sự tha thứ có đến cũng không còn quan trọng, khi người ta buộc phải đối diện với phía tối của chính mình.

https://youtu.be/Rj_XljrBcW8

https://youtu.be/nPNilUw1YQ4

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (10)

THÁNG NGÀY LƯU VONG

CỦA HOÀNG HẬU NAM PHƯƠNG

Khối tài sản đồ sộ, lâu đài, đồn điền nơi đất khách rốt cuộc có khiến bà hạnh phúc

Là con gái của một trong 4 gia đình giàu có nhất miền Nam thế kỷ XX- đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào, trở thành hoàng hậu An Nam, khi dứt áo rời quê hương để lưu vong nơi đất khách, Nam Phương hoàng hậu vẫn có cuộc sống sung túc đề huề với những khối tài sản đồ sộ trên khắp nước Pháp và các lãnh địa Pháp như các lâu đài lớn ở Cannes, Limousin, Paris.. nhiều nhà đất ở bên xứ Maroc, Congo… Sở hữu nhiều lâu đài, đồn điền như thế, nhưng rốt cuộc Nam Phương hoàng hậu tìm được hạnh phúc ở đâu trong những năm tháng cuối đời tha hương bên xứ người?

Bom đạn khói lửa, bà hoàng quyết định ra đi, rời khỏi 2 chữ “An Định”

Tháng 3/1946, ông cố vấn Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, đã sang Hồng Kông cùng vũ nữ Lý Lệ Hà. Tháng 12/1946, tình hình chính t rị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căng thẳng, chiến tranh tới gần. Cựu hoàng hậu Nam Phương một nách 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng. Ở lại Huế thì nay mai chiến sự nổ ra, khó tránh hòn tên mũi đạn, đi tản cư về nông thôn thì sợ các con mình quen nếp sống vương giả, không hòa nhập được.

Tính đi tính lại, người phụ nữ thông minh chọn giải pháp đưa các con vào nương nhờ nhà thờ dòng Chúa cứu thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục Canada, một nước trung lập, không ngả về Mỹ hay Pháp. Cuộc sống ở đây khá kham khổ so với sinh hoạt trước kia của họ, sáng sáng các hoàng tử, công chúa phải tự đi tìm nước rót vào ca để rửa mặt.

Súng bắt đầu nổ ở Huế vài tuần và bà Nam Phương rất lo vì tu viện có thể bị tấn công. Bản thân các linh mục trong nhà dòng cũng cảm thấy bà và các con nên sang Pháp tản cư.

Những tháng ngày tại lâu đài Thorenc ở Cannes

Thời gian đầu, mẹ con cựu hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà Nam Phương gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái.

Nam Phương hoàng hậu sành thời trang và có gu ăn mặc thanh lịch, tinh tế. Bà rất thích mua đồ của nhãn hiệu Christian Dior và Balmin, màu tím nhạt được bà ưa chuộng nhất. Về gu nghệ thuật, bà treo tranh của của Renoir, Buffet trong nhà. Bà không thích tranh lập thể của Picasso vì tâm hồn bà không hợp với trường phái hội họa này cũng như siêu thực.

Bà cũng rất thích nuôi chó. Trong nhà bà có cả một đàn chó, và trong đó có một con thuộc giống Saint Bernard, loại chó to như con cọp, loại chó này để sử dụng tìm người mất tích trong rừng, trong khi đi trượt tuyết. Về thể thao bà có thể chơi bong bàn, quần vợt, và golf nhưng không giỏi lắm.

Âm hưởng chung trong cuộc sống của cựu hoàng hậu: cô đơn.

Bảo Đại thỉnh thoảng mới về Pháp, và đôi khi bà cũng cùng chồng tới casino xem ông đánh bạc. Những lần đó, nếu thắng bạc, ông vua mất ngôi sẽ tặng hết tiền cho vợ để mua sắm thời trang. Tuy nhiên, cái niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm lật đổ, ông chán đời bỏ đi tứ xứ, các con thì đã lớn, như chim bay đi…

Điền viên ở vùng quê Chabrignac: thú vui điền viên lánh xa nơi phù phiếm đô thành

Năm 1958, nhằm tránh mặt báo chí, dư luận và những người quen biết, bà Nam Phương đã rời bỏ cả Cannes xa hoa hay thành Paris hoa lệ và ồn ào. Những cơ ngơi đồ sộ ở Neuilly, hàng tá căn nhà lớn ở Morocco, biệt thự trên đại lộ Opéra, Paris hay trang trại rộng lớn ở Congo đều không còn sức hấp dẫn để có thể níu giữ nổi bà.

Nam Phương Hoàng hậu đã rời xa Paris 500km về phía nam, về làng Chabrignac, hạt Correze tỉnh Limousin, mua lại điền trang La Perche rộng 160 ha của một quý tộc Pháp đã sa sút làm nơi sống nốt những năm tháng còn lại. Điền trang đẹp như mơ có rừng bao quanh gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách… và một vườn hồng tuyệt đẹp. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại. Có lẽ bà hoàng xa xứ chọn nơi yên tĩnh này để nội tâm được bình ổn, sống kiểu nửa tu hành trong những năm cuối đời.

Hạnh phúc thực sự ở nơi đâu ?

Ngoài hoa lợi thu được từ cây trái trong điền trang, bà hoàng Nam Phương còn nuôi thêm khoảng 100 con bò sữa trên một trang trại lớn với 160 mẫu đất.
Tất cả những người con của bà đều sống với bà trong điền trang La Perche. Theo Daniel Grande Clemént, tác giả cuốn “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam” thì “dường như thời gian sống tại điền trang La Perche là những tháng năm bình yên và hạnh phúc nhất của Nam Phương Hoàng hậu”

Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Bố mẹ hoàng hậu, ông bà Nguyễn Hữu Hào, đã mua cho con gái bao nhà đất, những mong của cải vật chất tiện nghi có thể khỏa lấp nỗi buồn riêng của con gái…

Cựu hoàng hậu sống lặng lẽ với thú vui điền viên trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết các tài sản khác cho các con.

Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh. Vừa làm bà vừa khe khẽ hát. Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo.

Bà nuôi trong điền trang 4 công nhân nông nghiệp, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình, gần gũi. Trong các dịp lễ, Noel hay ngày đầu năm mới, bà đều không quên có quà tặng cho họ và gia đình. “Bà Hoàng hậu đẹp vẫn ngự trong tim” (La belle impératrice demeure dans les coeurs). Đó là đầu đề một bài báo điện tử của Pháp.

Năm 1947 ấy, bà cùn các con cuối cùng đã ra đi và không có lần quay về Việt Nam nữa, mặc dù trong lòng bà cũng đã có lần muốn về lại chốn quê hương. Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi dương cầm cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Tuy nhiên, trái ngược với ông chồng lúc nào cũng cần tiền để tiêu xài xa hoa, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui.  Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức.

Lucien Boudy – một cựu xã trưởng Chabrignac, cho biết Hoàng hậu Nam Phương

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quảng giao, thường xuyên đi thăm khắp điền trang để gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Vì thế dân làng rất quý mến bà. Từ chỗ xa lạ, sau 5 năm làm dân Chabrignac, bà đã để lại biết bao tình cảm trong tâm trí người dân địa phương. Họ xem bà là một cô-rê-diên (Người địa phương Correze) chính cống.

Người quản gia người Pháp: một vị trí đặc biệt bên cạnh cựu hoàng hậu

Đối với bà, người quản gia người Pháp có một vị trí rất đặc biệt. Thay cho vị trí của cựu hoàng, ông này luôn tháp tùng bà trong những chuyến làm khách, dự tiếp tân đối với các gia đình quyền quý ở trong vùng. Không ai có bằng chứng xác đáng nhưng dường như những người quen biết trong vùng đều cho rằng, ông quản gia này đã yêu Nam Phương Hoàng hậu.

Dân làng càng thương quý bà hơn khi biết Hoàng hậu đẹp, giàu sang, từng làm Đệ nhất phu nhân ở Việt Nam, nhưng đời sống tình cảm gia đình của bà những năm ở Chabrignac không vui lắm. Cựu hoàng Bảo Đại – chồng bà, ít khi đến thăm bà. Họ chỉ nhớ có một lần Cựu hoàng về Chabrignac vào tháng 1 năm 1962, nhân dịp Công chúa Phương Liên – con gái của ông bà, tổ chức lễ thành hôn với một người Pháp tên Bernard Soulain.

Hàng xóm công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi

Thế nhưng rất kỳ lạ, suốt 5 năm sống ở Chabrignac, bà vẫn không hề ghé thăm viếng lâu đài De La Nouche – nơi ở của Công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi ở, lấy một lần, dù hai điền trang nằm gần như cạnh nhau. Cả Công chúa Như Lý và Hoàng hậu Nam Phương đều có vẻ như không hề biết đến sự tồn tại của người kia trên cùng một vùng đất, dù trên quan hệ, Công chúa Như Lý là cô chồng của bà Nam Phương.

Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới

Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim. Ngày 14/9/1963, vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 km trở về, bà Nam Phương đã cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời đến đã khám qua loa và kết luận là bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày là khỏi. Kỳ thực, bà bị chứng lao hạch tràng hạt, cơn đau tiếp tục hoành hành dữ dội. Trước khi viên bác sĩ thứ hai kịp đến nơi thì Nam Phương Hoàng hậu, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở.

Một đám tang lặng lẽ không điếu văn

Bà mất vào ngày 15 tháng 9 năm 1963. Đám tang của bà rất lặng lẽ. Ngày đưa tang, ngoài hai Hoàng tử Bảo Long (1936), Bảo Thăng (1943) và ba Công chúa Phương Mai (1937), Phương Liên (1938) và Phương Dung (1942) đi bên cạnh quan tài của mẹ, không có mặt Bảo Đại và cũng không có một người bà con thân thuộc nào khác ngoài dân làng Chabrignac. Về phía quan chức Pháp thì chỉ có ông Quận trưởng Brive la Gaillarde và ông xã trưởng Chabrignac.

Những mộ phần vua chúa Việt Nam nhỏ bé ở một nơi đất khách: vua Hàm Nghi cũng trở về đây

Mộ phần của bà được đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse. Bà Bá tước De La Besse, tức Công chúa Như Lý cũng có mặt trong dòng người đưa tang của làng Chabrignac, với nỗi ân hận vì trước đó hai người đã không hề có cơ hội gặp gỡ nhau.

Ít lâu sau, Công chúa Như Lý đã lần lượt cải táng mộ Vua Hàm Nghi từ Alger về nghĩa trang này. Sau đó, Công chúa Như Mai, Hoàng tử Minh Đức cũng lần lượt được đưa về an táng tại làng Chabrignac, cách mộ của Nam Phương Hoàng hậu không xa lắm.

Mộ phần nhỏ bé, đơn sơ của một hoàng hậu nổi tiếng

Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận ra, vì có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đã cao và to phình. Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Trên ngôi mộ đơn sơ dựng một tấm bia đá giản dị. Mặt trước tấm bia ghi dòng chữ Hán: “Đại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng” (Dịch nghĩa: Lăng của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).

Nắp đậy huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi hình thánh giá và một tấm bia chìm đề hàng chữ tiếng Pháp “Sa Majesté Nam Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963”. Trên nắp huyệt dựng một tấm bia khác đề rõ hơn một chút “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963” (Tại đây an nghỉ Nam Phương Hoàng Hậu, tên gốc Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963).

Ngôi lăng của bà tuy khiêm tốn, bé nhỏ so với nhiều lăng mộ của người dân trong làng, nhưng nó được xem như một di tích lịch sử quý hiếm của vùng. Với niềm tự hào ấy, người chủ Domaine de la Perche ngày nay đã xây dựng khu nhà cũ và lăng mộ của bà thành một điểm du lịch ở trung tây nước Pháp.

“…Là một mệnh phụ phu nhân rất duyên dáng, đặc biệt thân thiện rộng rãi với dân làng. Bà cũng rất nhân đạo và yêu thương với người hầu kẻ hạ trong nhà bà” Có một nghịch lý là, hoàng hậu Nam Phương nổi tiếng là một Đệ nhất phu nhân đẹp nhất nước Nam, nhưng thời gian 5 năm bà làm dân Chabrignac và lăng mộ của bà ở Chabrignac, không mấy người Việt Nam ở Việt Nam hay ở ngay trên đất Pháp biết đến. Trong lúc đó người dân Chabrignac hạt Corrèze thì lại rất tự hào khi quê hương họ đã từng là nơi sinh sống 5 năm cuối đời và là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu đẹp nổi tiếng của Việt Nam. Lần đầu tiên có người Việt tới thăm mộ bà, là 35 năm sau khi bà mất…

Vậy là, một cuộc đời oanh liệt của hoàng hậu Nam Phương đã khép lại, không đài các, không lăng tẩm, chỉ có một ngôi mộ quá đỗi nhỏ bé đơn sơ ở nơi đất khách quê người.  Những ngày tháng buồn nhiều hơn vui. Tiền tài, của cải, vật chất, danh vọng, sắc đẹp… đã thoáng qua đi như bong bóng. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đức hạnh của bà lại là điều sống mãi…

Một kiếp người oanh liệt như thế, nhưng cuối cùng chỉ là: Sống gửi, thác về. Hãy trân quý những ngày chúng ta đang sống bằng cách sống thiện lương, đó có lẽ là điều sẽ lưu hương lại mãi, như cái tên bà hoàng hậu Nam Phương – Hương thơm từ Phương Nam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ẢNH HIẾM VỀ CUỘC SỐNG

NGƯỜI HOA TRÊN ĐẤT SÀI GÒN

TRƯỚC 1975

Nét văn hóa đặc trưng của người Hoa, Chợ Lớn – Sài Gòn đã được nhiếp ảnh gia Pháp Jack Garofalo tái hiện chân thực trong loạt ảnh chụp năm 1961.

H1: Ông bố người Hoa hút thuốc bằng tẩu bên 3 đứa con gái tại cửa hàng bán trang phục sân khấu của mình ở Chợ Lớn năm 1961. H2: Một thầy thuốc người Hoa mỉm cười khi đứng tại quầy thuốc của mình. Trước mặt ông là các loại bột đá và trà dùng để chữa bệnh.

H3: Một thợ đóng giày cao tuổi ngồi trong cửa hàng giày của mình, bên cạnh là một kệ trưng bày giày dép. H4: Một bé trai trong cửa hàng bán đồ trang trí ngày lễ của người Hoa. Nơi đây bán các loại đèn lồng, đầu lân, vòng hoa và cả các loại đồ chơi trẻ em bằng giấy.

H5: Cậu bé và chiếc lồng chim. Chơi chim cảnh là thú vui của nhiều gia đình người Hoa. H6: Một người phụ nữ đội nón lá đi qua cảnh xửa xếp treo đầy tranh ảnh tôn giáo của người Hoa ở Chợ Lớn. H7: Cụ bà người Hoa với gánh hàng bàn chải, chổi và quạt trên vai. H8: Trong một ngôi chùa của người Hoa ở Chợ Lớn.

H9: Những đứa trẻ tụ tập trong một hội quán người Hoa. H10: Hai cậu bé vui đùa trong khi tắm bên một con đường ở Chợ Lớn. H11: Khu ổ chuột bên kênh Hàng Bàng ở Chợ Lớn năm 1961.

H12: Đốt vàng mã trong chùa. H13: Cụ bà và những đứa trẻ người Hoa. H14: Nam diễn viên kinh kịch người Hoa đang vẽ mặt trước khi biểu diễn ở Chợ Lớn. H15: Khuôn mặt ấn tượng sau khi hoàn thiện việc tô vẽ.

H16: Hậu trường của các nữ diễn viên kinh kịch. H17: Một nữ diễn viên với khuôn mặt đã được vẽ xong. H18: Nam diễn viên kinh kịch trong vai nho sĩ. H19; Làm vịt để quay bán. (theo Kiến Thức)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

7 LOẠI CÂY KHAI VÃN NĂM MỚI

Năm mới sắp đến, hãy lựa chọn cây cảnh trang trí cho ngôi nhà thêm đẹp và mang đến nhiều may mắn hơn nữa cho mọi người trong gia đình.

Theo quan niệm của phong thủy, một số cây cảnh có tác dụng phong thủy như hoa cúc, hoa đào, hoa lan… Trồng những loại cây đó trong nhà sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho gia đình trong năm mới.

Hoa cúc

Ngày Tết, người ta thường thấy xuất hiện hoa cúc trong nhà, đặc biệt là hoa cúc vàng và đỏ… Bởi vì theo phong thủy, hoa cúc là biểu tượng của sự sống, tăng thêm phúc lộc cũng như sự hoan hỉ đến nhà. Trồng những chậu cúc nhỏ hay cắm hoa cúc có thể giúp ổn định phúc khí trong nhà. Cũng lưu ý rằng, hoa cúc nên đặt nơi có nhiều ánh sáng trong nhà để sự may mắn thêm mạnh mẽ và rực rỡ.

Cây quýt (quất)

Cây quất (hoặc quýt) tượng trưng cho sự thu hoạch và cũng là một khởi đầu tốt đẹp. Vì thế, vào đầu năm mới, ta thường thấy mỗi gia đình thường mua một cây quất (quýt) quả vàng xum xuê, lá xanh tốt với mong muốn khởi đầu một năm mới tốt đẹp, giúp gia tăng tiền tài và vận may cho các thành viên trong gia đình.

Hoa mai

Hoa mai thích hợp với khí hậu ở miền Trung và miền Nam nước ta. Mai vàng tượng trưng cho sự phú quý, giàu sang. Trong ngày Tết, mọi người thường mua cây (hoặc cành) mai vàng nhiều lộc bởi theo quan niệm của phong thủy, hoa mai nở đúng lúc giao thừa hay sớm mùng một sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng và hạnh phúc sẽ đến với gia đình trong năm đó.

Hoa đào

Nếu miền Nam chuộng hoa mai trong ngày Tết thì miền Bắc nước ta lại thường mua những cành đào để trang trí cho căn nhà vào những ngày đầu Xuân. Hoa đào không chỉ có tác dụng xua đuổi tà ma mà còn có thể mang đến nguồn sinh khí mới, giúp mọi người trong nhà luôn khỏe mạnh và bình an trong năm mới.

Hoa thủy tiên

Hoa thủy tiên được xem là loài hoa thanh tao, quyền quý. Trồng hoa thủy tiên có tác dụng khử tà, mang lại cát tường như ý cũng như tăng thêm tài khí cho gia đình.

Hoa thủy tiên là loại hoa rất khó trồng, hoa thường được trồng trong nước, hình dáng giống như củ hành tươi. Trước khi mua về, bạn nên tìm hiểu cách chăm sóc để cây hoa có thể sống thật lâu trong nhà.

Cây sung cảnh

Cây sung là loại cây khá dễ trồng và dễ sống. Chọn một cây sung có dáng đẹp và nhiều quả trang trí trong nhà vào ngày Tết cũng có thể mang đến sự no đủ và nhiều điều tốt lành cho năm mới.

Hoa đồng tiền

Cây hoa đồng tiền còn gọi là cây kim tiền. Trong những dịp đầu xuân năm mới, nếu trồng hoa hoặc cắm hoa đồng tiền sẽ mang đến nhiều tài lộc và tiền của cho gia đình.

Xuân Mai chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (9)

VỤ ÁN OAN CỦA

HẬU QUÂN LÊ CHẤT

Tuy đã chết 10 năm, Hậu quân Lê Chất, nguyên Tổng trấn Bắc Thành, vẫn bị vướng một vụ án oan khi bị vua Minh Mạng hạch tội, mộ bị san phẳng, vợ con bị án trảm giam hậu, tịch biên gia sản.

Cuộc đời của Lê Chất, cũng giống như người bạn thân của ông là Lê Văn Duyệt, đều lập nhiều chiến công hiển hách, sau khi giúp vua Gia Long thành công mỗi người được cử trấn giữ một đầu đất nước (Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành gồm toàn bộ các tỉnh miền Bắc, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định gồm toàn bộ các tỉnh miền Nam), nhưng sau khi đã chết, đều bị vua xử tội, mãi nhiều năm sau mới được giải oan.

Trong thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn xảy ra 3 vụ đại án, đó là các vụ xử Hoàng tôn Mỹ Đường (con Hoàng thái tử Cảnh), Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Các sử quan sau này đều cho rằng đây là ba vụ án oan.

1/. Lê Chất sinh năm 1769 (kém Lê Văn Duyệt 5 tuổi), mất năm 1826, quê ấp Bình Trị, xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, được gọi là Hậu quân Chất, nguyên là danh tướng của triều Tây Sơn, từng được phong tới chức Đô đốc.

Thuở nhỏ ông theo cha là Lê Trung học văn lẫn võ. Lê Trung theo Nguyễn Huệ từ sớm, còn Lê Chất, mãi đến năm Kỷ Dậu (1789) mới được Nguyễn Nhạc (lúc này xưng là vua Thái Đức) sử dụng, phong cho chức Thủy quân Đô tùy trông coi cửa biển Thị Nại. Sau khi Quy Nhơn thuộc về vua Cảnh Thịnh, Lê Chất được toàn quyền nắm giữ thủy binh với chức vụ Thủy sư Đô đốc.

Sau khi vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 9 tuổi, triều đình Tây Sơn bắt đầu lục đục vì các cuộc tranh giành quyền lực. Nhà vua bắt giết bố, vợ Lê Chất, lại lùng bắt ông khi đó đang cầm quân tại Quảng Ngãi, khiến Lê Chất phải dùng kế “kim thiền thoát xác”, dùng thi thể người khác giả là mình, rồi trốn vào rừng núi ở Trà Bồng, Quảng Ngãi.

Sau có người dụ hàng, Lê Chất về theo hầu chúa Nguyễn Phúc Ánh, lập nhiều chiến công, tuy nhiên cũng gây nhiều hiềm khích với các đại tướng, quan lại đứng đầu triều Nguyễn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức.

Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quy Nhơn. Lê Chất có nhiều công lao, giúp quân chúa Nguyễn hạ được thành, rồi theo Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm sau, khi quân chúa Nguyễn đánh nhau với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tại Bình Định, theo lời khuyên của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh kéo quân đánh ra Phú Xuân. Đến ngày 2 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.

Sau đó, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt được cử kéo quân vào đánh Bình Định, tuy lúc đầu bị hai tướng Tây Sơn là Trấn thủ Quảng Nam Phạm Cần Chánh và Trấn thủ Quảng Nghĩa Lê Sĩ Hoàng đánh bại, nhưng khi các tướng Tây Sơn biết tin Phú Xuân đã thất thủ, đành rút quân theo đường thượng đạo ra Bắc.

2/. Trong chiến dịch đánh ra Bắc năm 1802, Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, Bình Tây tướng quân, lần lượt đánh lấy các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, rồi kéo quân vào Thăng Long, bắt được vua quan nhà Tây Sơn, lập được công to, được phong tước Quận công. Khi đó, Đặng Trần Thường có lòng ghen ghét, bàn với các tướng rằng: “Chất mà được quận công thì lũ ta phải mười lần quận công”.

Lấy được Thăng Long, vua Gia Long cho đổi tên thành Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng trấn, Lê Chất là Hiệp Tổng trấn.

Năm 1803, ở Quảng Yên có giặc cướp, Lê Chất cầm quân đi đánh, có thắc mắc với tướng Nguyễn Văn Trương là sao Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành không đánh giặc, khiến Nguyễn Văn Thành bắt đầu gây lòng thù oán.

Năm 1820, vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi, Lê Chất vẫn được trọng dụng, được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, con là trai Lê Hậu được cho lấy Trưởng Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long. Con gái Lê Chất trước đó cũng được tiến vào cung làm vợ vua Minh Mạng, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên.

Lúc đương thời, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt là các khai quốc công thần, được vua Gia Long nể trọng. Tuy nhiên, sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đối xử với hai ông có phần giảm sút, có lẽ vì thế mà cả hai ông đều sinh bất mãn. Thái độ này đã gây vạ cho cả hai ông ngay cả sau khi đã chết.

Năm 1826, Lê Chất xin tạm nghỉ chức Tổng trấn Bắc thành về Bình Định lo việc tang cho mẹ, rồi mất ở quê nhà. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, tặng hàm Thiếu phó, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩnh.

3/. Năm 1835, sau khi Lê Văn Duyệt mất 3 năm, ở Gia Định, Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy làm phản, chiếm thành suốt 3 năm. Vì tội phản nghịch của con, Lê Văn Duyệt đã chết cũng bị xử tội, Tả thị lang bộ Lại Lê Bá Tú mới hạch tội Lê Chất sáu tội đại ác đáng phải xử lăng trì, và mười tội lớn nữa, trong đó gồm tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ.

Khi đình thần nghị tội, vua Minh Mạng dụ rằng: “Trước kia trẫm nghĩ hắn cùng Lê Văn Duyệt dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần, dù có mưu gian mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Nay đã có người tham hạch, vậy phải trái cho công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn cho đình thần đem mười sáu điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật mà nghi xử, duy con gái nào đã xuất giá cùng là cháu trai còn nhỏ thì tha”.

Các quan bàn rằng : Do Chất đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Vợ Chất là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay. Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương đọc và gửi ý kiến vế triều đình. Các quan ở địa phương đều tâu xin y lời nghị bàn của triều thần.

Vua Minh Mạng mới kết luận : “Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết thây cũng không là quá. Song nghĩ lại Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bị bổ áo quan, giết thây thì nắm xương thây của Chất cũng chẳng màng bắt tội”.

Sau đó, vua cho Tổng đốc Bình Phú (kiêm hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của Lê Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xứ” (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp). Vợ Lê Chất là Lê Thị Sa và các con là Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị án trảm giam hậu.

Gia sản của Lê Chất bị tịch thu, tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho sung công, rồi cho Tổng đốc Hà Ninh là Đặng Văn Hòa đem tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ. Người con gái Lê Chất tuy làm vợ vua sinh hoàng tử, cũng bị giam cho đến chết. Con Lê Chất là Lê Hậu lấy công chúa (cô ruột vua Minh Mạng) nhưng đã chết nên không liên quan.

Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị xử chém năm 1838. Lê Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu của Lê Chất là bọn Lê Luận được giảm tội, đày lên Cao Bằng để làm lính, đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ ân xá mới được tha về.

Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới dâng biểu xin gia ơn con cháu Thái tử Cảnh, cùng xin bổ dụng con cháu các đại thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Vua nghe cảm động, cho thi hành cả. Đến năm 1868 vua Tự Đức mới truy phong cho ông chức Tả đồn Đô Thống chế.

Cuộc đời của cha con Lê Chất mang nhiều bi kịch, cả hai ông đều lập được nhiều công trạng phục vụ cho chủ của mình, song cuối đời đều bị các vua sau đối xử bất công, tàn nhẫn. Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh chém đầu, Lê Chất bị Minh Mạng cho san bằng mồ mả, đều là những nỗi oan thiên cổ.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

NGƯỜI ĐÀN ÔNG BẤT NGỜ

SỞ HỮU “SIÊU NĂNG LỰC”

SAU KHI BỊ SÉT ĐÁNH

Không chỉ may mắn sống sót khi bị sét đánh, nhiếp ảnh gia người Úc tên Brian Skinner còn phát hiện ra mình bỗng dưng sở hữu khả năng đặc biệt: “đọc được” suy nghĩ của người khác.

Được biết, Brian đã bị sét đánh nhưng may mắn thoát chết trong một lần chụp ảnh tại bãi biển tại bờ biển New South Wales. Julia – người cộng sự của anh đã ghi lại cảnh tượng đó và chia sẻ lên mạng. Brian cho biết tia sét cách anh rất gần, có lẽ chỉ chưa đến 5m.

“Tất cả mọi thứ như đứng yên… rồi tia sét đi ra khỏi cơ thể tôi. Tôi cảm thấy mình như một luồng điện chạy xuyên qua tay, qua 5 ngón tay”, anh kể.

Thật may là Brian đã không phải chịu hoàn toàn tác động của tia sét và nhanh chóng chạy thoát khỏi hiện trường. Anh chỉ bị thương nhẹ phần bàn tay với những vết bầm tím và thâm đen. Brian tin rằng chính chiếc nhẫn vàng trên ngón tay đã hứng trọn những tác động kinh khủng của tia sét và cứu sống mình. Một bức ảnh cho thấy chiếc nhẫn bị là phẳng một phần sau khi bị sét đánh.

Ngay khi trở lại trong xe, tôi nhìn xuống bàn tay và thấy nó bị cháy đen”, anh cho biết. “Tia sét thực sự đã xuyên thẳng vào bàn tay phải của tôi, đi qua tất cả các ngón tay và bẻ cong chiếc nhẫn vàng trên tay tôi”.

Sau lần chết hụt đó, anh đã kinh ngạc phát hiện mình có những khả năng kì lạ trong một lần đến bác sĩ để chụp X-quang. “Trong khoảng một tuần, các giác quan của tôi đã nhạy bén hơn. Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ mà mắt thường không thấy được và nghe thấy mọi người ở khoảng cách rất xa. Thậm chí tôi có thể cảm nhận mọi vật bằng tâm linh”. Một tháng sau đó, Brian khiến mọi người bất ngờ khi tuyên bố mình có khả năng “đọc được ý nghĩ”.

“Tôi nhìn vào mọi người và thấy những gì họ nghĩ giống như họ đang nói chuyện với tôi. Tôi nghĩ rằng mình bị ảo tưởng, tôi nói với mọi người về những gì mình cảm nhận được và ai cũng thấy kỳ lạ”.

“Thật sự là nếu có ai đó bước vào phòng thì tôi sẽ biết được họ muốn nói gì với tôi. Tôi nghĩ, mình có thể trở thành Clark Kent hay siêu nhân hay không?”, anh cười nói.

Một chuyên gia tiết lộ rằng có thể cường độ của tia sét vẫn còn tồn tại trong cơ thể anh là nguyên nhân dẫn đến khả năng đặc biệt kia. Mặc dù từng suýt bị sét đánh chết nhưng Brian giờ đây vẫn tiếp tục hứng thú với công việc chụp ảnh những tia sét. Tuy nhiên với “siêu năng lực” đang sở hữu, dường như vị nhiếp ảnh gia này sẽ không còn gặp nguy hiểm tương tự trong tương lai.

Giờ đây tôi có thể cảm nhận khi có một cơn bão đến gần, tôi cảm nhận được năng lượng quanh bàn tay mình ngay cả khi đang ngủ”. (Lê Trúc Theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CHUYỆN VỀ BẦY SÓI “BÁO ÂN”

LẠI KÉO ĐẾN BẢN LÀNG “BÁO OÁN”

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Dù là ai cũng nên đọc 1 lần. Ông lão cứu thoát một con sói mẹ đang mang thai, sói mẹ vì báo ân mà dẫn theo cả bầy sói đến làng. Và điều không ngờ đã xảy đến, vị ân nhân của sói mẹ lại lãnh chịu cái chết thật bi thảm… Vì sao lại như vậy ?

Câu chuyện xảy ra vào những năm đầu thời Dân Quốc, thời thế loạn lạc, lòng người bất an. Thế nhưng, là một làng quê nhỏ hẻo lánh, thôn Thường Nhân lại được hưởng trọn một khoảng trời bình yên. Vậy nên không ít người bên ngoài tìm đến thôn lánh nạn, cho tới nửa năm sau trong thôn đã có mấy trăm nhân khẩu sinh sống.

Người có uy tín nhất trong làng là ông lão họ Lưu, tuổi chỉ mới ngoài 60. Dân làng kính trọng gọi ông là “Lưu lão” bởi không ai biết tên thật của ông là gì. Người làng chỉ biết thời trẻ ông Lưu từng gia nhập Nghĩa Hòa đoàn, đã từng chứng kiến các sự kiện lớn nhỏ của xã hội, hơn nữa ông còn thông hiểu âm dương, gieo quẻ bói toán, đến trung niên mới định cư ở làng. Bởi vậy lão Lưu càng được mọi người tôn kính hơn.

Hàng ngày ông Lưu thường dậy sớm lên núi hái thảo dược và quả mọng. Trong làng vốn không có nhiều ruộng, hơn một nửa dân làng không có đất canh tác, bởi vậy họ chỉ có thể vào rừng tìm kiếm thức ăn qua ngày. Hôm ấy, ông Lưu vừa lên núi thì giật mình nghe thấy tiếng rú thảm thiết vang vọng đâu đây.

Vừa định quay đầu chạy xuống núi, ông bỗng phát hiện một con sói nằm trên mặt đất đang ngước mắt nhìn ông. Vốn là người đã trải qua nhiều sóng gió, ông nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, cầm chắc con dao phòng thân mang theo mình. Con sói này tuy nhe nanh trợn mắt tỏ ra hung dữ, nhưng lại không thể động đậy. Thì ra nó bị mắc kẹt trong cái bẫy thú, vùng chân bị thương máu chảy loang lổ khắp xung quanh.

Ông Lưu nghĩ bụng : “Nếu cả đàn sói tìm đến hại người thì phải làm sao đây ? Chi bằng hãy nhân lúc nó bị thương mà trừ đi hậu hoạ vậy”. Nhưng khi tiến đến gần hơn, ông để ý thấy phần bụng của nó căng tròn, không giống như bị bỏ đói lâu ngày. Thì ra, đây là sói mẹ đang mang thai…

Ông Lưu sững lại. Nhìn sói mẹ đang vùng vẫy trong tuyệt vọng, đôi mắt nó ánh lên vẻ vô vọng như cố bảo vệ đứa con trong bụng, ông sực nhớ đến người vợ quá cố của mình. Nàng, cô gái của cuộc đời ông, người vợ mà thời trai trẻ ông hết mực yêu thương và trân trọng lại phải chết trong tay người Tây dương… Và đứa con, đứa con trong bụng nàng mà ông vẫn ngày đêm mong ngóng ấy, cũng trở thành một bào thai yểu mệnh. Vết thương lòng ấy cho đến nay vẫn còn nhức nhối khiến ông không thể nào quên.

Động vật liệu có tình cảm giống như con người hay không ? Ông Lưu ngập ngừng, nửa muốn tỏ ra lạnh lùng vô cảm, nửa muốn buông dao để cứu lấy một sinh linh đau khổ. Nhưng điều duy nhất mà ông biết là, chứng kiến cái chết của cốt nhục thân nhân có thể khiến người ta đau đớn cùng cực.

Ông Lưu nhìn sói mẹ mà không nói nên lời, con sói cũng nhìn ông bằng ánh mắt van nài, đầu cúi thấp xuống giống như một người mẹ đang khẩn khoản xin tha mạng cho đứa con của mình.

Rõ ràng đó chỉ là một con sói, một con vật mà người ta vẫn cho là hung dữ hoang tàn, vậy mà lại khiến ông xúc động mạnh mẽ. Dường như ông cũng thấu hiểu tâm can nó, và dường như nó cũng muốn nói với ông những lời mà – giống như nhiều chục năm về trước, nàng đang khẩn khoản cầu xin kẻ sát nhân ấy hãy dừng tay lại. Lòng mềm nhũn, ông bèn cẩn thận đi đến gỡ bỏ cái bẫy thú ở chân sói mẹ. Sau khi được gỡ bỏ cái bẫy thú, nó liền đứng dậy, ngoảnh đầu nhìn ân nhân lần cuối, rồi khập khiễng đi vào rừng sâu.

Trên đường trở về, ông Lưu thấy mí mắt cứ nháy liên hồi, trong lòng ông thấy điều gì đó bất an. Người ta thường nói rằng loài sói chỉ nhớ thù chứ không nhớ ân, mình tuy đã cứu nó một mạng, nhưng dù sao cái bẫy thú vẫn là người khác đặt. Hơn nữa con sói đó cũng đã phát hiện ra thôn làng, liệu có khi nào chúng kéo đến hại người thì phải làm sao ? Và lỡ như chúng làm tổn hại đến tính mạng dân làng, mình há không phải đã “thả sói về rừng” ư ?

Về đến nhà, ông Lưu vội lấy đồng xu gieo quẻ đoán cát hung, kết quả của quẻ tượng khiến ông giật mình kinh hãi: “Trong làng sẽ có họa ngập đầu, cả làng lầm than“.

Ông Lưu đứng ngồi không yên, quả đúng như ông đoán, trong làng ắt có tai họa ập đến, không biết sẽ chết bao nhiêu người ? Nếu tai họa là từ bầy sói, mà cả thôn chỉ có một khẩu súng săn, đối mặt với bầy sói đói hung tợn thì biết làm sao đây ? Ông cảm thấy hối hận, tự nhủ : Đáng lẽ lúc ấy mình không nên mềm lòng mới phải!

Ba ngày sau, chuyện mà ông Lưu lo lắng trong lòng cuối cùng đã đến. Nhưng không phải bầy sói mà là đám thổ phỉ. Mấy chục tên thổ phỉ cưỡi ngựa tay lăm lăm khẩu súng tràn vào trong thôn làng ngang ngược cướp bóc, ngay đến cả gia súc chúng cũng không bỏ qua.

Đám thổ phỉ dồn dân làng ra ngoài cổng làng rồi tha hồ cướp bóc, bắn giết những người chúng cho là “cứng đầu”, ngay cả người già và trẻ nhỏ chúng cũng không tha mạng. Như để giương oai hùm cọp, kẻ đứng đầu đám thổ phỉ bắn súng chỉ thiên rồi lớn tiếng quát lên ầm ĩ.

Tiếng hét vừa dứt, từ trên núi có tiếng sói rú lên vọng lại từng hồi từng hồi. Rồi một bầy sói xuất hiện. Lúc đầu chỉ là một con, hai con, rồi ba con, và hàng chục con sói ồ ạt phi đến. Một bầy sói cùng nhau rú lên, tưởng chừng như khắp bốn phương tám hướng đều là tiếng rú của bầy sói. Thật giống hệt tình cảnh “bốn bề khúc hát Sở quân”. Tiếp đó, mấy chục con sói lao thẳng đến đám thổ phỉ, chỉ trong nháy mắt đã bổ nhào đến nơi.

Đám thổ phỉ hoang mang nổ súng. Nhưng tiếng súng vang lên chưa được mấy hồi đã trở thành tiếng cắn xé của bầy sói. Dân làng ai nấy đều khiếp đảm, không thể ngờ rằng trên núi lại có nhiều sói hoang ẩn náu như vậy. Tiếng kêu la thảm thiết của đám thổ phỉ và tiếng cắn xé của bầy sói như rền vang cả một góc trời, người nào trông thấy đều không khỏi kinh hồn bạt vía.

Sau khi đám thổ phỉ đã bị triệt hạ, con sói đầu đàn uy phong lẫm liệt nhất trong bầy cùng với sói mẹ đi một vòng quanh ông Lưu rồi cúi đầu lạy tạ, sau đó dẫn bầy sói quay trở về núi. Chỉ trong nháy mắt đàn sói đã mất hút vào rừng sâu, trên mặt đất chỉ còn lại những vũng máu loang lổ, minh chứng cho một trận chiến kịch liệt vừa xảy ra.

Ông Lưu thổn thức trong lòng, không ngờ động vật cũng biết báo ân. Còn những người dân làng vừa chứng kiến sự việc thì xì xào to nhỏ với nhau :

– Không ngờ trên núi lại ẩn náu nhiều sói như vậy.

– Đám thổ phỉ này chết thảm quá, chỉ sợ mai kia bầy sói đến ăn thịt chúng ta, lúc ấy phải làm thế nào?

– Các ông không thấy sao, khi nãy chính mắt tôi trông thấy mấy con sói còn cung kính cúi đầu trước lão Lưu cơ đấy.

– Sao có chuyện kỳ lạ như thế ? Có khi nào lão Lưu là ma sói biến thành không ?

– Có lý, có lý, nhất định ông ta là ma sói biến thành rồi !

Sau một hồi bàn tán xôn xao, ai nấy đều nhìn ông Lưu với vẻ ngờ vực, có người tỏ ra khinh miệt, có người lại tỏ ra sợ hãi như nhìn thấy yêu ma. Bỗng một tiếng nói phá tan bầu im lặng : “Đánh chết con ma sói này !”, “Đúng rồi, đánh chết nó đi, đánh chết nó đi !”, “Bầy sói là nhà ngươi dẫn đến mà, phải không ?”.

Nói rồi, tất cả cùng hùa nhau kéo đến, có người cầm gậy gộc, có người cầm đá, có người cầm bất cứ thứ gì mà họ vớ lấy được, rồi ra sức đánh tới tấp ông Lưu. Sau khi ông Lưu chết đi, dân làng còn mời đạo sĩ đến làm phép trấn áp “con ma sói” để nó mãi mãi không được siêu sinh.

Ông Lưu có chết cũng không ngờ được rằng, tai họa ngập đầu trong quẻ bói của ông không phải ám chỉ bầy sói, cũng không phải ám chỉ đám thổ phỉ, mà là chính người dân trong làng mình.

Vào một đêm trăng, sấm chớp liên hồi nhưng không thấy đổ mưa, không biết nguyên nhân gì khiến thôn làng xảy ra hỏa hoạn, bầy sói trong bóng đêm phân tản ra bốn phía xung quanh ngôi làng, ngẩng đầu nhìn ánh trăng rú lên đau đớn…

Câu chuyện kết thúc đầy bất ngờ khiến mỗi chúng ta không khỏi suy ngẫm. Từ chuyện đàn sói báo ơn, cho đến việc dân làng dồn ân nhân của mình đến chỗ chết, lòng người không khỏi cảm thán: Phải chăng chỉ có con người mới dùng nghi hoặc để đối đãi với thiện tâm, dùng bạo hành để đáp lại ơn huệ ?

Năm xưa, Lão Tử vì thấy thế nhân hiểm ác nên vội vàng viết cuốn “Ngũ Thiên Ngôn” (Đạo Đức Kinh) rồi rời đi. Có lẽ Ông đã sớm hiểu rằng người ta không chết vì bầy thú hoang dại, không chết vì thiên tai địch hoạ, cũng không chết vì gươm đao khói lửa, mà chết vì lòng người quá nham hiểm !

Có câu chuyện kể về Mặc Tử xem người ta nhuộm vải. Ông thấy rằng khi những tấm vải trắng được nhúng vào thùng, chúng sẽ biến thành những tấm vải đủ loại sắc màu.

Và Mặc Tử đã khóc. Vì sao ông khóc ? Là bởi xã hội này cũng giống như thùng thuốc nhuộm, mà hễ bước chân vào đời, người ta sẽ bị nhấn chìm trong đó. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, bất cứ ai sinh ra cũng mang một tâm hồn thuần khiết. Nhưng rồi trải qua tháng năm bôn ba, qua quá trình phấn đấu, qua cuộc sống mưu sinh, thì bản tính ban sơ đã lấm bẩn bụi trần.

Vì thấu hiểu lẽ nhân sinh ấy mà cổ nhân luôn giảng về “Đức”. Bởi chỉ có Đức mới có thể đưa con người trở về với chân ngã của mình, chỉ có Đức mới có thể giúp người ta khỏi sa đoạ trong vũng lầy nhân thế.

Và chắc chắn là, nếu có thể sống trọn vẹn với chữ “Đức” này, chúng ta sẽ làm được “cả thế gian đều say, chỉ có mình ta tỉnh; cả thế gian đều vẩn đục, chỉ mình ta sạch trong”… (theo Lê Quang)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (8)

8 CÔNG TRÌNH ĐẦU TIÊN

CỦA SÀI GÒN XƯA

Khách sạn Continental, nhà hát Thành phố, Bệnh viện Chợ Quán, Bưu điện trung tâm… là những công trình đầu tiên được xây tại vùng đất Sài Gòn Gia Định với lịch sử hơn 300 năm.

1/- Nhà hát : Được khởi công năm 1898 và hoàn thành năm 1900, Nhà hát Thành phố mang kiến trúc Tây Âu. Các phù điêu bên trong được họa sĩ tên tuổi người Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát Pháp cuối thế kỷ XIX.

Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, nơi đây được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Đến tháng 5/1975, trở thành nhà hát thành phố đến nay. Nằm tại lõi Sài Gòn, nhà hát đa năng, là nơi biểu diễn sân khấu nghệ thuật và được sử dụng để tổ chức những sự kiện lớn.

2/- Khách sạn : Continental là khách sạn có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất thành phố. Tọa lạc trên đường Đồng Khởi – kéo dài từ bờ sông Sài Gòn đến Nhà thờ Đức Bà. Đây cũng là con đường sầm uất bậc nhất thời bấy giờ, có rất đông người Pháp cư ngụ.

Khách sạn này được ông Pierre Cazeau – nhà sản xuất vật liệu xây dựng và đồ gia dụng – khởi công năm 1878 và hoàn thành sau 2 năm. Kiến trúc, nội thất cũng như cách bài trí đều theo tiêu chuẩn của một khách sạn hạng sang tại Paris. Đây là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác và là chỗ tụ hội của du khách thập phương.

Sau ngày 30/4/1975, nơi đây được đổi tên thành Hải Âu. Đến năm 1989, công trình được tu sửa và lấy lại tên cũ Continental, rộng hơn 3.400 m2, cao 3 tầng. Khách sạn từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng thế giới. Hiện, Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần phát triển ngành du lịch TP HCM.

3/- Bệnh viện : Năm 1862, Bệnh viện Chợ Quán được một số nhà hảo tâm đóng góp xây dựng và quản lý. Toạ lạc trên khu đất rộng gần 5 ha tại làng Chợ Quán nằm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn, phía trước bệnh viện là sông Bến Nghé (nay gọi là kênh Tàu Hủ) chảy qua. Năm 1864, công trình được giao lại cho chính quyền thời bấy giờ quản lý.

Từ 1954 đến 1957, 2/3 cơ sở bệnh viện được sử dụng làm nơi điều trị bệnh lao cho binh lính và đổi tên thành Viện bài lao Ngô Quyền. Cuối năm 1957, bệnh viện được trả về cho dân sự, lấy lại tên ban đầu là Bệnh viện Chợ Quán.

Tháng 3/1974 bệnh viện mang tên mới là Trung tâm Y Khoa Hàn – Việt. Sau ngày 30/4/1975 nó được gọi bằng tên cũ. Đến ngày 5/9/1989, UBND TP HCM đổi thành Bệnh viện Bệnh nhiệt đới, trực thuộc Sở Y tế đến nay.

4/- Bưu điện : Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn, Pháp đã thiết lập hệ thống thông tin liên lạc. Năm 1860, “Sở dây thép” Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn) được thành lập. Ngày 13/1/1863, Sở dây thép Sài Gòn chính thức khánh thành và phát hành “con cò” (cách gọi con tem của người bản địa) đầu tiên. Một năm sau, người Sài Gòn bắt đầu gửi thư qua nhà “dây thép” (hệ thống bưu điện).

Năm 1886-1891, Bưu điện Sài Gòn được xây lại hiện đại, thay thế cho trụ sở và khu nhà ở cũ theo đề án của kiến trúc sư người Pháp là Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Từ ngày 1/7/1894 Sài Gòn bắt đầu sử dụng hệ thống điện thoại.

Đây là công trình kiến trúc mang phong cách Âu châu  kết hợp với nét trang trí Á châu . Phía trước ngôi nhà trang trí theo từng ô hình chữ nhật, trên đó ghi danh những nhà phát minh ra ngành điện tín và ngành điện.

5/- Nhà thờ : Nhà thờ Chợ Quán (20 Trần Bình Trọng, quận 5) xây lần đầu vào năm 1700 – được xem là nhà thờ có lịch sử lâu đời nhất tại Sài Gòn.

Theo học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Họ Đạo Chợ Quán gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của đất nước. Trong số di dân vào Nam đã có những giáo dân theo đạo Thiên Chúa. Họ tập hợp, tổ chức nhà nguyện và sau này là nhà thờ Chợ Quán.

Thánh đường Chợ Quán ban đầu chỉ là ngôi nhà thờ đơn sơ. Sau nhiều lần xây dựng rồi bị tàn phá vì thời cuộc (1720, 1727, 1733, 1775, 1789,1793).

Mãi đến năm 1882 (lần thứ 8), cha Nicolas Hamm về kế nhiệm đã đặt nền móng cho ngôi nhà thờ mới (nhà thờ tồn tại đến ngày nay). Thánh đường được khánh thành năm 1896 nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1.000 người.

6/- Đình : Xây dựng khoảng năm 1679, Thông Tây Hội được xem là ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và cả Nam Bộ. Hiện, nó còn khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ.

Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông – thôn khởi nguyên của Gò Vấp – sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội hiện nằm trên địa bàn phường 11, quận Gò Vấp.

Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương.

7/- Chùa : Huê Nghiêm tọa lạc ở đường Đặng Văn Bi (quận Thủ Đức), được xem là ngôi chùa cổ nhất ở Sài Gòn. Ngày nay, chùa thường được gọi là Huê Nghiêm 1 để phân biệt với chùa Huê Nghiêm 2 ở quận 2. Chùa được Thiền sư Thiệt Thụy – Tánh Tường (1681 -1757) khai sơn vào thế kỷ XVIII. Nhiều tư liệu xác định năm thành lập là 1721.

Lúc đầu, chùa được xây ở vùng đất thấp, cách chùa hiện hữu khoảng 100 m. Sau đó, bà Nguyễn Thị Hiên (1763-1821) pháp danh Liễu Đạo, tự Thành Tâm, đã hiến đất để xây lại. Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần, lớn nhất là vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý – Huệ Lưu tổ chức.

Kiến trúc của nó được thay đổi ở những lần trùng tu năm 1960, 1969, 1990 và 2003 với mái ngói chồng diêm, các đầu đao cong vút. Bờ nóc mái trang trí những hoa sen cách điệu. Khuôn viên chùa khá rộng, có nhiều tháp cổ. Tam quan chùa và đài Quan Âm ở sân trước chùa được xây vào năm 1990.

8/- Cầu : Là một trong những cây cầu cổ xưa nhất còn sót lại ở Sài Gòn, cầu Mống bắc qua kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa). Cầu mang đậm nét phương Tây, do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries Maritimes đầu tư và công ty Levallois Perret (tức Eiffel cũ) thi công vào năm 1893-1894.

Dài 128 m, rộng 5,2 m, cầu có lề bộ hành rộng 0,5 m và được xây bằng thép kiên cố. Thành cầu uốn cong có những khoảng trống, sơn xanh (ban đầu cầu có nước sơn màu đen). Hình dáng vòng cung giống cầu vồng nên người dân gọi tên là cầu Mống. Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông – Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì nó được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật.

Hiện, cây cầu hơn 100 tuổi đã được khôi phục dành cho người đi bộ – là nơi chụp ảnh cưới, ngắm cảnh về đêm, đứng xem pháo hoa mỗi dịp lễ, tết của người dân Sài Gòn.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ THẬT VỀ CÁCH

ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI LA MÃ

Người La Mã cổ nổi danh về thói rượu chè bê tha và yến tiệc phung phí – dẫn tới thói nôn ợ tai tiếng, những câu chuyện đó phần lớn là giai thoại, hoặc được đưa ra như những thông điệp về đạo đức và cảnh báo về thói phung phí xa xỉ. Sự thực, cách ăn uống người La Mã cổ hoàn toàn khác hẳn.

Bữa ăn của người La Mã cổ trong suốt thời kỳ Đế quốc (753 đến 509 trước công nguyên) khá giống với chế độ ăn của người Hy Lạp cổ. Khá đơn giản và tương đối ít loại thực phẩm, người La Mã trong giai đoạn này chủ yếu ăn cháo yến mạch (gọi là puls) được nấu từ lúa mì, muối, dầu ôliu và rất nhiều loại gia vị. Họ còn ăn rau, trái cây, thịt, cá và hải sản và thường sử dụng dầu ôliu, muối, hạt tiêu cùng nhiều loại gia vị.

Các bữa ăn gồm có : jentaculum (bữa sáng), cena (bữa trưa) và vesperna (bữa tối). Trong bữa sáng người La Mã chỉ ăn nhẹ và thường ăn bánh mì với mật ong hoặc pho mát. Họ ăn nhiều vào bữa trưa và đây là bữa chính trong ngày, trong khi đó bữa tối gồm cả bữa ăn nhẹ vào buổi đêm.

Dưới thời kỳ Cộng hoà và thời kỳ Đế quốc, khi đế quốc La Mã đã bành trướng và trở nên giàu có hơn, nguồn thực phẩm vì thế cũng phong phú. Người La Mã được làm quen với nhiều loại thực phẩm và cách nấu nướng của các tỉnh thành. Bữa trưa có nhiều món hơn và chuyển dần sang buổi chiều (vào khoảng từ 2 đến 3 giờ chiều), các loại thực phẩm cũng đa dạng, và không còn bữa tối (bữa khuya nhẹ) nữa. Bữa trưa trong quá khứ được thay thế bằng một bữa ăn, tương tự như một bữa trưa nhẹ.

Bữa trưa, ban đầu thường chỉ có một món, trong thời kỳ Cộng hoà đã có tới hai món; món chính và món tráng miệng, gồm có hoa quả và hải sản. Vào cuối thời kỳ Cộng hoà, bữa trưa biến thành bữa ăn có ba món: món khai vị (gustatio), món chính (primae mensae) và món tráng miệng (secundae mensae).

Đứng, ngồi, nằm: những thói quen ăn uống biểu thị tầng lớp xã hội.

Có rất nhiều sự khác biệt trong thói quen ăn uống của tầng lớp bình dân và quý tộc và những khác biệt này trở nên ngày càng lớn hơn trong thời kỳ Cộng hoà và Đế quốc. Ví dụ, Người La Mã bình thường không có khả năng mua thịt và các thực phẩm lạ lùng đắt tiền từ các tỉnh thành. Họ thường ăn cháo yến mạch nấu từ lúa mì, muối, mỡ và nước (puls) cùng bánh mì rắc muối.

Người giàu hơn cũng ăn cháo yến mạch nhưng có cho thêm rau, thịt, pho mát và nhiều loại gia vị khác. Tầng lớp người La Mã bình dân (và nô lệ) ngồi ăn quanh một chiếc bàn trong khi những người giàu ngồi hoặc nằm tựa trên những chiếc trường kỷ trong một gian phòng gọi là triclinium.

Trong thời kỳ Cộng hoà và Đế quốc, tầng lớp trên có thói quen dùng bữa trưa vào buổi chiều và không còn ăn bữa tối hay bữa khuya. Những người La Mã bình dân không thể mua nổi dầu thắp đèn vào buổi tối và hay đi ngủ sớm để dậy đi làm vào sáng hôm sau. Họ vẫn dùng bữa trưa vào buổi trưa và dùng bữa tối hay bữa khuya ngay trước khi đi ngủ.

Họ không dùng loại bánh mì chúng ta thường biết

Bánh mì là loại thực phẩm chủ yếu thường được ăn với mật ong, dầu oliu, pho mát hay trứng, người La Mã cổ còn nhúng bánh mì vào rượu vang. Ở thành phố Pompeii, người ta đã phát hiện ra hơn 30 lò nướng bánh và nhiều cối xay để nghiền các loại hạt, điều này chứng tỏ rằng người La Mã cổ ăn nhiều bánh mì! Bánh mì thường là những ổ bánh dẹt hoặc hình tròn và được ăn với chút muối (không phải là bơ như chúng ta vẫn tưởng tượng).

Phan Tất Đại chuyển tiếp

10 BẢO VẬT ĐƯỢC CHÔN

TRONG LĂNG MỘ CỦA TỪ HY

Được xem là người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất trong lịch sử Trung Hoa, Từ Hy Thái còn nắm giữ rất nhiều báu vật quý giá của thời Trung Hoa cổ đại. Trong đó phải nói đến số báu vật được chôn trong lăng mộ của bà.

Trong số những báu vật được Từ Hy Thái hậu mang theo vào lăng mộ có 10 báu vật quý giá dưới đây :

1/. Trân bảo Dạ Minh Châu : Theo tư liệu ghi chép lại, khi Từ Hy Thái hậu mất đi, người ta đã chôn bà cùng với một viên Dạ Minh Châu ngậm ở trong miệng. Viên Dạ Minh Châu này có thể tách ra thành hai khối và khi ghép lại sẽ tạo thành hình cầu. Khi tách ra, hai nửa Dạ Minh Châu có màu trong suốt nhưng khi ghép lại nó tạo thành một đường ánh sáng. Ban đêm, viên Dạ Minh Châu này phát sáng và chiếu rọi được trong một phạm vi 100 bước.

Có thông tin cho rằng, viên Dạ Minh Châu này có tác dụng làm cho thi thể không bị hủy nên khi mở quan tài Từ Hy Thái hậu, người ta phát hiện bà như người đang ngủ. Chỉ khi gặp gió thì mặt của bà mới bị biến thành màu đen.

Dạ Minh Châu là một trong những kiệt xuất của văn hóa cổ xưa của thế giới. Đồng thời nó còn là một bí ẩn của tự nhiên, lịch sử và văn hóa. Học giả Vương Xuân Vân, người nghiên cứu châu báu tự nhiên của Trung Quốc cổ đại cho biết : Viên Dạ Minh Châu mà Từ Hy Thái hậu ngậm trong miệng khi chết là một khối hình tròn có trọng lượng khoảng 78,28 cara đá kim cương.

2/. Phỉ thúy dưa hấu : Từ Hy Thái hậu giữ gìn báu vật này giống như mạng sống của mình. Báu vật này luôn được Từ Hy Thái hậu đặt ở tủ kiên cố nhất và có khóa. Nếu muốn mở khóa này, phải dùng chìa khóa vặn 5 lần sang bên trái thì mới mở được, nếu vặn sai hướng hay nhiều hơn, ít hơn 5 lần thì đều không mở được.

Từ Hy Thái hậu còn phái 3 Thái giám thân tín ngày đêm trông coi căn phòng giữ báu vật này. Thi thoảng, Từ Hy Thái hậu lại sai người mang báu vật này về phòng ngắm và cho người khác thưởng thức. Đây là thiên hạ độc nhất vô nhị bảo vật.

3/. Bạng Phật (Phật ngọc trai) : Bảo vật này được làm rất công phu và cầu kỳ từ những viên ngọc trai để tạo hành hình dáng Phật, sau đó người ta đặt nó vào trong cơ thể của con trai để con trai tiết ra một lớp bao xung quanh vật này. Sau một thời gian dài, lớp này phủ lên báu vật kia càng ngày càng dày và cuối cùng tạo thành một hình tượng Phật ngọc trai sáng bóng.

Đương nhiên, mỗi một “Bạng Phật” này sẽ là một báu vật vô giá. Từ Hy Thái hậu chôn theo 18 pho tượng “Bạng Phật” này nhưng cuối cùng đều bị đào trộm mất. Hiện tại người ta vẫn chưa thể xác minh được những pho “Bạng Phật” bị đào trộm này đang ở đâu.

4/. Thúy ngọc cải trắng : Đây là vật phẩm vô cùng trân quý và có tiếng tăm rất lớn. Đây là vật mà Từ Hy Thái hậu yêu thích nhất khi còn sống. Cây cải trắng này đang nhú lên chồi non xanh. Ngoài ra, đi cùng cây cải này còn có hai con bò vẽ màu đỏ và vàng giao nhau. Báu vật này rất sống động, được chế tác rất tinh xảo. Thúy ngọc cải trắng này có tạo hình vô cùng giống với cây cải trắng thật. Nó là từ một hòn thúy ngọc lớn, qua mài và đẽo mà thành.

5/. Hoa sen ngọc thạch : Thời Trung Quốc cổ đại, “Ngọc tỷ”, “Bích tỷ” là biểu tượng của Hoàng đế, Hoàng hậu ngụ ý là quyền lực, tránh ma quỷ và đem lại may mắn. “Bích tỷ” này là bảo vật mà Từ Hy Thái hậu thường đặt bên gối. Theo ghi chép, khi Từ Hy Thái hậu chết, có chôn theo một đóa hoa sen được làm từ ngọc xanh có trọng lượng khoảng 5.092 gram.

5/- Cây san hô : Từ Hy Thái hậu đặc biệt yêu thích cành san hô xinh đẹp tráng lệ này. Đầy khắp thân của những cành san hô lớn này là những nhánh san hô nhỏ là những cây anh đào, lá xanh, quả hồng vô cùng sáng. Ngoài ra trên cây còn có một gốc anh đào và một đôi chim bói cá được khảm từ ngọc.

7/. Ngọc sen : Ngọc sen là báu vật mà Từ Hy Thái hậu rất yêu thích. Bên trên ngọc sen này còn có lá sen màu xanh mọc ra và nở ra một bông hoa sen màu hồng phấn. Bên cạnh hoa sen còn treo mấy viên mã thầy màu đen, trông vô cùng tinh xảo và tráng lệ. Nhưng sau khi ngôi mộ này bị đào trộm, báu vật này cũng không rõ đang ở đâu.

8/. Chăn kinh được dệt từ sợi vàng : Trên thi thể của Từ Hy Thái hậu có đắp một tấm chăn được dệt từ gấm Minh Hoàng và những sợi vàng. Trên tấm chăn này được dệt 25.000 chữ kinh văn Đà La Ni. Trên tấm chăn kinh này còn được điểm xuyết 820 viên ngọc trai vô cùng giá trị.

Có thông tin cho rằng, ngôi mộ Từ Hy Thái hậu sau bị đào trộm, chúng đã lấy đi những viên ngọc trai ấy và vứt lại tấm chăn này trên mặt đất. Đến năm 1979, lúc dọn dẹp cung điện dưới mặt đất này người ta mới phát hiện ra. Ngoài ra, bên trên tấm chăn có chữ kinh này còn được phủ bởi một lớp chăn được đan 6.000 viên ngọc trai quý giá. Đây cũng là báu vật vô giá.

9/. Mũ phượng : Đời nhà Thanh, trên mũ phượng hoàng của Từ Hy Thái hậu có gắn 9 con phượng hoàng. 9 con chim phượng hoàng này trong miệng đều ngậm 9 viên Dạ Minh Châu. Mỗi viên Dạ Minh Châu này có kích cỡ to nhỏ là khác nhau. Từ trong bóng tối, những viên Dạ Minh Châu này có thể phát ra ánh sáng trắng, khi đặt ở bên ngoài chỗ có ánh sáng thì nó lại khôi phục nguyên dạng như ban đầu.

10/. Linh lung bảo tháp : Có tài liệu nói rằng, Linh lung bảo tháp này hoàn toàn dùng ngọc mà chế tác thành. Với từng chi tiết tỉ mỉ và công phu như vậy, đòi hỏi phải có thợ thủ công tay nghề tinh xảo và thời gian dài mới hoàn thành được.

Ngoài 10 báu vật nổi tiếng trên, trong lăng mộ của Từ Hy Thái hậu còn rất nhiều ngọc trai và những vật phẩm có giá trị khác. Quả thực, những báu vật này không chỉ thể hiện Từ Hy Thái hậu là người giàu có đệ nhất thiên hạ mà nó còn thể hiện nền văn hóa chế tác tinh xảo của Trung Hoa cổ đại. (theo Daikynguyen)

Xuân Mai chuyển tiếp

GẦN 2.000 NĂM QUA

KHÔNG AI DÁM TRỘM MỘ

GIA CÁT LƯỢNG

Hơn 2000 năm trở lại đây, những phần mộ hoàng đế liên tục bị đào bới, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn là một trong những ngôi mộ hiếm hoi không bị động đến. Không chỉ hoàng đế, đến mộ của các vương công đại thần cũng đều bị ăn cắp. Những vị quý   tộc này muốn sau khi chết vẫn được hưởng vinh hoa phú quý như khi còn sống nên đã bỏ rất nhiều vàng bạc, châu báu vào trong quan tài, vì thế nên bị bọn trộm mộ đã vào lấy cắp hết.

Từ Hy thái hậu chết chưa được bao lâu đã bị Tôn Điện Anh trộm mộ, thân xác bị phơi giữa trời. Vì thế những vị vương công đại thần theo chủ nghĩa tiết kiệm xem ra vẫn an toàn “tính mạng” hơn.

Gia Cát Lượng là một nhân vật đặc biệt quan trọng thời Tam Quốc, ông là thừa tướng nước Thục, chức cao quyền trọng, về lý thì phường trộm mộ phải đào mộ của ông mới đúng, vậy mà cả nghìn năm sau mộ ông vẫn không hề bị động vào. Vì sao lại thế ? Không thể không thừa nhận Gia Cát Lượng là một trong những nhân vật đặc biệt, lăng mộ của ông không bị trộm cắp vì ba lý do sau:

Thứ nhất, Gia Cát Lượng nhiều mưu lắm kế, phường trộm cắp lo sợ ông cài bẫy trong đó nên sẽ khó giữ được tính mạng của mình. Lịch sử Trung Quốc hàng nghìn năm chưa có mấy ai cao trí, cao mưu được như Gia Cát Lượng.

Kế “thuyền cỏ mượn tên” hay “thành không nhà trống”, ngồi ung dung đánh đàn mà vẫn xua tan 15 vạn quân của Tư Mã Ý đã phần nào nói nên trí tuệ siêu phàm của ông. Phường trộm mộ biết, với trí tuệ của Gia Cát Lượng chắc chắn trong mộ ông sẽ phải bố trí rất nhiều bẫy, không sợ trộm mộ đến, chỉ sợ trộm mộ không dám đến mà thôi. Phường trộm mộ cũng không dại, trí tuệ của ông ở mức phi thường, chẳng may khi đào mộ ông lên, cung tên, thuốc độc bắn lên chết hết thì làm thế nào ?

– Thứ hai, Gia Cát Lượng là người luôn luôn tiết kiệm. Cả đời ông trong sạch, an phận thủ thường, lúc lâm chung vẫn yêu cầu tang lễ giản đơn, đến áo liệm không cần mặc, chỉ cần mặc quần áo ngày thường là được. Một vị thừa tướng tiết kiệm đến mức này thì thật là đáng khâm phục !

Với tính cách của ông thì không thể có chuyện ông bỏ nhiều vàng bạc châu báu vào trong quan tài của mình được. Vì thế, dù có mở nắp quan tài của ông ra thì phường trộm cắp cũng sẽ chẳng lấy được gì. Những tên trộm mộ cũng đã tính toán kỹ, dù trộm mộ của ông có kiếm được nhiều tiền chăng nữa thì cũng không bằng giữ được sức khỏe, tính mạng của bản thân, đây là một phi vụ làm ăn không có lời.

– Thứ ba, Gia Cát Lượng được người đời tôn kính, đến phưởng trộm cắp cũng tâm phục khẩu phục. Ông không chỉ là người có trí tuệ, mà còn là một trung thần. Lưu Bị trước khi chết có nói rằng nếu Lưu Thiện không làm được lập tức phế truất, giao ông toàn quyền. Lòng độ lượng của Lưu Bị quả là vĩ đại !

Gia Cát Lượng đã làm thế nào ? Ông vẫn một mực trung thành phụ tá Lưu Thiện mà không hề làm phản. Với người có chút dã tâm là có thể phế truất Lưu Thiện ngay tức thì nhưng với Gia Cát Lượng thì không. Sự việc này đã lưu truyền hậu thế ngàn năm, đến trộm còn khâm phục tôn kính ông. Đấy chính là lý do mấu chốt vì sao mộ Gia Cát Lượng không bị đánh cắp.

– Đám Tang Nổi Tiếng Lịch Sử Gia Cát Lượng Khổng Minh

https://youtu.be/myVLK2fA5Bg

Phan Tất Đại chuyển tiếp