O HUẾ VÀ PHỤ NỮ SÀI GÒN

TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”

Bà xã của tôi là một cô gái Huế, nói theo kiểu Huế là một o Huế. Dù cho bây giờ o Huế của tôi đã phần nào không còn là “rặc” Huế nữa, nhưng chỉ cần là sinh ra tại làng Phú Xuân và đi học ở trường Đồng Khánh, là đủ tiêu chuẩn o Huế rồi.

O sinh ra và đi học ở Huế, nhưng lớn lên một chút thì theo gia đình dọn vào Đà Nẵng, rồi khi lên đại học thì vào Sài Gòn.

Như thế là qua thời gian “chất Huế” của o cứ “loãng” dần theo mỗi chặng đường xuôi Nam. Nhưng có lai thì cũng chỉ lai một chút ở cái giọng nói nhẹ bớt đi thôi, chứ o vẫn là một o Huế chính hiệu.

Tôi gặp o khi lần đầu bước chân vào trường ĐHSP. Hình ảnh ban đầu ấy cho tới bây giờ vẫn còn in đậm trong trí tôi. Một o Huế với mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, với chiếc “băng đô” màu tím Huế đi kèm với cặp kính cận sẫm màu trà rất hợp với khuôn mặt của o. Chiếc áo dài trắng đơn sơ, vừa kín đáo vừa quyến rũ của o, cứ bay bay theo gió khi o ngồi trên chiếc Yamaha màu xanh đời cũ của những năm 66-67, đi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm.

Có khi o đi một mình, có lúc o chở thêm cô bạn thân cùng lớp. Hình ảnh đó cứ lập đi lập lại mà trở thành quen thuộc, đến độ mới gần đây tôi tình cờ thấy một tấm ảnh trên “net” được chụp từ phía sau o với cô bạn gái, làm cho tôi chợt kêu lên : “Ai chụp tấm hình nầy vậy ?”. Cũng mái tóc đó, dáng dấp đó, chiếc áo dài đó, cũng chiếc xe cùng hiệu, cùng đời, cùng màu với xe của o.

Tấm ảnh giống đến 99,5%, khi tôi gởi tấm ảnh nầy cho cô bạn của o xem, thì cô bạn cũng kêu lên : “Tấm hình nầy chụp hồi nào vậy ?”. Sau đó tôi xem kỹ lại thì thấy có một chi tiết làm tôi ngờ ngợ là không có… bảng số xe và cái giỏ phía trước.

Thế đấy, tôi giật mình khi thoáng thấy lại cái hình ảnh của o hơn 40 năm trước, tôi cũng hồi hộp xôn xao giống như khi nhìn o lần đầu vậy. Lạ lắm, không biết có ai giống tôi không ? !!!

Có đôi lúc, o thỏ thẻ cất giọng nhẹ nhàng như rót mật vào tai mà hỏi tôi rằng : “Sao mình không chọn một o Nam giống mình hay o Bắc, mà lại chọn o Huế vậy ?”. Thiệt là không biết trả lời sao, khi “thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng em”.

Chính o cũng nhìn nhận một cách hết sức chủ quan là các o Huế…. “không đẹp” như hoa hậu, nhưng nếu làm người mẫu chụp ảnh thì…. điệu không ai bằng. Còn o Nam hay o Bắc thì tôi không dám lạm bàn, nếu lỡ nói bậy rất dễ…. cháy nhà lắm. Chỉ dám nói tới o Huế của tôi thôi, thì o “dễ thương chi lạ” !!!

Mà không phải đến khi gặp o trong sân trường đại học thì tôi mới thích cái “chất Huế” của o, với giọng nhỏ nhẹ đầy dấu nặng hay qua dáng vẻ dịu dàng khép nép rất bắt mắt của một nữ sinh Đồng Khánh ngày nào.

Tôi đã từng kể chuyện cho o nghe về việc học hành thời niên thiếu của mình.

Khi ấy vào khoảng năm học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó (lớp 8, lớp 9 bây giờ) ở trường HNC Gia Định, có một cô giáo trẻ mới ra trường về dạy lớp của tôi. Đó là cô N, dạy Anh văn. Giờ đầu tiên của cô giáo làm cho tôi rất thích thú với giọng Huế khá nặng của cô, nhưng lại rất êm tai. Các bạn trong lớp cũng hào hứng khi bỗng đâu một cô tiên thật là ngọt ngào hiền dịu lại lạc vào cái đám nam sinh quỷ quái chúng tôi.

Những giờ học sau đó của cô càng chứng tỏ cái “sức Huế” nó mãnh liệt biết chừng nào. Bọn học sinh chúng tôi cứ mong đến giờ Anh văn, cả lớp im phăng phắc ngóng cổ lên để nghe cô giáo….. nói tiếng Huế, chứ nào có thiết gì đến bài học tiếng Anh đâu. Sự trật tự của lớp tôi dành cho giờ dạy của cô giáo mới chưa bao giờ nặng lời quát mắng học trò, là một ngoại lệ hiếm có.

Nhưng rồi những ngày vui thường qua mau. Khoảng chừng ba bốn tháng sau, cô giáo N không còn dạy lớp tôi nữa vì nghe đâu cô đi… lấy chồng và đổi về trường khác.

Thế là tôi hụt hẫng, mất ăn mất ngủ nhiều tháng trời sau đó. Kỷ niệm của tuổi mới lớn nầy đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tôi cho mãi đến bây giờ.

Từ khi tôi biết o Huế đến nay là tròn 43 năm, thời gian không dài lắm nhưng có đôi lúc tôi quên béng đi là tôi có một o Huế bên cạnh, nếu không có vài sự kiện thỉnh thoảng cứ xảy ra “nhắc nhở” tôi.

Vợ chồng tôi khi ra ngoài đi phố, đi chợ búa hay đi đâu đó chút việc, nhiều khi tình cờ gặp một dân Huế nào đó bắt chuyện, thì sau câu chào xã giao thông thường là đến câu thứ hai với giọng điệu mừng rỡ của vị khách lạ:

– “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?”

– “Dạ, tui ở gần cầu Kho Rèn”.

Rồi sau đó là những câu thăm hỏi rối rít vồn vã thân tình giữa hai người, làm như thể cả hai đã quen nhau “từ kiếp trước” rồi. Khi đó tôi bắt đầu đóng vai kẻ thứ ba nhìn hai người nói chuyện mà tôi chẳng hiểu gì cả. Chỉ nội mấy cái địa danh, mấy cái tên ông Nghè, ông Tổng gì đó đã lạ hoắc, nói chi nó được phát âm bởi giọng Huế đặc sệt thì… hết biết luôn.

Hồi lâu sau khi mãi mê với “Huế của mình”, người khách lạ mới sực nhớ lại quay sang hỏi tôi :

– “Còn anh là người ở mô ?”

– “Dạ, tôi là dân Sài Gòn”.

Người khách nhìn tôi như có ý tò mò, nhưng tôi đoán trong đầu anh ta đang thắc mắc là không hiểu sao tôi là dân ở tuốt trong Nam mà lại rinh được một o Huế xa lắc xa lơ “ngoài nớ”. Cái tình cảnh vừa kể trên không phải tôi chỉ đụng một lần, mà hễ gặp dân Huế đâu đó là y như rằng cái điệp khúc “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?” lại bắt đầu và rồi….. cứ thế tới luôn !!!

Các bạn nào có bà xã là o Huế thử xem tôi nói có đúng không ? Dân Huế cứ gặp nhau là rất mừng rỡ, nhất là ở hải ngoại nầy. Họ coi như “chất Huế” là tài sản riêng của con dân đất Thần Kinh, tất cả ai có dính dáng chút xíu đến Huế là đương nhiên trở thành thân thuộc, là người trong nhà với nhau từ thời…. ông Bành Tổ !!!

Đây có lẽ là một đặc điểm trong văn hóa ứng xử của riêng dân Huế, vì tôi không thấy điều nầy ở người miền Nam hay miền Bắc. Chưa hề có một người Nam nào hỏi tôi: “Bộ anh là người Nam hả ?” !!!

Tôi chỉ hay nghe nói “người Nam”, “người Bắc”, chứ hình như ít ai nói “người Trung”. Người Nam thường không phân biệt miệt nào, còn người Bắc đôi lúc có xác định “người Hà Nội”, “dân xứ Nghệ”…..

Riêng “dân Huế” nhất định không cho mình lẫn lộn vào cụm từ “người miền Trung”, mà phải chỉ đích danh “Huế” mới chịu. Mà cũng phải thôi, có lẽ do ở khúc giữa nầy thường bị chia vụn ra như “người Đà Nẵng”, “dân xứ Quảng”, “gốc Bình Định”, “người Nha Trang”, “dân Phan Thiết”. v.v…, nên người Huế “buộc lòng” phải dành riêng cho mình một vương quốc “quý tộc”.(?) Chứ chẳng phải các o Huế kênh kiệu đâu….

Mới đây có người bạn email cho tôi một truyện ngắn dí dỏm “Vợ chồng như khách khứa” của NTTD. Tựa truyện nầy phát xuất từ câu “Phu phụ tương kính như tân”. Ở đây tôi không bàn đến nội dung truyện mà chỉ muốn nói đến chữ “tân” là “khách”.

Tại sao vợ chồng lại phải đối xử với nhau như là khách. Đã là khách thì khách sáo rồi. Đã là khách thì còn gì là chân thật, còn gì là tình tứ lãng mạn nữa. Đã làm khách với nhau thì miệng mồm xởi lởi, rào trước đón sau, tay bắt mặt mừng, nhưng không biết câu nào là thật, câu nào là giả. Đã là khách thì phải dè dặt xem lời nào là nói suông miệng, câu nào là gài độ, khi nói bông đùa mà nghe ra như xiên xỏ !!!

Thế mà cứ bảo vợ chồng phải xem nhau như khách khứa thì quả thật chả còn tình nghĩa đầu ấp tay gối gì nữa.

Đó là chưa nói đến cái kiểu khách khứa bây giờ. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bỗng dưng sếp vi hành đến nhà nhân viên “làm khách” khiến chủ nhà mặt mày tái mét, ngồi căng tai nghe cả buổi cũng không hiểu nỗi sếp mình muốn vòi vĩnh cái gì để mà… liệu cơm gắp mắm. Hay là gặp lúc Tết nhất thì thuộc hạ phải đến “làm khách” nhà ông chủ để chúc Tết, mà đã chúc thì phải làm sao…. coi cho được thì làm !!!

Như thế làm khách đâu phải là dễ chịu. Mình là khách của người ta hay người ta là khách của mình thì cũng chỉ là hai cách…. chết khác nhau thôi. Trong hoàn cảnh nầy tôi liên tưởng đến nghĩa khác của chữ “tân” là “cay”, là cay đắng, cay nghiệt .

Cho nên tôi muốn hiểu “tân” là “mới”. Vợ chồng đối xử với nhau lúc nào cũng như lúc mới biết, mới quen, mới cưới. Dù qua thời gian, vẫn giữ gìn lời ăn tiếng nói cho cẩn trọng, đúng lễ nghĩa, biết kềm chế, biết tôn trọng đừng làm tổn thương nhau, việc gì cũng đúng mực, không bất cập, không thái quá.v.v…

Nếu hiểu như thế nầy thì o Huế của tôi đúng là “tương kính như tân” rồi.

Mỗi khi tôi hỏi o một chuyện gì hoặc làm giúp o một việc lặt vặt nào đó, thì o luôn nhỏ nhẹ: “Dạ, em làm rồi mình à “, “Dạ, cám ơn mình”…. Những chi tiết như vậy xem ra cũng là vặt vãnh thôi, vã lại lâu dần tôi quen rồi nên có khi không “thấy” nữa. Nhưng hễ ra ngoài nghe vợ chồng người ta ăn nói với nhau nhát gừng, không đầu không đuôi, thì tôi lại nhớ ra o Huế khác xa cái kiểu ngang phè đó.

Hỏi như vậy thì làm sao mà tôi không mê o cho được !!!

Thập niên 60 là khoảng thời gian nhiều “sóng gió” trong đời tôi. Những năm đầu là ngẩn ngơ trước cô giáo Huế ở trung học, những năm cuối là mê mẩn với o Huế ở đại học. Còn những năm lơ lửng giữa chừng thì bận…. mơ mộng đến các người đẹp trong phim “xi nê”.

Vào thời đó, các rạp chiếu phim bình dân đều chiếu thường trực suốt ngày, giá vé chỉ 5 đồng xem hai phim. Những tên tuổi lớn vẫn còn “theo” tôi đến giờ như Audrey Hepburn trong phim “Roman Holiday” (1953), hay Romy Schneider trong “Sissi” (1955), hoặc những ngôi sao hạng nhì như Giorgia Moll với “The Thief of Bagdad” (1961).

Khi lớn hơn một chút thì trong bóp của tôi đã có ảnh của Sylvie Vartan, cô nàng hát bài “La plus bell pour aller danser” trong phim “Cherchez l’idole” (1964), lúc đó đang chiếu tại rạp Casino Dakao gần cầu Bông. Còn ca khúc vượt thời gian “The house of the rising sun” được ban nhạc The Animals trình diễn trong phim “Pop Gear”(1965), đã gợi cảm hứng cho tôi nuôi mộng trở thành tay trống chuyên nghiệp, nhưng chỉ mãi đến những năm gần đây tôi mới được cầm đũa chơi trên dàn “Tama” trong một thời gian ngắn.

Nhưng từ khi ra đi dạy, tôi không còn cái thú xem phim nữa, kể cả sau nầy khi có thể xem phim online tại nhà. Cho nên những cái tên mới còn nhớ được ngày càng hiếm dần, như Julia Roberts (Pretty Woman, 1990), Sandra Bullock (Speed, 1994), hay Natalie Portman (The Professional, 1994)

oOo

Còn o Huế của tôi thì rất mê xem phim, nhất là phim bộ nhiều tập. Có lúc tôi thấy o cắm cúi rà tìm phim trên web, tôi hỏi, thì o nói  : “Mình ơi, hết phim cho em coi rồi”. Thì ra mấy hãng phim đó quay…. không kịp cho o coi. Vì mê phim như vậy nên chẳng những o không lạ gì các khuôn mặt Chương Tử Di, Phạm Băng Băng, hay Choi Ji Woo, Kim Hye Soo…. mà đôi khi còn nhập tâm cả lời thoại lồng tiếng trong phim nữa. Những lúc đó, o thỏ thẻ vào tai tôi:

– “Mình à,……. Huynh có thích muội không ?”

– “Trời, không thích muội thì thích ai chứ ?”

– “Vậy hả mình,……vậy còn cô bạn gái ở Văn khoa khi xưa….. thì răng ? “

Nghe đến đây tôi bỗng bủn rủn tay chân. Nếu sơ sẩy thì “bể dĩa” như chơi. Thế nên nói chuyện với o phải thật cẩn thận, phải biết câu nào nên trả lời ra sao, chứ mà cứ vô tư thì có ngày sẽ dính chấu với hoạt cảnh “trắng đêm không ngủ”. Lúc đang diễn cái cảnh thỏ thẻ vào tai nầy, tốt nhất là phải nhớ câu “tương kính như…. khách khứa” mới an toàn.

Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ kho rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy ?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi !!!

Đến đây, dám có người cho là tôi sinh ra ở gần “kho đạn” Long Bình lắm. Làm gì có chuyện đó. Không tin thì cứ…. đi hỏi o Huế coi. (theo Bùi Thanh Đoàn)

– Huế Xưa – Anh Bằng & Vân Khánh

https://www.youtube.com/watch? v=cTn49Dwvbec

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA

NỬA THẾ KỶ TRƯỚC, PHỤ NỮ SÀI GÒN

ĂN MẶC ĐẸP NHƯ THẾ NÀO ?

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó.

H2: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H3: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H4: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông.

H5: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H6: Nhóm kích động nhạc “3 trái táo” (Appe Three) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm. H7: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H8: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H9: Kiểu tóc pin-up rất đặc trưng của phụ nữ Sài Thành thời trước. H10: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H11: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H12: Một cô gái đang chăm chú đọc tạp chí Salut Les Copains magazine – tạp chí Pháp rất nổi tiếng vào những năm 60 tại Sài Gòn. H13: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước.

H14: Phụ nữ Sài Gòn ngày trước cũng rất ưa đi mua sắm, vào những buổi cuối ngày mát mẻ, chị em hay rủ nhau đến các thương xá để chọn mua những món đồ yêu thích. H15: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt với chiếc Honda PC.

H16: Một người phụ nữ Sài Gòn mặc áo dài phi bóng tím, tay cầm dù đang ung dung dạo phố tại Công Xã Paris trước 1975. H17: Váy suông cùng họa tiết đơn giản luôn là món đồ được những chị em trẻ tuổi Sài Gòn yêu thích. H18: Khi phụ nữ Sài Gòn đi lễ chùa đầu năm.

H19: Một lối nhỏ kinh kỳ hoa lệ có cô gái Sài Gòn đang vội chân đi. H20: Xe Lam mini, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ? H21: Những quý bà thành đô đang qua đường trong những ánh nhìn ngẩn ngơ. H22: Thật không ngoa khi nói Sài Gòn là phố thị đài các của phương Đông.

H23: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H24: Một góc phố giai nhân của Sài Gòn. H25: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H26: Những chiếc đầm rất mốt đã được phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước diện chỉ “chậm” hơn xu hướng của thế giới vài tháng.

H27: Quý cô Sài Gòn xưa vừa hiện đại, vừa đài các. H28: Nghinh tân những vẫn thủ cựu, Sài Gòn vẫn luôn là một bức tranh lập thể tuyệt vời như thế. H29: Một cô gái mặc áo dài trắng, đeo khăn trắng và tạo điểm nhấn bởi cặp kính đen, trông không khác nào một bức ảnh bìa của tạp chí nước ngoài. H30: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

9 Tuong Duc me 1BÍ ẨN BỨC TƯỢNG

ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH

TỰ PHÁT SÁNG

Rất nhiều cảnh sát trong thị trấn yên bình Jalhay, Bỉ đã được huy động để bảo vệ bức tượng khi sự phát sáng bí ẩn này đã thu hút đến 500 người đến thăm chỉ trong một ngày.

Một bức tượng Đức Mẹ Maria phát sáng bí ẩn đang thu hút hàng trăm khách du lịch đến với thị trấn nhỏ này. Các nhân chứng khẳng định, vào ban đêm, bức tượng nhỏ này luôn phát sáng, thu hút một lượng khách du lịch đông đảo đổ về để được tận mắt chứng kiến điều kì lạ này, buộc cảnh sát phải hành động.

Hơn 500 người đã đổ về khu nhà nơi đặt tượng Đức Mẹ, gây nên một sự hỗn loạn, khiến lực lượng cảnh sát buộc phải vào cuộc để ổn định tình hình và đảm bảo 9 Tuong Duc me 2việc tham quan có quy củ. Vẫn chưa có bất cứ lời giải thích nào hợp lí cho hiện tượng kì lạ này, tuy nhiên, các giáo sĩ đã gửi bức tượng đi để kiểm chứng tính xác thực.

Cha Leo Palm cho biết : “Chắc chắn có một cái gì đó đang xảy ra nhưng tôi không thể nói cho các bạn biết liệu đó là một hiện tượng tự nhiên hay một điều kì diệu”.

Sau khi được phát hiện vào tháng 1, hiện tượng kì bí này đã thu hút hàng trăm du khách tìm đến Jalhay. Một số người còn khẳng định họ đã được chữa khỏi bệnh sau khi đến thăm bức tượng linh thiêng này. (L.H theo nguồn: Mirror)

Lan Hương chuyển tiếp

KHÔI HÀI ĐEN (6)

NHỮNG CHUYỆN NÓI LÁI

XƯA VÀ NAY

Nói lái Tiếng PHÁP 

Ông Lãng Nhân, trong quyển Chơi Chữ có nhắc chuyện nói lái bằng tiếng Pháp. Chuyện rằng, có một cặp vợ Việt, chồng Pháp vào hàng tranh sơn mài. Vì chủ nhân nói thách quá nên vợ rỉ tai chồng: “très chaud, très chaud (nghĩa đen: nóng quá, nóng quá). Chồng lật đật chọn tranh, trả tiền nhanh để ra ngoài cho bà vợ được mát hơn.

Vợ trách chồng khi ra khỏi cửa “Đã bảo đắt quá mà còn mua”. Chồng nói là có thấy vợ kêu đắt đâu. Vợ bảo có nói rồi “très chaud” là “trop cher” (mắc quá). Bà ấy đã nói lái theo kiểu VN, chắc chắn là “bố” của anh chồng cũng không hiểu được.

Nói lái cho vui về nguồn gốc của một người 

Ông Nguyễn Ngọc Huy, trong quyển Tên Họ Người Việt Nam, có thuật câu chuyện đại khái như sau :

Ngày xưa có nhiều người VN từ miền Trung tiếp tục vào Nam lập nghiệp. Dân Nam, vì không biết rõ địa lý miền Trung, gọi chung những người mới vào sau là “người Huế”. Có nhiều người Huế làm nghề thầy lang lưu động. Một thầy lang nọ tuy còn trẻ, nhưng mát tay đã chữa lành cho một phú hộ. Ông phú hộ cảm ơn thầy lang bằng cách gã con cho thầy. Ông lại giúp vốn cho mở tiệm thuốc bắc.

Chú rể nhờ cha vợ đặt tên cho hiệu thuốc của mình. Ông cha vợ đặt tên tiệm là “Thế Hoằng Dược Phòng”. Ông giải thích cho rể đại ý là nó làm việc cứu người nên đời mở rộng ra (thế = đời; hoằng = rộng). Chú rể rất hài lòng.

Khi có người khác hỏi ý nghĩa của hai chữ đó, ông cười và nói : Rể tôi là người Huế, tôi đặt hiệu tiệm Thế Hoằng là để nhắc cho nó nhớ gốc gác nó là Thằng Huế. (Trong trường hợp nầy nguyên âm “o” trong chữ “hoằng” đã được thay thế bằng nguyên âm “u” trong chữ “Huế”. Đây chỉ là đọc cho thuận tai mà thôi, chớ lúc nói lái không ai nghĩ đến việc thay đổi nguyên âm hay phụ âm, hoặc thay đổi “dấu” gì cả.

Nói lái vì tục cữ tên 

Cũng trong quyển sách trên, GS Huy còn nhắc đến một câu chuyện “nói lái” khác do tục cữ tên mà có. Ngày xưa, thời chữ nho còn thịnh, dân Việt có tục cữ tên hay còn gọi là kỵ húy. Thí sinh của các kỳ thi trước năm 1920 là những nạn nhân đầu tiên. Nếu bài làm không tránh những tên cấm kỵ thì chẳng những bị đánh rớt mà còn có thể bị các biện pháp chế tài khác. Nạn nhơn thứ hai là những người cầm bút. Và nạn nhân thứ ba là các gánh hát.

Tục cữ tên ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng. Theo GS Huy thì dân chúng đã phản ứng lại bằng cách dùng tiếng lái. Số là vào những thập niên 1940-50 có những đoàn hát bội lưu động đi hát ở các miền thuộc “Lục Tỉnh”. Trước khi đến một vùng nào thì bầu gánh phải lấy danh sách của các chức sắc nơi đó để khi hát, những diễn viên phải tránh tên trong danh sách đó hay đọc trại đi. Thí dụ tên của ông cai tổng là Nguyên thì khi hát, tất cả những chữ “nguyên” đều được đổi ra “ngươn” vì tên Nguyên phải cữ để tỏ sự kính trọng.

Có một gánh hát đến một làng nọ để hát trong dịp lễ “kỳ yên”. Các vị hương chức trong xã họp bàn về việc cữ tên. Hội đồng xã đồng ý là để cho tuồng hát được hay, miễn cho đoàn hát khỏi cữ tên các chức sắc, trừ tên hai anh em của hai vị hào mục tên Hòa và tên Hóa. Hai ông nầy rất hách dịch, nhứt định là đoànhát phải cữ tên của hai ông. Những người trong gánh đồng ý.

Nhưng để chơi xỏ hai ông này, họ thêm một màn diễu. Trong màn nầy có hai người đối đáp, một người đóng vai lính. Người kia hỏi là trong quân ngũ, lính được ăn món gì thường xuyên. Anh lính đáp : “Hoặc ăn cà, hoặc ăn cá.”

“Những người lanh trí hiểu đó là câu nói lái để móc họng ông Hòa và ông Hóa đều ôm bụng cười, trong khi hai ông này giận muốn hộc máu mà không làm gì được gánh hát”.  (Xin thưa thêm cho rõ nghĩa : hoặc ăn cà = Hòa ăn c.t; hoặc ăn cá = Hóa ăn c.t.)

Nói lái đơn giản về người, thú vật và những chuyện hằng ngày 

Trong video Vân Sơn số 3, trong hài kịch Ông Ninh Ông Nang (không thấy để tên tác giả) có một phần đối đáp sau đây giữa các hài kịch viên toàn là câu lái, rất đơn giản và rất dễ hiểu về thú vật (cá, chim, chó, mèo), về người (bà già, ông già, trẻ em, cô dâu, chú rể ) và các điều khác.

Con cá đối nằm trên cối đá;

Mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo

Chim mỏ kiến nằm trên miếng cỏ;

Chim vàng long đá tại vòng lang

Chim sáo sọc chê anh sóc sạo;

Con chó què chân bị cái quần che

Cô bé mập ú là nhờ mụ ấp;

Thằng nhỏ ốm tong vác cái ống tôm

Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ;

Sáng sớm bà Hạt đi bán bạc hà

Cô nàng dâu hứa đi mua dưa hấu;

Chàng rể bảnh trai ngồi tại bãi tranh

Người mặc áo xanh chính là anh sáu; 

Miếng thịt băm nát trong bụng bác năm

Anh chàng sức môi ngồi ăn xôi mức ; 

Cô gái mồm to lặn lội mò tôm

Nhờ cái búa đỏ chẻ thành bó đũa; 

Cái nồi cơm thiêu lại dám kêu thơm

Tấm hình lộng kiến ai đem liệng cống; 

Cô gái muốn chồng ngó cái mống chuồn.” 

Đến đây đã hết những câu lái trong Video Vân Sơn, nhưng câu chót làm tôi liên tưởng đến câu lái khác cùng ý nghĩa : “Mống chuồng mọc giữa đồng chòi. Cái mống mọc ở giữa đồng bình thường như chuyện “muốn chồng” thì “đòi chồng” phải không quý vị ?

Các nhà văn (hiện đã già, hoặc đã ra đi rồi) viết lái 

Trong quyển “Hơn Nửa Đời Hư” ông Vương Hồng Sển dùng tiếng lái nhiều lần.  Thí dụ “bất quá là bá quốc” (trang 465); “ủ tờ” (tiếng lái của từ ở tù, trang 477); và“mống chuồng” (tiếng lái của “muốn chồng” trang 519) v.v… Ngoài ra, ở một đoạn khác, để nhắc lại kỷ niệm chuyến Đông du thăm Đài Loan và Nhật của ông cùng vài người bạn Pháp, cũng trong sách nầy, ông có ghi lại chuyện ở khách sạn Nhật. Ông và người bạn Pháp không quen mặc áo kimono đã để sẵn trong tủ cho khách trọ. Ông có dùng hai tiếng lái, với vẻ đùa cợt mà tôi xin miễn “thông dịch”, như đã hứa; trừ gạch dưới hai tiếng lái là do tôi thêm, nguyên văn câu ông viết như sau :

“Đến cái áo kimono màu sặc sỡ, mỗi phòng trọ đều có treo sẵn cho khách mượn, Meken và tôi chưa quen, vừa xỏ tay vào, tấm thân bồ tượng áo che không khuất, trống trước trống sau, đứa “lù coi” đứa “lắc cọ”, áo nhột nhột, cảnh thật buồn cười” (trang 590).

Công Tử Hà Đông (CTHĐ), báo Người Việt, dùng tựa đề “Saigòn Tạp Pín Lù” (tên một cuốn sách của ông Vương Hồng Sển), để phê bình nội dung của cuốn “Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam” của ông Sển. Bài báo nầy đã kể ra nhiều tiếng lái.

Có tiếng từ sách của ông Sển, đã được tác giả bài báo trích dẫn như “xe u mê” : “Xe u mê: tiếng lóng để gọi xe thổ mộ, vì sàn xe bằng gỗ cứng, khách ngồi bệt trên sàn, ê ẩm bàn trôn, nhứt là khách phụ nữ đều phải ê mu, nói lái cho bớt tục”.

Có nhiều tiếng lái khác, và những tiếng đặc biệt được dùng thời tác giả CTHĐ sống ở Saigòn. Ông đặt câu hỏi cho chính ông là : “Tại sao tôi không ghi lại với lời giải thích những tiếng, những thành ngữ sinh động, rung rinh âm thanh, lung linh màu sắc trong tiếng nói của dân tộc tôi, trong thời đại tôi ?”  Ý kiến của ông rất hay vì những từ mà ông kể ra rất độc đáo, vì có tính cách rất là Sàigòn.

Trong số những tiếng đặc biệt đó, có một số là tiếng lái như: liệng cống, dấm sủ, chai hia, chà đồ nhôm. Xin được trích dẫn sau đây cụm từ lái chà đồ nhôm, một thành ngữ lái có tính cách lịch sử, tả cảnh nghèo đói của dân Sàigòn, sau khi được phỏng dái (giải phóng), phải đem bán bất cứ vật gì có thể chôm (lấy) được trong nhà.

“Chà đồ nhôm : chôm đồ nhà, tiếng Sàigòn những năm sau 1975,… Thời ấy Sàigòn có câu phong dao :

Đi đâu bỏ con ở nhà ? 

Hỏi em em nói: 

Đi chà đồ nhôm

Đi đâu tay xách, nách ôm? 

Hỏi em, em nói :

đi chôm đồ nhà.”

Nhà thơ Hồ Xuân Hương nói lái 

Tôi cũng nhớ có đọc nhiều lần trong các sách nào đó, thơ của Hồ Xuân Hương (HXH). Nữ sĩ họ Hồ nầy là vua về thơ lái. Thơ lái của bà được ghi lại trong nhiều sách vở về văn chương Việt Nam. Gần đây đọc quyển “100 Năm Phát Triển Tiếng Việt” (9), tác giả Phụng Nghi có ghi lại bài thơ “Kiếp Tu Hành” của nữ sĩ họ Hồ :

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo, 

Vị gì một chút tẻo tèo teo 

Thuyền tình cũng muốn về tây trúc,

Trái gió cho nên phải lộn lèo. 

Ngoài ra tôi còn nhớ vài câu sau đây của HXH: (nhưng không nhớ tựa bài thơ)

Đang cơn nắng cực chửa mưa hè

Rủ chị em ra tát nước khe

Hoặc:

Thú vui quên cả niềm lo cũ

Kìa cái diều ai nó lộn lèo. 

Các nhà thơ khác dùng tiếng lái 

Theo sách vừa dẫn thi sĩ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy ở Huế có bài thơ như sau :

Nực cổi chi ra nổi cực lòng,  

Dòng châu lai láng dĩa dầu chong

Khó đi tìm hiểu nhau khi đó,

Công khó nhờ ai biết có không 

Ông Huy Phương trong bài “Nói Lái Mà Chơi” có ghi một bài thơ nói lái nổi tiếng khác của thi sĩ Nguyễn Khoa Vy :

Cầu đạo nên chi phải cạo đầu

Dầu lai dưa muối cũng dài lâu

Na bường bát tới nương bà vãi

Dầu sãi không tu cũng giải sầu 

(Ông Huy Phương chú thích : Na bường bát tới = mang bình bát tới, nói giọng Huế). Ngoài ra trong bài “Nói Lái Mà Chơi” còn có một bài thơ rất hay tựa đề “Trông Trời” mà Ông Huy Phương nói không biết tác giả là ai.

“Cô kia sao cứ trông trời  

Để tôi xin nguyện làm trời cô trông

Trông trời sướng lắm phải không ?

Trời mà trông lại còn mong nỗi gì ! 

Đọc xong bài trên, các bạn có tìm thấy ý nghĩa của tiếng lái không ? Nếu không xin các bạn đọc câu chú thích của ông Huy Phương. Ông có ghi rõ là bài thơ nầy muốn nói lái phải đọc theo giọng Bắc hai chữ “trông trời” = “chông chời”.

Nói lái bằng câu đối 

Trong sách Miền Đất Hứa anh Trà Lũ (tôi gọi anh vì Trà Lũ là bạn dạy học cùng trường với tôi trước 1975) có ghi câu đối sau đây, câu đối vừa chơi chữ cách đối vừa chơi chữ bằng cách dùng tiếng lái :

“Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi”. 

Khi nghe câu đối trên, anh Trà Lũ đã kêu cứu “xin các cụ giúp tôi với ?” Quý bạn thừa hiểu là từ Củ Chi đầu là một địa danh gần Saigòn; củ chi thứ hai ở cuối là câu hỏi (củ nầy là củ chi vậy ?) Còn từ chỉ cu vừa là một động từ, vừa là tiếng lái của cả hai từ cùng âm “củ chi”.

Cũng trong sách đó, ở một đoạn sau, Trà Lũ có nói rằng một số đọc giả viết thư “gà” cho anh 2 câu như sau gọi là đối lại với câu trên :

“Trai Thủ Đức thức đủ xin thủ đức”

“Trai Bắc cực, bú c., than Bắc cực”. 

Anh Trà Lũ cho là câu đối sau nghe “khiếp quá, nhưng phải viết ra trình cho các cụ chấm cho”. Hai câu nầy đại khái, không được chỉnh lắm về phương diện đối. Hơn nữa chắc bạn tôi vì tính tình xề xòa nên không để ý rằng tiếng lái của “Bắc cực” là “bức c.” chớ không như ông đọc giả nào đó đã viết.

Và nếu dùng từ “bức” thì chắc không có gì “khiếp quá” mà chỉ hơi hơi táo bạo tí thôi. Chỉ ghi nhận cho vui chớ nào dám chỉ trích bạn mình, vì tôi cũng bí như bạn. Mười năm qua rồi, trên con đường học hỏi về lái tiếu lâm, chưa tìm thấy câu nào hay hơn câu Củ Chi mà bạn đã kể. Gần đây đọc bài của Ông Nguyễn Đại Hùng thấy câu Củ Chi được ghi như sau:

“Đến Củ Chi, chỉ cu anh, hỏi củ chi.”

Và câu sau ghi là:

“Về Cù Mông, còng mu em, đòi Cù Mông”. 

Nói lái qua câu hò đối đáp giữa trai gái 

Miền đồng bằng sông Cửu Long, vào mùa cấy các thợ cấy nam nữ vừa làm việc vừa vui đùa qua chuyện tiếu lâm, hoặc qua những câu hò đối đáp giữa hai nhóm nam nữ. Ông Nam San có ghi lại một số câu hò có tính cách rất “tả chân” sau đây, trong đó có luôn cả câu có tiếng lái.

Phe Nam:

Thấy em gò má ửng hồng

Phải chi em đừng mắc cỡ thì anh bồng em hun.

Hoặc:

Nước Tân Ba chảy ra Trà Cú 

Em cấy khum lòi vú anh muốn hun 

Phe nữ đáp:  ….

Phú Điền có chị Tám Hai

Thuyền quyên hò mí, đối trai anh hùng.

Tân Ba, Trà Cú, Phú Điền là những địa danh ở vùng đồng bằng Cửu Long. Mới đọc câu chót ít ai để ý đến tiếng lái vì gái thuyền quyên mà đối “trai anh hùng” thì rất là thuận tai và thuận nghĩa. Nhưng “đối trai” nói lái là đái trôi, vừa có nghĩa đen rõ ràng, khỏi giải thích,vừa có nghĩa bóng là phe nữ có cách hò thắng phe nam một cách dễ dàng. (Ông Nam San chú thích rằng : “Hò mí hay hò mép là hò đối đáp, thách thức, vòng vo xuôi ngược, nói lái úp mở nói lên cái ẩn dụ của mình, miễn xuống câu ăn vận, đúng điệu là được.)

Nói lái trong câu đố 

Lúc tôi còn nhỏ, tôi biết được những tiếng lái đầu tiên qua các câu đố. Thí //dụ các câu đố sau đây :

a) – Ông cố ngoài Huế ông cố ai ? (xuất vật)

b) – Ông đánh cái chen, bà bảo đừng ? (xuất vật dụng)

Hoặc :

c) – Ghe chày chìm giữa biển đông,

cái nốc nó mất cái công nó còn. (xuất vật).

Câu a) là “cái ô”; vì cố ai = cái ô. – Câu b) là cái “chân đèn”; vì “chen…đừng = chưng đèn.- Câu c) là “con còng”, vì “công còn = con còng.

Nói lái về các địa danh

Về địa danh chúng ta có một số câu sau đây :

Chợ Thủ Đức năm canh thức đủ; 

Chợ Đồng Tranh năm canh đành trông

Hoặc:

Ra Thủ Đức năm năm thức đủ

Về Giồng Trôm tháng tháng dòm trông

Hay các câu sau:

Đi chợ Búng coi chừng chúng bợ

Đến Hạ Long rát cổ họng la

Lên Bắc Cạn, nghèo đành bán c. t

Vào Ba Thê cuộc sống bê tha

Vượt sông Đuống, xuống Đông lên bắc

Trèo Đèo Ngang trong lúc đang nghèo 

Vùng Đồng Nai Cửu Long có hai câu đối rất độc đáo, và nổi danh sau đây để chỉ một chàng trai người Hốc Môn, và một cô gái người Gò Công đang tình tự:

Trai Hốc Môn miệng hôn tay móc,  

Gái Gò Công chân gồng cẳng co. 

Giai thoại nói lái về con Rồng Air VN 

Trước năm 1975, hàng không Air VN có dấu hiệu con rồng uốn khúc. Có một thời gian, không biết các cô tiếp viên phi hành có tư cách hống hách với khách hàng thế nào mà các vị viết báo đã cho Air VN một cái nick name (tên riêng hay biệt danh) để đời là Air rồng lộn. Các cô tiếp viên hống hách cũng bị gọi là các cô rồng lộn. Tưởng một thời gian ngắn rồi mọi sự kiện sẽ bị quên lãng. Nhưng khốn nỗi cứ 12 năm thì có một năm thìn, tức năm con rồng, cái nick name nầy lại được viết ra trên báo xuân, thành ra có thể nói đây là tiếng lái được các báo nhắc đến nhiều nhất, một tiếng lái để đời.

Những câu nói lái khác liên hệ đến con rồng. Ông Đại Ngu có ghi hai câu đối sau đây :

“Con Tiên Cháu Rồng, Lộn xuống hồng trần sung sướng nhỉ.

Mộng hùm thơ Rắn, Sai đâu con tạo đỡ đần cho” 

(Tác giả Đại Ngu có chú thích là chữ lái của “rắn sai” là “Rái săn”, đọc theo giọng Hà Nội âm R thành âm D.)

Ăn thịt mộc tồn 

Một món nhậu đặc biệt của VN là món… thịt chó. Ai không ăn thịt chó được, hoặc thèm thịt chó mà không mua được, thì có món “giả cầy” thế vào, dùng giò heo, nhưng nấu theo kiểu nấu thịt chó nên gọi giả cầy.

Ngày xưa, nghe nói có lúc Tây cấm ăn thịt chó. Nhưng ai đó nếu thèm quá thì cũng phải tìm cách ăn lén. Để tránh các phiền phức, họ dùng tiếng lóng để chỉ con chó. Họ gọi chó là “mộc tồn” . Theo tiếng Hán Việt, mộc = cây, tồn = còn ; vậy mộc tồn = cây còn = con cầy hay con chó cũng vậy. Người ta còn dùng nhóm chữ “hạ cờ tây” để chỉ việc làm thịt chó con (cờ tây = cầy tơ). Thật là nhiều hình thức từ ngữ để tránh né, vừa vui, vừa hay quá cỡ thợ mộc.

Sau nầy những từ ấy trở nên thông dụng trong nhóm “xực cẩu xíu”, tiếng TH, có nghĩa ăn chó quay.

Dấm xủ 

Miền Nam VN có nhiều người Việt gốc Hoa. Do đó dân ta Việt hóa nhiều tiếng TH. Thí dụ ăn chay (Quảng Đông: xực chay); ăn lẫu: ăn thức ăn nhúng trong nước lèo đựng trong một cái dụng cụ nấu đặc biệt gọi là cái cù lao; gặm chí quách: gặm xương hầm, ăn cháo lòng hoặc ăn hủ tiếu để thêm dầu chá quảy v.v..

(Chú thích thêm: “dầu chá quảy”, tiếng TH đọc giọng Quảng Đông có nghĩa đen là “quỷ chiên mỡ”, tích truyện vợ chồng Tần Cối, đời Nhà Tống đã bị xử tử;hai vợ chồng bị trói lại và bị thả vào vạc dầu. Vì vậy chúng ta thấy cái bánh “dầu chá quảy” luôn luôn gồm có hai miếng bột chiên dính liền nhau (tượng trương cho vợ chồng Tần Cối).

Trong buổi ăn, người Tàu hay dùng một loại dấm đỏ chung với xì dầu (nước tương) làm nước chấm. Họ gọi dấm đỏ là xủ (giọng Quảng Đông). Dân chơi tiếng lái khi vào tiệm ăn, thay vì gọi xin dấm hay xin xủ, lại gọp chung cả hai từ dấm và xủ, gọi người hầu bàn xin dấm xủ.

Một người gọi, cả bàn cười vì tiếng lái đó (dấm xủ = dú xẩm đọc theo giọng Nam của tiếng vú xẩm). Lẽ dĩ nhiên anh hầu bàn người Tàu cũng cười theo khách hàng cho vui nhưng chưa chắc đã hiểu tiếng lái đùa cợt đó, (hay hiểu và thích cũng không biết được, vì anh TH mà thích dấm xủ là chuyện thường rồi, vì là món ăn hàng ngày của “ngộ”  mà, không thích sao được).

Trà Thái Đức 

Ngoài ra, những từ Hán Việt quen thuộc có nhan nhản trên các báo là tên các tiệm thuốc Bắc, thuốc chế từ các loại dược thảo TH, hay tên của các loại dược thảo được bày bán, (khác với thuốc Nam là các loại dược thảo có sẵn ở VN thuộc loại “cây nhà lá vườn” dễ kiếm hơn), và tên của các loại trà v.v…

Nước trà nào cũng có tính cách nhuận tiểu. Uống trà nhiều vào buổi chiều, đêm thường khó ngủ, có thể vì trà có cafein làm mất ngủ, nhưng cũng vì phải thức dậy nhiều lần để đi tiểu. Vì vậy dân nói lái khi nghe mời dùng trà ngon thường hỏi nhau là trà nầy có phải là trà Thái Đức không ? Hỏi xong, chủ khách cười xòa (thái đức = thức đái).

Vào buổi sáng, đến tiệm ăn tiệm xâm, thưởng thức “xíu mại” và xì dầu pha dấm xủ, và uống trà thái đức thì tuyệt rồi còn gì bằng. Chỉ một vài tiếng lái thôi mà không khí buổi điểm tâm vui nhộn lên.

Phú hộ hà tiện (tiếng nói lái giống tiếng HV) 

Có câu chuyện khác, rằng có một phú ông họ Tạ kia tuy giàu tiền, nhưng ít chữ nghĩa. Đầu ông ta hói, và nổi tiếng là hà tiện .. từng xu. Tết đến, ông ra chợ nhờ cụ đồ nho viết câu đối trên giấy đỏ để treo ở nhà. Cụ đồ đề nghị viết chữ “họa” giống như vẽ cho đẹp và đề ra giá công viết là một đồng.

Phú ông kỳ kèo trả giá năm cắc thôi. Ông đồ chịu và viết cho 2 câu sau đây:

Hiền Tạ Thu Sương tâm tắc kiết; 

Thiên Tường tác biệt thị Châu đài. 

Ông đồ giải thích đại khái là bà phú hộ tên Thu Sương, còn ông tên Tường. Họ Tạ hiền hậu, bà nhà có tấm lòng tốt (kiết). Còn ông nhờ trời (thiên) ban cho cách riêng nên giàu có như con cháu nhà Châu thời xưa. Ông phú hộ nghe xuôi tai, vui vẻ trả năm cắc và đem tấm giấy đỏ về dán trước cửa.

Một hôm bạn ông, một người giỏi chữ nho, ghé thăm. Phú ông khoe câu đối.  Bạn của phú ông đọc lui đọc tới hai câu trên, thấy chẳng có nghĩa gì cả. Sau một lúc ông ta phá lên cười vì ông phú hộ đã bị ông đồ nho chơi xỏ.  Hai câu trên chẳng phải chữ nho với điển tích gì cả mà chỉ là hai câu gồm một số từ tiếng lái và một số không phải tiếng lái, viết ra như sau:

Hà tiện thương xu, tâm tiếc cắc (tâm tiếc từng cắc)

Thương tiền, tiếc bạc thị chai đầu (chỉ đầu hói)

Phú ông nghe câu giải thích mới, xé câu đối và chắc lưỡi hít hà, vừa rủa cụ đồ, vừa tiếc đã mất năm cắc, nên quên mời ông bạn vào nhà xơi … “nước mát.”

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG “CHUYỆN TÌNH” YAMAHA…M

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỌC THƠ

Người đàn ông gầy còm, mái tóc cắt trùi trủi nên khuôn mặt ông ta trông hóp héo như ruột người bệnh mới từ nhà thương về.

Bốn giờ sáng mà điện đã cúp. Chung quanh trời tối mênh mông. Ông mò cái bật lửa bật lên tìm cây nến. Cây nến nằm trong một góc tủ. Chiều qua hình như ông ta nhậu hơi nhiều nên đến giờ nầy đầu óc vẫn chưa tỉnh táo ra. Vẫn lơ mơ trong đầu ông ta câu chuyện nơi quán rượu. Cái quán nầy như có ma lực khiến ông không thể xa nó, đi đâu ông cũng nhớ nó, nhớ những câu chuyện quanh nó.

Quán nầy lạ lắm, nó được che phủ bởi hai cây si già rể thả xuống đong đưa như một bầy rắn. Thêm một cây cao su ở đâu lạc loài về đây hàng trăm năm, da lên xanh rêu mốc. Về mùa đông xuân lá cây su trở nên vàng ánh bỏ rơi từng bầy lá sau mỗi cơn gió nhẹ. Lá vàng phủ trên mảnh sân rộng, phủ lên bốn năm tảng đá sắp không đều hàng.

Theo một khách nhậu, mấy tảng đá nầy được dựng ở đây một cách có ý thức chớ không phải vô tình: nó được xếp đặt theo phong thủy. Bên cạnh mấy tảng đá buồn thiu ủ dột đó là một cây đàn đá kiểu Nhật Bản có hai chân được chôn sâu dưới đất.

Người đàn ông hay ngồi nơi cái bàn đặt sát cạnh mấy tảng đá bí ẩn bên thềm quán. Một cảm giác lạ lùng đã ám ảnh ông ta không sao rứt ra nổi. Đó là … Ừ, cứ mỗi buổi chiều mưa khi ngồi ở đây rượu đã ngà ngà say, khi một ánh chớp lóe lên ông lại thấy những hòn đá cử động, chúng lắc lư như đang say rượu. Và những lúc đó hình như ông nghe chúng trò chuyện. Chúng cứ thì thầm to nhỏ điều gì đó bí mật trong mưa.

Có một tảng đá thấp gầy nói giọng nữ, một tảng đá cái ư ? Một tảng đá cái duy nhất giữa những tảng đá đực có vẻ gì đó khá bí hiểm hiện ra mỗi lần có một tia chớp lóe lên nhoáng qua mặt sân.

Ông Tư già một khách rượu thường xuyên ở đây trầm trồ về mấy tảng đá : “Ở đây người ta bố trí mấy hòn đá nầy theo phép ngũ hành. Không phải là ngẫu nhiên đâu. ‘I’hế đất ở đây hơi bị hãm nên mới dựng ra mấy viên loạn thạch nầy để trấn yểm lấy lại thế cân bằng. Chủ nhân của ngôi nhà cổ trên mảnh đất nầy hẳn xưa phải là một tay giàu có và rất sành khoa phong thủy. Những viên đá nầy tương sinh tương khắc, vừa nương tựa lại vừa chế ngự lẫn nhau. Và như thế thì ngôi nhà và những người sống nơi đó sẽ được bình an làm ăn phát đạt”.

Người đàn ông cứ bị mấy hòn đá ám ảnh. Cũng theo ông bạn Tư già, trong rừng có thần rừng, trong núi có thần núi. Những viên đá là một phần của núi. Đá lâu năm nó có thần ở trong đó. Vậy nhóm loạn thạch lâu năm nầy nằm đây hẳn phải có một duyên sự gì đó bí mật.

Ở đây khách nhậu đông lắm, quen mặt nhưng khó nhớ tên. Quán chỉ bắt đầu hoạt động lúc 11 giờ sáng đến 10 giờ đêm thì đóng cửa, bất kể xuân hạ thu đông. Không có ngày nghỉ, rượu chảy suốt bốn mùa.

Cô phục vụ tên Phấn kể rằng hồi cô mới vào làm việc bưng bê cô chỉ mới tròn 18 tuổi. Vậy mà nay đã sắp sửa ba mươi, tính ra hai chân cô di chuyển mỗi ngày suốt hơn mười năm bằng con đường vòng quanh trái đất. Đã có bao nhiêu người chọc ghẹo cô, bao nhiêu gả say và giả say tỏ tình với cô, cô quên mất.

Phấn cười nói khi quán rượu đã đầy lúc ấy mắt cô chỉ nhìn thấy mơ hồ những khuôn mặt giống nhau, đỏ khé mờ mịt hơi men. Phấn sợ những đôi mắt soi mói nhưng chủ quán quy định các cô phải mặc áo rộng cổ với lý luận : khách nhậu không chỉ nhậu bằng môi miệng mà còn nhậu với con mắt. Với một phần ngực đẹp của các cô gái sẽ góp phần cho bữa nhậu hào hứng thêm, khí thế thêm.

Vậy đó hơn mười năm áo hở rộng cổ, một phần ngực nửa kín ngửa hở dành cho những cái nhìn chăm bẳ, miễn phí. Phấn đi qua tuổi xuân hồi nào chẳng hay. Bây giờ quen mặt áo rộng cổ rồi; quen những đôi mắt háo hức, Phấn hết còn quan tâm đến bọn đàn ông nhấp nhô trong cái không gian mênh mông của quán rượu.

Người đàn ông mỗi khi đến quán hay ngồi ở cái bàn gần mấy hòn đá nơi những rể si lòng thòng phất phơ trong gió.

Người đàn ông gọi Phấn bằng em và xưng mình là bố : “Phấn ơi, em choo bố mấy chali bia”. Phấn đặt hai chai bia với cái ly đá trước mặt ông, nheo mắt cười : “Bia đây mời bố”. Cái nheo mắt, nụ cười và chất giọng thanh tao của Phấn đã thường xuyên đến với ông ta trong những giấc mơ. Có lần trong một cơn say la đà, ông ta đã nói với Phấn như lời thú tội… trước hoàng hôn : “Giá mà bây giờ bố được trẻ lại hai mươi năm tuổi chắc bố sẽ cưới em làm vợ”.

Chẳng hiểu Phấn nghĩ gì khi nói nhỏ vào tai ông : “Nếu như bố trẻ lại thì em đâu có cho bố đi nhậu và em cũng sẽ chẳng làm cô gái phục vụ quán bia…”, nói xong em cười và biến đi.

Người đàn ông mơ màng : Ừ, mà trẻ lại để làm gì, để hai đứa được sóng đôi nhau chăng ? Biết đâu sau hạnh phúc lại đến lúc bất hòa rồi ly thân, ly dị… chi bằng mỗi ngày cứ đến ngồi đây nhăm nhi bia bọt, cứ bố bố em em há chẳng hạnh phúc hơn sao ? Người con gái đẹp hay một tình yêu đẹp có lẽ nên có một quãng cách ở ngoài tầm tay với để ta luôn mơ tưởng, chiêm ngưởng nó như chiêm ngưởng một bức tranh một pho tượng quý nơi viện bảo tàng. Cấm sờ nó, cấm sở hữu những báu vật của thế gian, tình yêu thật sự là cái ta yêu và luôn tưởng mơ về nó.

oOo

Ngọn nến chập chờn rồi phụt tắt. Bên ngoài cửa sổ gió nổi to. Trời đang chuyển cơn mưa sớm. Bầu trời chưa kịp sáng đã trở nên tối lại.

Người đàn ông thấy con mắt mình ríu lại. Chợt thấy mình ngồi nơi cái bàn cũ gần bên mấy tảng đá sù sì. Nghe tiếng hòn đá cao to cất tiếng trầm trầm : “Bố yêu em, chúng ta phải đi suối đường trần”. Không thấy miệng đá nhót phép vậy mà lời của nó nghe rõ mồn một. Hình như hòn đá cái ngọ nguậy trong cái khoảng mờ mờ tối đồng thời một giọng nói có vẽ giận dữ :

“Xin chớ đụng tôi, hãy lui ra vì tôi sắp vỡ và sắp nổ đây”, “Hãy vỡ và nổ đi, chúng mình sẽ về cõi vĩnh hằng”, tiếng hòn đá đực nói như van lơn. Im lặng một lát giọng nữ lại cất lên : “Hãy lánh xa em bố ạ, em cần có khoảng trống bao la để biến tan trong ánh nắng, hòa chảy trong ánh trăng. Đừng nhìn em như thế”. Hình như trong giọng nói ấm ức có cả tiếng sụt sịt khóc. Ủa lạ, sao giọng người con gái nào lại giống giọng nói của Phấn ?

Bất chợt trời đổ ào mưa. Xuyên qua màn mưa những làn chớp loé sáng. Mưa nhả xuống hiên quán dội trên mấy tảng đá. Gió gầm rú trên cây si làm những chiếc rể si quẩy lộn dữ dội.

Bây giờ là mấy giờ ? Là sáng, trưa hay chiều tối ? Người đàn ông hoàn toàn chẳng còn ý thức được thời gian. Cái quán sao mênh mông và lặng yên một cách kỳ lạ. Khách ngồi giương những đôi mắt sâu hoắm tăm tối hướng ra bầu trời ủ dột mưa như đang chìm đắm vào một mối trầm tư gì đó khó hiểu.

Không nghe tiếng ly cốc khua động, nhưng chai lọ đứng yên trên mặt bàn hứng những làn gió và tia chớp tạt vào. Lẫn trong tiếng mưa lời của một giọng nam cất lên run rẩy : “Em cho bố một cơ hội nếu như bố trẻ lại hai mươi năm tuổi. Bố yêu em, ta đi với nhau đến cuối đường trần nầy”. Tiếng người nữ thút thít : “Xin bố chớ đến gần em, coi chừng hạt linh hồn em bám phải sẽ vươn rất nhanh cành lá, rể quấn nhằng nhịt hút lấy máu bố… “.

Người đàn ông rùng mình. Gió hất đám rể cây si quất vào thềm quán uốn éo như bầy rắn lục đang động tình. Chúng sẽ vươn tới và quấn chặt ông ta. Bầy rắn sẽ hút sạch máu ông ta bởi những cái miệng đỏ như ngậm hòn than nóng. Bất giác ông ta nhích vào phía trong một chút. Gió đột nhiên gồng mình lên gầm rú qua hàng cây xô đẩy, vặn bứt chủng. Có tiếng gãy đứt răng rắc, rồi một súc gỗ thật to bị ném ầm xuống chỗ mấy tảng đá. Súc gỗ nhảy tưng mấy cái rồi nằm im. “Trời đất, nếu như ta chẳng chịu nhích vào một chút thì có lẽ bây giờ hồn đã lìa khỏi xác”, ông ta ôm ngực thở hổn hển.

Có tiếng cười ngặt nghẽo ở đâu đó trong mấy hòn đá nổi lên. Bọn chúng thích chí đang cười cợt ông vừa trải qua một cơn sợ muốn đứng tim. “Phấn ơi, nếu như ban nảy cành cây đòi nạng nầy rơi vào bố thì giờ đây bố sẽ ra sao ? Bố sẽ hóa thành một ngọn gió, một ngàn mây cuồn cuộn bay đi hay một hồn ma ngơ ngác thấy mình bất ngờ bị vất ra khỏi xác ? Liệu lúc đó bố còn nhớ em, còn yêu em như tấm hình hài nầy ?”, người đàn ông nghe thấy tiếng mình buồn bã cất lên trong lòng ngực. Bên trong lòng ngực ông, dường như đó mới chính là con người thật của ông, nó luôn ở bên ông và nói và nghĩ suy thay ông. Yêu thương, giận hờn, mừng vui hay sợ hãi… tất cả mọi thứ đều xuất phát từ trong cái lồng ngực ấy. Nó vô cùng sống động, vô cùng bao la trong cái cõi gần gũi kề bên mà ông hình như chẳng bao giờ chạm đến được nó.

Người đàn ông bỗng nghe vùng cơ ngực co thắt nhói đau. Tiếng ho của ông làm ông giật mình mở mắt ra ngơ ngác. Ủa, ông đang ở nhà trong buổi sáng trời mưa tơi tả mà.

Đã sáu giờ sống mà trời vẫn tối thầm thầm. Khí lạnh len qua cánh cửa sổ mở hé lọt vào căn phòng yên ắng. Mấy con muỗi vo ve tìm chút máu làm ông tỉnh hẳn. Hóa ra ông vừa rời khỏi một giấc mơ. Mò tìm cái bật lửa thắp lại ngọn nến. Ánh lửa chập chờn soi mặt bàn bừa bộn sách vở. Lâu nay ông thường bị những giấc mơ kéo đến bất chợt.

Đang ngồi đọc sách hoặc viết lách đột nhiên ông rơi vào giấc ngủ chẳng biết lúc nào. Và trong mỗi giấc ngủ lại có nhiều mộng mị khác kéo về khiến nhiều khi ông phân vân tự hỏi khi ông đang tỉnh, là lúc ông mơ hay khi đang mơ lại là khi đang tỉnh ?

Ông đứng lên đốt một cây nhang trên bàn thờ vợ ông. Bà mất đã 20 năm rồi, lúc đó ông mới vừa 30 tuổi. Cái chết của bà là nỗi đau thương lớn nhứt đời ông. Nhưng 20 năm qua, vết thương cũ đã lành, ông thôi xót xa. Tuy nhiên nhìn ảnh vợ ông cũng không sao khỏi chạnh lòng. Những ngày yêu nhau, ông cũng si mê bà như bây giờ ông si mê Phấn. Bà cũng hiền từ dễ thương như Phấn, bao giờ cũng chịu thương chịu khó mà nét mặt vẫn tươi cười.

Có bà, ông chẳng phải lo nghĩ gì từ miếng ăn giấc ngủ. Bà vừa như một người mẹ lo cho con trai, vừa như người chị chăm nom đứa em nhỏ. Có những lúc vui hay giận ông bà thường trách yêu : “Nếu như không có em chẳng biết anh sẽ sông ra sao ?”.

Quả vậy, ông sống một cách phiêu bồng với cây bút ngòi viết, chẳng hề biết sửa cái cầu chì, công tắt điện, chỉnh sửa cái vòi nước hư… áo quần ông mặc vất ra có bà giặt. Thay đồ mới đã có y áo ủi kỹ treo trên móc. Ông đi đâu về gọi “Em ơi đói bụng rồi” là có sẵn mâm cơm. Vậy mà 20 năm nay ông chỉ còn nói chuyện với cái bóng của mình, ông tự kêu đói và tự đi nấu ăn; tự vất quần áo bẩn ra và tự đi giặt lấy…. Thiếu sự hiện diện của bà đời ông bơ vơ, cơ cực. Nhưng nói gì thì nói vết thương của 20 năm cũng dần liền da liền thịt và người đàn ông bắt đầu nghe một mùa xuân mới trở về trên cánh đồng khô hạn của đời mình.

oOo

Ngoài trời vẫn chưa sáng. Người đàn ông dụi mắt thắp lại ngọn nến. Trên bàn trước mặt ông gió lật mấy trang thơ một cuốn thơ cũ ố vàng. Ông ta cúi xuống đọc. Những con chữ như có ma thuật chúng đang nhảy múa. Hình như có tiếng ai đó ca hát ê a trong thơ, giọng lạnh lẽo, gay gay….

Hồi này sao thế, mới tảng sáng mà ông cứ chợt tỉnh chợt mê. Những khoảnh khắc chợt thức chợt ngủ cứ đan nhau làm ông lẫn lộn giữa hư và thực.

Lại nữa rồi, giọng đọc thơ ấy vẳng lên sao giống như giọng nói lạnh lẽo phát ra từ hòn đá cái : “Xin chớ gần tôi, thuyền tôi sắp vỡ”, vừa xua đuổi lại vừa thiết tha van xin ở lại. Những tảng đá ấy không còn yêu nhau nữa chăng ?

Hôm kia Phấn nghiêng người xuống rót rượu cho ông. em nói rất nhỏ : “Bố ơi, em sắp sửa xa bố, em đi lấy chồng. Bố sẽ không còn gặp em nữa đâu. Nhưng bố đừng buồn”. “Tại sao không buồn khi chẳng còn em ngày ngày bố gặp ?”, ông nói mà như khóc. Hơi thở Phấn lướt qua trên mái tóc lốm đốm bạc của ông : “Đừng buồn bố ơi, vì sao bố biết không, vì dù em đi lấy chồng nhưng em yêu bố, em yêu bố, em yêu bố…”

Người đàn ong chợt nghe trái tim mình đau thắt, lòng ngực như đang bị ai kéo dãn ra. Trước mắt ông ta có những bóng đen như có bầy ruồi đen bay lơ lững. Ông thấy chếnh choáng như những hôm say rượu, mắt hoa lên. Ông gục xuống cuốn thơ cũ ố vàng dưới ánh nến đang lụng dần, lụng dần….

Trương Đạm Thủy

TẠI SAO NHIỀU ÔNG

THÍCH VỀ VIỆT NAM CẶP BỒ ?

Đàn ông đều thích ăn quà

ăn quà rồi lại về nhà ăn cơm

ăn cơm như thể nhai rơm 

cho nên cứ phải vừa cơm vừa quà.

Từ cảm giác ‘không có chỗ đứng ở Mỹ’…

Thấy mình “không có chỗ đứng ở Mỹ” là cảm giác của ông Nghĩa Nguyễn, người sắp mừng thọ 75 tuổi và là cư dân thành phố Orange.

Không xuất thân là một tướng tá lên xe xuống ngựa có người săn đón, nhưng hình ảnh của người chồng, người cha trụ cột trong nhà, một viên chức hành chánh của một quận trước 1975, đã khiến ông Nghĩa Nguyễn trở nên có uy quyền đối với vợ con, một lời ông nói ra là “cả nhà ai cũng sợ.”

Như một kiểu gia đình nề nếp, gia giáo, nên dù có lúc “giận nhau bầm gan tím ruột” vợ ông cũng không bao giờ bộc lộ ra ngoài cho con cái hay người ngoài biết để mà còn “giữ thể diện gia đình.”

Năm 1995, lúc ông Nghĩa về hưu cũng là lúc vợ chồng ông sang Mỹ theo diện con cái bảo lãnh. Với ông, cuộc sống ở Mỹ khi đó “giống như địa ngục”. Bởi, ông “không biết lái xe, không biết tiếng Anh, xin đi làm thì không ai nhận”. Những đứa con đi vượt biên ngày nào giờ đã hấp thụ văn hóa Mỹ, không còn răm rắp nghe lời ông như ngày xưa. Mấy đứa cháu nội, ngoại thì chỉ toàn nói tiếng Mỹ, và dĩ nhiên chúng cũng không muốn nghe lời ông. Vợ ông cũng vậy. Bà dường như không còn thói nín nhịn như ngày xưa. Bà sẵn sàng “đốp chát” lại với ông ngay khi có thể.

Ngột ngạt và tù túng, ông Nghĩa “chỉ muốn quay trở lại ngay Việt Nam,” nhưng các con ông không cho, vì “tụi nó nói dù gì thì đời sống ở Mỹ cũng tốt hơn vạn lần ở Việt Nam.” Thế là việc trở về Việt Nam trở thành niềm “khao khát” đối với người đàn ông có tuổi đang sống ở thành phố Orange này. Khi dành dụm đủ tiền con cái cho, ông Nghĩa mua ngay vé máy bay về Sài Gòn.

Tương tự như vậy là trường hợp của ông Hai Lý, một cư dân ở Midway City, người cũng đã bước qua tuổi 70, “cổ lai hy”. Theo lời ông Hai Lý, ông sang Mỹ từ năm 1975, sau thời gian đi làm “assembly” ở hãng, hiện tại ông Hai đã về hưu, “ly dị lâu rồi,” và “mấy đứa con cũng đều có gia đình ở riêng.”

Ông Hai không có nhà, cũng không có xe vì ông cho rằng “già rồi đi xe bus cho tiện.” Ông không nói lương hưu của ông bao nhiêu, chỉ nói mỗi tháng ông trả $300 tiền thuê phòng, và phải ra ngoài ăn uống một cách tiết kiệm vì “chủ nhà không cho nấu ăn.” “Ở đây, người ta nhìn tình cảnh của tôi chẳng khác gì thằng cơ hàn,” ông Hai tự đưa lời nhận xét. “Nhưng khi về Việt Nam thì tôi khác à!”

Ðến ‘anh’ Việt kiều được chìu chuộng chăm sóc

“Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn. Trong khi mỗi lần về Việt Nam, tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”

Ðó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”

Người đàn ông đậm người, tóc được nhuộm đen không thể nhìn ra một sợi trắng, nói rất tự nhiên, “Về Việt Nam, tôi ít khi ở Sài Gòn, ở đó cái gì cũng mắc mỏ. Tôi còn bạn bè ở Vĩnh Long. Mỗi lần tôi về là họ dẫn tôi đi chỗ này chỗ nọ.”

“Chỗ này chỗ nọ” của ông Hai là những quán cà phê, những tiệm massage cũng “sạch sẽ tươm tất” nhưng giá cả không quá đắt. Ông Hai nói không cần che giấu, “Mình bỏ ra có ba bốn trăm ngàn, chưa đến hai chục đô, mà có người gội đầu, người ngồi cắt móng tay, móng chân, người mát-xa mặt thì còn muốn gì nữa. Ðàn ông mà”.

Ông Hai cũng nhắc đến những nơi ông thích lui tới như “cà phê vườn,” “cà phê võng” nhưng khi được hỏi ở đó có gì khiến ông thích thì ông chỉ cười không trả lời, rồi bắt qua chuyện khác.

Không nhận xét “con gái Việt Nam rẻ như bèo” như kiểu ông Hai Lý, nhưng cảm giác được “chìu chuộng chăm sóc ngọt ngào” cũng là điều ông Nghĩa Nguyễn tìm thấy trong những lần về Việt Nam sau đó.

Ông Nghĩa kể mấy lần sau về Việt Nam, nhiều bạn già, bạn nhậu của ông người thì chết, người thì bệnh bởi những chứng tiểu đường, cao máu. Buồn, thiếu người nói chuyện, ông Nghĩa “đi cắt tóc thanh nữ cho quên sầu”.

Học được cách cho tiền “tip” từ Mỹ, ông Nghĩa “bo” cho cô thợ cắt tóc một ít tiền. Thế là “cô thợ thua hơn 20 tuổi kêu tôi bằng anh ngọt xớt”. Ông Nghĩa kể lại mà gương mặt vẫn còn giữ nguyên nét hồ hởi, “Tôi nghe khoái quá ! Bởi lâu lắm rồi người ta chỉ kêu tôi bằng chú, bằng bác, vợ tôi thì khi nói chuyện cũng kêu tôi bằng ông. Giờ nghe có người kêu mình bằng ‘anh’ thấy lạ tai và thấy mình trẻ ra.”

Cứ vậy mà ông Nghĩa mê trò “đi cắt tóc, gội đầu, mát-xa.”

Rồi ông cũng chợt nhận ra là ông chưa từng bao giờ hưởng được sự dịu ngọt, chìu chuộng như vậy từ vợ con, họ chỉ từng “sợ” ông khi ông còn là trụ cột trong nhà. Ông cảm thấy hình như đã đến lúc ông cần “phải lo cho bản thân ông nhiều hơn.”

Ông Nghĩa bắt đầu có thú vui mỗi khi về Việt Nam là đi “khám phá” những “tiệm cắt tóc gội đầu máy lạnh” và đi nhậu ngoài quán chứ không còn nhậu với mấy ông bạn già ở nhà như những lần trước..

Ông lại vui hơn nữa là mấy cô gái nơi đó đều gọi ông bằng “anh” Mà tính ông lại “thương người” nên cứ nghe cô nào ngồi thủ thỉ chuyện gia cảnh khó khăn phải đi làm thế này là ông lại cho tiền, “mỗi lần 50 đô hay có khi cho 100 đô.”

Khi được hỏi, “Ông không nghĩ là những cô gái đó ngọt ngào với ông vì chỉ muốn tiền của ông thôi sao?” ông Nghĩa tỉnh bơ trả lời, “Sao lại không biết ! Nhưng tôi cảm thấy tôi happy trong những khoảng thời gian đó thì tôi làm thôi.”

Chỉ muốn ‘ăn bánh trả tiền’ hay thực sự muốn chuyện trăm năm?

“Ăn bánh trả tiền” là điều ông Nguyên Phạm, gần 60 tuổi, chủ một business nhỏ ở Santa Ana. Ông Nguyên xác định rất rõ, “Cuộc sống vợ chồng tôi ở đây không hạnh phúc. Nhưng cũng không ly dị vì không muốn giải quyết chuyện phân chia tài sản. Mỗi năm tôi về Việt Nam một đôi lần là để đi chơi, hưởng thụ.”

Theo lời ông Nguyên kể, mỗi lần về Việt Nam, qua lời giới thiệu của “người quen,” ông sẽ “cặp kè” với một cô. Trung bình ông sẽ trả cho cô gái $1,000 cho cuộc sống “già nhân ngãi, non vợ chồng” trong vòng một tháng. Còn những khoảng ăn ở, đi chơi nơi này nơi khác, ông Nguyên cũng là người chi trả hết.

Người đàn ông này giải thích thêm, “Mỗi lần về Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi như vậy chỉ thấy mình được chìu chuộng, nâng niu. Không có chuyện cãi lộn, gấu ó. Không bị căng thẳng đầu óc vì công việc.”

“Cũng có lúc gặp mấy cô dễ thương, khi qua đây rồi cũng có gọi điện về nói chuyện chơi. Nhưng khi thấy cô nào bắt đầu than ‘má em bệnh, ba em đau, xe em mất’ là tôi ‘bái bai,’ cắt liên lạc luôn để khỏi phiền.” Ông Nguyên nói.

Ông Hai Lý cũng xác định chuyện muốn “hét ra lửa,” vung tay cho tiền những cô gái quê để được chăm sóc, nâng niu cũng chấm dứt khi rời khỏi Việt Nam, bởi ông không muốn có những ràng buộc, “qua đây thân tôi lo còn chưa xong nữa mà đèo bòng thêm chi.”

Riêng ông Nghĩa Nguyễn thì có hơi khác. Không chỉ có cảm giác là mình “thật sự trẻ ra” khi “bước vô quán nào người ta cũng kêu tôi bằng anh,” mà ông còn muốn nếu có ai đó chịu đứng ra bảo trợ tài chánh thì ông sẵn sàng ly dị vợ để cưới ngay một cô từ Việt Nam qua để suốt ngày nghe tiếng “anh” cho thỏa cái lỗ tai.

Ước mơ của ông Nghĩa đang lưng chừng thực hiện được “phíp-ty pờ xen” (50%) vì các con ông chia hai phe.

Một phe ủng hộ, “ba già rồi hãy làm điều gì cho ba vui thì làm”. Nhưng phân nửa kia thì cật lực phản đối, “không chịu được cảnh nhìn ba tung tăng đi công viên với một đứa đáng tuổi cháu ngoại.” Vợ ông Nghĩa đương nhiên biết chuyện “cặp bồ” của ông ở Việt Nam, nhưng bả nói : “Già từng tuổi này rồi, tui chẳng có gì để ghen tuông, mà tui chỉ thấy phát gớm !” hích hích

Yên Huỳnh chuyển tiếp

KHÔI HÀI ĐEN (5)

Tr moc tuiTRÙM MÓC TÚI

Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình.

Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc valise da, bước vào. Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc valise  lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô,  Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.

– Rất cám ơn ! – Cô mỉm cười và trong một thoáng, mắt họ gặp nhau. Ánh mắt của cô gây cho hắn cảm giác rằng cô có ý ve vãn đôi chút. Nhưng nếu quả như vậy thật thì cô đã không gặp may.

Sau một ngày khá nặng nề, hắn đã mệt rã rời và chỉ mong ước một điều duy nhất: Chợp mắt vài tiếng để trước khi tàu đến Lyon có thể lấy lại sức lực và chỉnh đốn tư thế. Hắn hy vọng Virginia sẽ ra tận gare đón. Đã 5 năm trời họ không gặp nhau và trong suốt thời gian đằng đẵng đó, hắn đã buồn nhớ cô biết bao.

Cô gái tóc vàng ngồi xuống, châm thuốc hút và rút từ túi ra một cuốn sách. Hắn thầm nhận xét rằng cô ta có đôi chân thật đẹp và rõ ràng cô ta cũng biết được điều đó. Lát sau, hắn cố thu xếp chỗ ngủ sao cho thật thoải mái, đoạn tắt đèn nhỏ đầu giường và thiếp đi.

Tr Bac ky 2Khi hắn tỉnh dậy, cô gái tóc vàng vẫn ngồi và đang tuyệt vọng lục lọi, tìm kiếm chiếc túi xách của mình.

– Ôi thật kinh khủng, – cô thốt lên, – tôi bị mất ví rồi ! Biết làm sao đây ? Bây giờ tôi không còn một xu nào hết, mà tôi cần phải có 200 francs để mua vé máy bay.

Cô gái nhìn vào mắt hắn :

– Anh có thể cho tôi vay 200 francs được không ?

Cô hỏi thẳng thừng, ráo hoảnh cứ như đang hỏi xin vài que diêm vậy. Dù thế nào thì tiền nong trong người Pierre giờ đây cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Và tất cả những gì hiện có trong ví hắn, hắn đã phải khó nhọc ký cóp trong suốt 5 năm trời.

– Không, đáng tiếc là không có, – vì thế hắn trả lời.

Cô gái nở một nụ cười quyến rũ :

– Đưa tôi 200 francs, anh sẽ dễ dàng thoát thân.

Hắn nhìn cô không hiểu :

– Tôi sẽ dễ dàng thoát thân ? Cô ngụ ý gì vậy ?

– À, giản dị  là tôi muốn nói rằng tôi cần phải kiếm được 200 francs trước khi tàu chúng ta tới Dijon. Nhưng, có lẽ anh không có đủ 200 francs.

– Ô không, cô nói gì vậy, – Pierre gật đầu – tất nhiên là tôi có. Nhưng tôi hoàn toàn không biết cô là ai ! Thậm chí cô cũng chưa tự giới thiệu. Mà đây là cả một việc…

9 Moc tuiThoáng vài giây cô gái ngồi im, không nói lời nào. Sau đó cô hơi cúi người về phía trước, cố nắm bắt ánh mắt của hắn.

– Anh hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra, nếu như bây giờ tôi bắt đầu gào lên, giật cần hãm “đề phòng sự cố” và kể với trưởng toa rằng anh định cưỡng hiếp tôi. Bởi vì trước đây đã từng có những trường hợp các hành khách đàn ông đi đêm một mình trong cùng cupe với phụ nữ trẻ đã giở những trò như thế. Tất cả những chuyện đó sẽ đưa lại cho anh nhiều điều khó chịu đấy. Nào là cảnh sát đường sắt ư, nào là hỏi cung ư, rồi lại còn các nhà báo đang khao khát những tin giật gân nữa chứ ! Để thoát khỏi một vụ bê bối kiểu như thế, tôi nghĩ, anh sẽ không tiếc 200 francs đâu.

– Tôi nghĩ rằng, với tôi, vở diễn đấy của cô sẽ không thành đâu, cô bạn quý mến ạ, – hắn thờ ơ nói và rít thuốc.

– Anh hãy nghe đây này, – cô gái mỉm cười tự tin, – tôi có cảm tưởng anh chưa tính được rằng tôi hoàn toàn không có ý định đùa đâu nhé. Nếu tôi làm bù đầu tóc lên, xé toạc áo ra, rồi chạy ra hành lang gào ầm lên, thì anh sẽ rất khó thuyết phục những người khác rằng anh không dính dáng gì đến chuyện này cả. Mà như tôi được biết, ở đất nước này, người ta trừng phạt rất nghiêm khắc những ai có những hành vi vô lại đối với phụ nữ !

– Cô quả là đê tiện hết sức…

Cô gái cắt ngang lời hắn :

– Chẳng lẽ không đáng trả 200 francs để thoát khỏi tất cả những điều khó chịu đó sao ! Tôi nhìn thấy anh đeo nhẫn cưới. Vợ anh sẽ nói gì khi cô ấy đọc trên báo rằng chồng cô ấy đã…

– Cô thật là ghê tởm.

Cô gái mỉm cười :

– Ồ không hẳn vậy đâu ! Tôi rất hiền lành với anh đấy. Bởi tôi chỉ đòi anh vẻn vẹn có 200 francs thôi, phải vậy không? Có những trường hợp tôi còn moi được nhiều hơn gấp bội . Chẳng hạn 500, 1.000, đôi khi thậm chí còn xoay được vài ngàn  chứ ! Các chính trị gia với tiếng tăm không mấy trong sạch thường vui lòng “ứng” cho tôi những khoản tiền không nhỏ để phòng ngừa những vụ xì-căng- đan. Tôi thường bao giờ cũng nhắm trước cho mình con mồi. Tr Thanh nien 4Tôi đánh giá anh khoảng 200 – 300, thậm chí có thể tới 500 francs, nhưng tôi chỉ xin anh có 200 thôi.

– Cô thôi đi được rồi đấy ! – Pierre đứng dậy chụp lấy valise của mình và muốn nhanh chóng thoát khỏi cupe.

– Hãy ngồi xuống đấy ! – Cô gái ra lệnh và ngay tức khắc quay ra ngáng đường hắn, – hay là để tôi kêu lên bây giờ! Trong chuyện này thì tôi lão luyện lắm. Anh hãy tin rằng tôi rất lành nghề trong công việc của mình!

Pierre quẳng valise xuống ghế và ngồi phịch xuống. Hắn tin rằng cô ta rất dám thực thi những lời đe dọa đó nếu như hắn mưu toan chống lại cô tạ Liếc nhìn sang, hắn thấy trên cườm tay cô ta những đồ trang sức đắt tiền. Đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy cô ta rất lão luyện trong nghề.

Cô gái ngó nhìn đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình.

– Còn năm phút nữa chúng ta sẽ tới Dijon, mà tôi thì phải xuống bến đó, – cô nói bằng một giọng hết sức lạnh lùng sự vụ, – tôi cho anh đúng một phút nữa để quyết định. Phanh hãm phòng bất trắc nằm ngay dưới cửa cupe đây. Tôi chỉ cần vài giây là đủ để xé áo, vò tóc mình, cào mặt anh và kêu cứu. Tôi có thể gào chói tai đến mức…

– Còn tôi thì sẽ lập tức kể với mọi người sự việc trên thực tế ra sao và cô là kẻ lừa bịp thế nào. Cô đừng tưởng rằng…

Cô gái phì cười khinh bỉ :

– Những kẻ hiếp dâm bao giờ chẳng bày ra những điều thanh minh ngu xuẩn, nhưng ai mà tin chúng được. Nhất là trong những trường hợp quan trọng như thế này !

Pierre nhổm dậy, dụi đầu thuốc lá vào chiếc gạt tàn và sau vài giây lưỡng lự tiến đến trước mặt cô gái.Gai bao 2 Cô ta vẫn đứng chắn ngang cửa, một tay nắm lấy cổ chiếc áo sơ mi trắng của mình để sẵn sàng xé toạc nó trong chớp mắt. Những móng tay nhọn hoắt sơn đỏ của cô ta, rõ ràng chỉ cần vài giây là đủ để làm biến dạng khuôn mặt hắn – để “tự vệ” mà.

– Thôi được, – hắn nói, đồng thời nhún vai khuất phục, rút từ ví ra mấy tờ giấy bạc, nhưng để bù lại khoản này tôi đề nghị phải trả lại tôi lãi suất bằng hiện vật.

– Bằng hiện vật ? Thế nghĩa là thế nào ?

– Tôi đề nghị cho phép tôi hôn cô, để sau này còn có thể vỗ ngực khoe khoang rằng đã được hôn một nữ quái tống tiền trâng tráo nhất thế giới ! Cô sẽ nhận 200 francs, còn tôi thì được cái hôn. Như vậy theo tôi, có lẽ công bằng hơn. Cô thấy thế nào, hay là cô có ý kiến khác ?

Cô gái tóc vàng thoáng chút lưỡng lự. Sau đó cô chụp lấy mấy tờ giấy bạc, còn hắn thì kéo cô về phía mình, ôm hôn say đắm. Đó là một chiếc hôn rất dài.

– Thôi đủ rồi, – cô gái thốt lên rồi quẫy ra. Đúng lúc đó đoàn tàu dừng lại. Cô gái lôi valise của mình khỏi giá và bước ra. Pierre đứng ở cửa cupe dõi theo bước chân cô dọc hành lang cho đến khi cô bước ra khỏi toa tàu. Đoạn, hắn trở lại, ngồi xuống chỗ của mình, châm một điếu thuốc mới và rút ra một tờ báo. Đã vài phút trôi qua, đoàn tàu lại chuyển mình đi về hướng Lyon.

– Cô nhóc thật ranh ma, quỷ quyệt, – hắn lẩm bẩm không giấu vẻ khâm phục, – nhưng thật không may cho cô ta là đã gặp phải mình.

Nói đoạn hắn đút chiếc đồng hồ và chiếc vòng vàng của cô ta vào túi áo. Lật qua mấy trang báo, hắn cẩn thận cắt ra một mẩu tin, trong đó có nói rằng ngày hôm nay, sau khi hết hạn 5 năm tù, trùm móc túi Pierre Joli vừa được phóng thích.

Lan Hương chuyển tiếp

Câu chuyện ít người biết của cặp đôi

“ANH RĂNG HÔ”

& “EM NGỜ NGHỆCH”

từng bị chế cả ngàn bức ảnh

Các bạn trẻ thuộc thế hệ 8X và 9X đời đầu liệu có còn nhớ đến cặp đôi hoàn hảo người Trung Quốc gồm “anh răng hô” và “em ngờ nghệch” từng bị chế ảnh thành hàng trăm chủ đề khác nhau hay không

Cách đây vài năm, khi internet đang thời kỳ bùng nổ, các “thánh chế” cũng được dịp phát huy khả năng sáng tạo vô bờ bến và chia sẻ những tác phẩm của mình rộng rãi trên các diễn đàn. Khoảng thời gian ấy, có rất nhiều cái tên bỗng trở nên nổi như cồn chỉ sau 1 đêm, có biết bao người bị đem ra làm cảm hứng sáng tác và bỗng nhiên trở thành người nổi tiếng bất đắc dĩ.

Trong số đó, chắc hẳn các bạn trẻ thuộc thế hệ 8X và 9X đời đầu không thể nào quên được cặp đôi hoàn hảo gồm “anh răng hô” và “em ngờ nghệch” từng làm mưa làm gió trên khắp mạng internet năm xưa.

Tháng 3/2011, bức ảnh chụp một cậu học sinh với nụ cười tươi rói cùng hàm răng sáng chói được đăng tải và chia sẻ chóng mặt trên các trang mạng xã hội ở Trung Quốc. Nhân vật chính trong bức ảnh là chàng trai Trương Dũng và cậu bạn cùng lớp phổ thông tên Dư Trẫm Triết, năm nay đều 26 tuổi và cùng là người Chiết Giang, bỗng nhiên trở thành những nhân vật được quan tâm đặc biệt và được giới truyền thông săn đón nhiệt tình.

Tính đến ngày 2/4/2011, tức là chưa đầy 1 tháng sau khi bức ảnh gốc được tung lên mạng, các “thánh chế” tài ba đã photoshop bức ảnh chụp 2 chàng trai thành những câu chuyện hài hước với hơn 100 chủ đề khác nhau: từ những nhân vật hoạt hình nhí nhảnh cho tới các diễn viên nổi tiếng, từ đoạn quảng cáo tươi vui cho tới những bức tranh vẽ đầy màu sắc…

Điều đáng nói là tất cả những bức ảnh có sự hiện diện của cặp đôi kể trên đều được lan truyền với tốc độ kinh hoàng.

Các cư dân mạng khi ấy đã ưu ái tặng cho 2 chàng sinh viên Đại học năm 3 những biệt danh vô cùng đáng yêu và… chân thực. Chàng trai Trương Dũng với nụ cười tươi rói lộ nguyên hàm răng ra ngoài được đổi tên thành “anh răng hô”, còn cậu bạn Dư Trẫm Triết với vẻ mặt thẫn thờ như mất sổ gạo và chiếc cổ đang cố vươn ra thật xa ở bên cạnh thì được biết đến với cái tên “em ngờ nghệch”.

Trương Dũng tiết lộ, bức ảnh nổi tiếng được chụp từ khi cậu còn học cùng lớp cấp 3 với Dư Trẫm Triết, nhưng không hiểu vì lý do gì mà đến năm 2011 người ta bỗng “khai quật” được nó và biến nó thành nguồn cảm hứng dồi dào để chế tác.

Chàng trai cũng không hề giấu giếm bức ảnh ấy là do một người bạn cùng lớp đề nghị được chụp lại nụ cười với “hàm răng bàn cuốc” đặc trưng của cậu để làm kỷ niệm và cậu đã vui vẻ đồng ý.

Sau khi những bức ảnh chế được lan truyền chóng mặt, cuộc sống của 2 chàng trai bất đắc dĩ trở thành người nổi tiếng đã thay đổi rất nhiều. Từ những chàng trai rụt rè, ít nói và sống có phần khép kín, họ bỗng trở thành đối tượng được các công ty quảng cáo mời chào và được nhiều nữ sinh chủ động theo đuổi.

Có khá nhiều công ty tên tuổi đã ngỏ ý mời 2 anh chàng đầu quân cho mình nhưng bọn họ đều lắc đầu từ chối vì cảm thấy không phù hợp với giới showbiz đầy thị phi.

Trương Dũng nhớ lại, có fan cuồng ở thành phố Đại Liên còn cố gắng tiếp cận bằng cách gửi rất nhiều tranh vẽ chân dung của anh chàng để làm quen. Tuy nhiên, anh chàng đã phải tìm cách từ chối khéo mãi mới được vì không chịu nổi việc yêu xa.

Trước những bức ảnh chế đầy sáng tạo của cư dân mạng, cả Trương Dũng lẫn Dư Trẫm Triết đều tỏ ra rất vui vẻ vì có thể đem lại tiếng cười cho mọi người. Tuy nhiên, có một số người cố tình bêu xấu họ và chế ra những bức ảnh có phần quá đà khiến cho họ cảm thấy không thoải mái. Bên cạnh đó, những tin đồn thất thiệt cứ luôn đeo bám khiến Trương Dũng cảm thấy mệt mỏi và phẫn nộ.

Thậm chí, có người còn tung tin sau khi bức ảnh “kinh điển” được lan truyền trên mạng, 2 chàng trai đã bị đuổi học và uất hận nhảy lầu tự tử. Chính vì vậy, một người không thích ánh đèn sân khấu như Trương Dũng đã phải lấy hết dũng khí tham gia một chương trình truyền hình để chứng minh cho mọi người thấy rằng cuộc sống phía sau hào quang của anh rất ổn.

Bởi vì cặp đôi “anh răng hô” và “em ngờ nghệch” đều khá kín tiếng và gần như lặn mất tăm khỏi giới showbiz, thế nên rất ít người tường tận về cuộc sống sau này của họ.

Chỉ biết rằng, Dư Trẫm Triết đã thuận lợi tốt nghiệp trường Đại học Hàng Châu và tìm được công việc ưng ý, còn Trương Dũng cũng đã hoàn thành chương trình học ở trương Mỹ thuật Trung Quốc, tuy nhiên sau đó, anh chàng lại chuyển ngành và hiện đang là một chuyên viên IT đầy triển vọng. (theo Kenh14/TTVN)

TẠI SAO NGƯỜI TỐT

LẠI GẶP XUI XẺO ?

Bao Chửng (999-1062) thời Bắc Tống, còn gọi là ông Bao Thanh Thiên hay Bao Công, nổi danh là một vị quan thanh liêm mẫu mực và có tài xử án. Dưới đây là một trong rất nhiều câu chuyện được lưu truyền trong dân gian về ông.

Thủa ấy ở một làng nọ có một cậu bé tàn tật chừng mươi tuổi, gẫy chân, sống một cuộc sống ăn xin nghèo khổ. Trước làng là một con suối lớn. Vì không có cầu, nên dân làng muốn qua suối là phải lội, rất bất tiện, nhất là đối với những người già vào mùa nước lũ. Nhiều năm đã qua đi như vậy, cho đến một hôm người ta thấy cậu bé ăn xin què quặt gom những tảng đá lớn về bên suối. “Cháu muốn xây cầu để mọi người đi lại thuận tiện”, cậu giải thích. Người làng cho đó là chuyện khôi hài của một cậu bé khùng nên không để ý đến.

Nhưng đống đá dần dần lớn lên qua tháng năm trở thành một cái gò, và dân làng bắt đầu hiểu ra. Nhiều người cũng góp thêm sức vào, chẳng mấy chốc đã đủ đá xây cầu. Rồi người ta thuê thợ xây dựng đến làm. Trong quá trình cùng làm, cậu bé bị mảnh đá bắn vào mắt và mù cả hai mắt. Người dân lấy làm thương cảm lắm. Nhưng cậu bé, mặc dù đã què lại thêm mù, vẫn không một lời ca thán và cố gắng trong khả năng của mình cùng góp sức xây cầu với dân làng.

Cuối cùng, sau những tháng ngày nhọc nhằn vất vả, cây cầu đã được xây xong. Dẫu không nhìn thấy gì, nhưng trên khuôn mặt của cậu hiện một nụ cười rạng rỡ.

Đột nhiên một tiếng sấm nổ vang dù trời quang mây tạnh. Và người ta thấy rằng cậu bé ăn mày đáng thương đã bị sét đánh chết ngay trên chiếc cầu mới xây.

Dân làng kêu oan tại sao trời xanh lại hại người tốt ?!

Bấy giờ nhằm lúc Bao Công đi thị sát qua làng. Dân làng kéo ra kêu oan với Bao Công, rằng tại sao trời xanh lại hại người tốt. Trước câu chuyện quá thương tâm, và cảm thấy quá bất công, Bao Thanh Thiên chẳng cầm nổi lòng mình, bèn viết “宁行恶勿行善” (ninh hành ác vật hành thiện: thà làm điều ác còn hơn làm điều thiện).

Trở về kinh đô sau chuyến công du, Bao Công cảm thấy rất vướng mắc về việc này, nhất là về những gì ông đã viết trong lúc không dằn được lòng mình. Trong bản tấu trình, ông đã không báo cáo lên nhà Vua về sự kiện hy hữu đó.

Nhà Vua hôm ấy mời Bao Công đến chơi và dẫn Bao Công đến gặp hoàng tử mới ra đời trong lúc Bao Công đi thị sát ngoại tỉnh. Hoàng tử trông khôi ngô nhưng mắc tật khóc suốt ngày. Nhà Vua cũng muốn hỏi Bao Công xem có cách nào cho hoàng tử hết khóc. Bao Công thấy hoàng tử da dẻ trắng trẻo mịn màng, và trong lòng bàn tay dường như có một hàng chữ. Ghé mắt vào nhìn kỹ thì chính là “宁行恶勿行善” ! Quá bất ngờ và xấu hổ, Bao Công lấy tay để xoá, và kỳ lạ thay, ông vừa vuốt qua thì dòng chữ biến mất. Hoàng tử nín khóc tức thì.

Nhà Vua rất đỗi ngạc nhiên, hỏi tại sao lại như thế. Bao Công sợ hãi quỳ xuống kể lại hết đầu đuôi câu chuyện, và xin Vua xá tội vì đã không báo cáo về chuyện này trong bản tâu trình. Vua bèn ra lệnh Bao Công phải điều tra cho rõ vụ việc.

Đêm ấy Bao Công ngả đầu lên chiếc gối “âm dương địa phủ” và lập tức trong mộng đi đến cõi âm gian. Diêm Vương kể cho ông rằng hoàng tử đó vào mấy đời trước từng làm việc đại gian ác, nên Thần đã an bài phải trả nghiệp ác ấy trong ba đời: đời thứ nhất què cụt, đời thứ hai mù loà, và đời thứ ba bị sét đánh chết.

Nhưng khi què quặt xin ăn, cậu bé đã luôn vì người làm việc tốt, nên Thần đã rút lại thời gian trả nghiệp và khiến cậu bé ăn xin bị mù. Sau khi mù, cậu bé đã không những không oán thán ai hết mà vẫn luôn vì người làm điều thiện. Vì lý do ấy mà Thần đã an bài lại một lần nữa để cậu bé trả hết nghiệp trong một đời. Diêm Vương nói với Bao Công : “Một đời trả hết nghiệp thay cho ba đời, lại còn có phúc phận chuyển sinh làm hoàng tử.”

Quế Phượng tổng hợp chuyển tiếp

Chuyện các bà vợ

Trên đời này có 2 việc khó nhất:

1/- Là nhét tư tưởng của người này vào đầu của người khác.

2/- Là nhét tiền của người khác vào túi của mình.

Nếu:

1/- Ai làm được điều số 1 thành công thì ta gọi đó là ….. thầy.

2/- Ai làm được điều thứ 2 thành công thì ta gọi đó là …… chủ.

Nhưng nếu có người làm được cả 2 điều trên thành công thì ta gọi đó là: … Vợ !!!

HA, HA, HA !!!!!!!!!!!!

Chí lý

BẠN, là người khen ta khi ta đúng; chê ta lúc ta sai.

KẺ THÙ, là người khen ta khi ta sai; chê ta lúc ta đúng.

Còn kẻ mà lúc nào cũng chê ta, dù rằng ta đúng hay sai thì đích thị là … VỢ TA !

Yên Nhàn chuyển tiếp

CHỐN CŨ ĐƯỜNG XƯA

KÝ ỨC MỘT THỜI SÀI GÒN

Hồi trước, ở Sài gòn, cánh đây lâu lắm, tròm trèm… nửa thế kỷ lận nhen… Tất cả cái loại xe hơi, hai đèn trước, đều phải có “mắt mèo” nghĩa là phải sơn màu vàng lên 1/3 bên trên mặt kiếng của đèn trước, ý là… hỏng cho bác tài pha đèn ban đêm, làm chói mắt người hay xe chạy ngược chiều ! Bởi vậy, bác tài có muốn… chơi ác pha đèn, cũng… bó tay !!!

Khúc đường gần bịnh viện đều có bảng “cấm nhận kèn” để bịnh nhân khỏi giựt mình!

Xe đậu trong đường Sàigon đều phải tuân theo bảng đậu “ngày chẵn lẻ”… Tất cả xe tắc-xi đều sơn trùng một màu xanh hoặc vàng xanh, ý là để “khách bộ hành” biết nó từ đàng xa để… quơ tay đón và cũng. có ý là nếu, hỏng… phải xe tắc xi, mà là xe du lịch tư nhân lại đi ”dù” rước khách… kiếm chút cháo là biết liền, cũng dĩ nhiên, xe nào “nhảy dù” như vậy, bị bắt là bị phạt, lớ quớ còn bị tịch thu bằng lái !

Xe tắc xi phải có đèn hộp “bắt chết luôn” trên mui xe, về đêm, hộp đó có đèn cháy sáng để khách biết mà… dơ tay đón… để cho khỏi lộn với xe du lịch !

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng riêng để dể phân biệt với xe đò… Ví dụ Xe Buýt Vàng thì… sơn màu vàng đặc trưng… khác thiên hạ… Bến xe nầy ở gần Bà Quẹo… mà bà con gọi là Bến-Tô-Bít-Vàng…  Kế bến xe buýt vàng nầy có hãng cơm xấy Hồng Hoa (?) làm cơm xấy cho lính…

Bắt đầu 18 – 20 tuổi… mới cho thanh niên lái xế hộp 4 bánh du lịch… để lấy le, sau đó vài ba năm, bác tài… trẻ mới lên được 1 “hạng”, rồi cày vô lăng… vài năm nửa, mới cho… mó tới xe tải, rồi “chạy xe” thêm vài niên, mới “đủ ngày” để lấy dấu E để lái xe đò, nghĩa là khi bác tài lái… mấy chục tánh mạng hành khách, thì bác tài… vô tuổi trung niên rồi, nên… hết máu thanh niên, háo thắng, ưa nóng gà… chạy ẩu !!! Chớ không có cái chuyện “giao trứng cho ác” được !

Ở ngã tư đèn đỏ, có vạch sơn trắng, tất cả xe cộ đều ngừng sau vạch đó, xe nào cáng mức sơn, mà nhè ông đạp xích lô thấy được… ổng chửi cho tắt bếp, quê lắm nhen !!!

Nhà bán thuốc tây, thì bảng hiệu đề Nhà Thuốc Tây hoặc Nhà Thuốc Gác (đó là danh từ chung) chớ khộng ai lấy Tên Riêng (danh từ riêng) để đề bảng hiệu bán thuốc tây ! Hai bảng hiệu nầy luôn luôn là bảng màu xanh đậm và chữ trắng, nó còn có hộp đèn chữ thập xanh gắn thêm, để đêm hôm, người mua thuốc… đứng ở xa, cũng thấy ! Tiệm nào bán thuốc bắc thì có chữ “đường” ở sau, Ví dụ : Vĩnh Sanh Đường, Nhị Thiên Đường, Thiên Hòa Đường…

Còn chùa thì có chữ “tự”… dính ở sau, ví dụ : Huỳnh Kim Tự, Thới Hòa Tự, Long Vân Tự, Linh Sơn Cổ Tự…

Tiệm bán vàng thì bảng hiệu chỉ có 2 chữ, chũ  đầu luôn luôn là chữ “kim”, ví dụ: Tiệm vàng… Kim Hưng, Kim Liên, Kim Sen, Kim Hoàng, Kim Phát…

Địa Danh ít khi dùng chữ Thái (kỵ húy vua Thành Thái ?) mà dùng chữ Thới : Ví dụ: Thới Bình (Cà Mau), núi Châu Thới (Biên Hòa), Bình Thới (quận 11), Tân Thới Hiệp (chỗ tập lính QT) Thới Tam Thôn, Thới Hòa (Vinh Lộc) Thới Nhứt, Thới Nhì, Thới Tam, Thới Tứ (Hóc Môn), Xuân Thới Sơn (chỗ đương trạc, giỏ tre… )

Nhà dân cất dọc đường lớn, xa lộ, người ta luôn luôn tự động cất nhà thụt lùi vô trong, ở xa lộ, cách Xa Lộ ít nhứt là 50 mét ! Lý do là để cho an toàn chuyện xe cộ, thứ 2 nếu có mở rộng đường xá thì khỏi phải dời nhà… Nhà mà dời đi, dời lại là điều ông bà xưa kiêng kỵ, nên, hỏng ai ham lú mặt ra đường ! Dọc đường cái trống trơn, hỏng ai… dám gan, tới chỗ đó… tự nhiên cất nhà…

Nếu gan cùng mình, cất nhà đại… thì cứ cất, đợi cất xong, bên Điền Địa hỏi Bằng Khoán đất, hỏng có, thì “coi như”… gia chủ xách tụng đi ăn mày… ở tòa bố ! Còn những tên cất nhà, mà lấn từng tấc đất, bà con nói nhẹ rằng “thằng đó hết xài” ! Thằng nào “hết xài”… thì nó, chỉ còn nước… đội quần mà đi, nhục lắm !!!…

Ở Sàigon, cái vụ học hành, có ba thứ trường để học :

Trường Công Lập, Trường Tư Thục và Trường Hàm Thụ

TRƯỜNG HÀM THỤ là trường… mà… hỏng ai tới trường ! Bất kể ai, vì hoàn cảnh gì đó không tới trường học trực tiếp được, thì cũng có cách học để tiến thân, đó là “học trường hàm thụ”. Nghĩa là, cứ… đi làm sở, làm sùng tà tà hay làm việc nhà nấu cơm hoặc cày sâu cuốc bẩm đồng sâu nước mặn…

Nếu muốn tiến thủ trong cuộc đời… thì ghi danh học Trường Hàm Thụ, trường sẽ gởi Bưu Điện bài học, bài làm tới nhà và làm bài xong, gởi bưu điện tới cho trường chấm bài, rồi trường gởi bài tiếp… Cứ thế… cứ thế… Chỉ tới ngày thi, thì thí sinh phải đi thi mà thôi… Bởi vậy, anh em nào có tinh thần cầu tiến, cứ học, nếu thi đậu thì đáng nể lắm !!!

TRƯỜNG TƯ THỤC thì học sinh phải “đóng tiền trường” hàng tháng và bằng Tú Tài cũng giống y như học sinh Trường Công Lập…

TRƯỜNG CÔNG LẬP là… trường công, học sinh không đóng tiền trường suốt 7 năm Trung Học… Đặc biệt, trường Công Lập nam nữ… lại cho học riêng, như :

– Nữ Trung Học : Lê Văn Duyệt, Gia Long, Trưng Vương… vv…

– Nam Trung Học: Hồ Ngọc Cẩn, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký, Lý Thường Kiệt, Quốc Gia Nghĩa Tử… vv… Mạc Đỉnh Chi (nam nữ cùng trường)

Ở trường công nam, Nam Sinh mặc đồng phục Quần xanh áo trắng… bỏ áo vô thùng, trên miệng túi áo, có ghi tên trường hẳn hẹ… nên đố thằng nào… dám hó hé! Ở trường công nữ, Nữ Sinh đồng phục là mặc áo dài trắng, quần trắng… Có… thời khắc “mấy nhỏ áo dài trắng”… bắt chước mấy cô ca sỹ Sàigòn, bận áo dài vạt “lửng”… còn tay áo thì kiểu “rặc lăn”… là… tay áo dài nối vô thân áo…

Mấy anh chàng Nam Sinh trường công vì học chung “tòn-là đực rựa”… nên nhiều thằng dòm… quí nàng áo dài… vạt lửng… bước đi với tà áo (cố tình) thước tha yểu điệu, tụi đực rực… áp nhau thấy, tụi nó… rụng rúng bầy bầy !!! Hì hì…

Bởi vậy, mới có chuyện, mấy “tay tổ” trường công nam, cúp cua vô Lăng Ông Sở Thú Tao Đàn… để “trồng cây si” mấy nàng áo trắng, thây kệ chuyện, bị… cồng-sing !!! Và… thấy tiếp… ở Sàigòn năm xưa…

Cây xăng nào cũng có “vòi bơm bánh xe gắn máy, xe hơi” đứng ở giữa hai trụ xăng… Đang chạy xe, thấy bánh xe mềm, tấp vô cây xăng, dựng xe trước “cây bơm”, lấy tay “quây” cây kim hơi, về số 5 (5 năm ký hơi)… rồi ung dung ngồi xuống, mở nấp vòi, ịnh đầu bơm hơi vô vòi ruột xe… để cho nó tự bơm, cây kim bơm hơi, quơ quơ nghe cạch cạch cạch, tới khi, nghe kêu cái teng, đủ hơi, là máy bơm tự động ngừng bơm… Bơm xe như vầy, nghe… nó phẻ cách gì, chớ 2 tay “thụt ống bơm”… mệt lắm !!!

Nhưng… úi chà… cứ bom cây xăng riết, ruột xe Honda tòn – là… nước không hà ! Biết được ruột xe có nước là do vô vá xe tại tiệm sửa xe “Sĩ Solex” kề bên trường Lê văn Duyệt và bên kia đường… có rất nhiều ruộng rau muống xanh um !

Trên đường Phan Đình Phùng Sàigòn 3, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng. Cho mướn sách là cho độc giả… mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang bìa, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày… răng rắc !

Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản… hỏng vui với Cảnh Hưng… Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn… hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, vì sách nằm trong kệ… đen nghẹt, bít kín từng trệt và 2 từng lầu… Ông Cảnh Hưng… tướng tá… hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học trò khoái lắm ! Thằng học trò nào mê Kiếm Hiệp, muốn luyện chưởng hay… muốn đột nhập “cái bang vài ba túi”… thì tới đây… tìm bí kíp !!!

Ông Cảnh Hưng… biết tẩy học trò hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười hì hì, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… là cái… giá-ghẽ-ghề…  Bởi vậy, học trò “mê đọc sách” Cảnh Hưng… quá xá cỡ là vậy đó đa !!!

Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách… theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ”…

Ông Cảnh Hưng có trí nhớ… siêu phàm tàn canh gió lốc…

Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ :

– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2…

– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà ?

– Thì ờ… người ta mượn hết ráo rồi, giờ còn cuốn 3… Cuốn 1 và 2 mai trả…

–… vậy đi… lấy tui cuốn 3… cũng được !

Ông Cảnh Hưng ra lịnh :

– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai !

Học trò Đệ Lục nghe ông Cảnh Hưng… nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất… thấy mà xám hồn luôn !!!

Ông Cảnh Hưng có quen với nhiều nhà xuất bản, như Yên Sơn (Phú Nhuận) chẳng hạn, khi đang sách in, ông… được ưu tiên “thộp” một mớ… đem về cho mướn trước, khi nào in đủ số, sách… mới phát hành ! Bởi vậy, coi sách “nóng hổi” là vậy !  Mỗi loại sách, Cảnh Hưng có ít lắm 15 bộ mới đủ cho mướn…

Đặc biệt, những cuốn sách hồi xưa, xa lắc, xa lơ… xuất bản từ hồi… bà cố hỉ cố lai 8 đời vương ông hoãnh… nhà Cảnh Hưng cũng có !!! Như cuốn Tôi Kéo Xe của Tam Lang hay cuốn Con Trâu của Trần Tiêu in năm 1940 hoặc cuốn Chồng Con in năm 1941 !!!  Biết “rõ” như vậy là do Cô dạy Việt Văn cho “thuyết trình” ở lớp những Tiểu Thuyết xưa, mà sách… xưa ơi là xưa, thì chỉ có ở nhà Cảnh Hưng !!! Thế là học trò Đệ Lục tức tốc mượn về, để… mần thuyết trình trong lớp…

Sách cho mướn, được bao thêm bìa giấy xi măng, trên đó, viết chi chít ngày mượn…

Ngoài ra, học trò muốn mượn “cuốn nào hây hây”, thì… hỏng hiểu “do đâu”, ông Cảnh Hưng liền nói tuốt luốt một lèo cho nghe, cái nội dung cuốn “sách hây” hoặc là bất kể cuốn nào mà học trò còn… mù mờ, nghe xong, thế là học trò mượn liền ! Ông Cảnh Hưng còn… quảng cáo cuốn sách… thứ dữ… “chỉ tao mới có”…

Sách nầy thuộc loại “cái ban môn phái” mà học trò khi ấy… đang muốn luyện thử !  Đó là cuốn Lục Tàn Bang (quên tên tác giả) Đây là cuốn sách viết về… cái bang bảy tám túi, coi… hay hết kỵ luôn:

Lục Tàn là 6 nhân vật (tàn tật) gồm : Thằng đui, thằng điếc, thằng mất 2 giò, thằng mất 1 tay, thằng mất 1 chưn, thằng cụt 2 tay. Thằng đui làm… Bang Trưởng Lục Tàn !!! (ối trời… *&%#?><… ) Sáu ông cố tàn nầy… luyện chưởng, luyện gồng, luyện nghe, luyện thấy, luyện chạy… thuộc hàng cao thủ võ lâm… để trả thù cho sư phụ bị sát hại năm xưa…

Giới giang hồ cho rằng “môn phái” đó bị tiêu diệt, khi 6 đệ tử sau cùng bị thương nặng trong rừng, không ai cứu chữa và ai cũng tưởng… chết hết rồi ! Mấy thằng học trò Đệ Lục coi say mê Lục Tàn Bang luôn !!! Có thằng còn “luyện thử”… cách dòm xuyên màn đêm của cao thủ Lục Tàn Bang !!! Bởi vậy, thằng nào… non tay ấn, luyện nhản riết, tới độ mang kiếng cận dầy cui, chớ ở đó mà đổ thừa “tại bị”… rồi nói dóc là “tao lo học” tới cận thị!!! Ba-xạo quá nha mấy cha!!!

Trên đường Phan Đình Phùng, sáng sáng có xe lấy rác, có gắn cái chuông kêu leng keng. Cuối hẻm 376 là đình Phú Thạnh, là chỗ con nít ưa tụ tập, thả diều, bắn đạn… Trước nhà số 380 Phan Đình Phùng Sàigòn 3 có “phong tên” nước công cộng… Ở đó có đông người “chuyên gánh nước mướn”, được bà con các hẻm xung quanh “mướn” gánh nước mỗi sáng sớm, gánh từng đôi nước về nhà… Mấy bà (cô) gánh nước khoái đọc cuốn tiểu thuyết Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên !

Nước phong tên ở đây được chảy từ cái sa-tô-đô cũng nằm ở đường Phan Đình Phùng… và và… nếu ai… hà tiện, thì khi khát nước, cứ lại phong-tên khòm lưng mở vòi uống… chùa… Bà con gọi là “uống nước khum”…

Cùng phe gánh nước mướn ở phong-tên, cũng có mấy người “ở đợ” nhưng được gọi nghe cho… nhẹ hơn là “con sen”, sáng sớm cũng ra gánh nước về nhà cho chủ… Lúc đó và sau đó, Tân Nhạc với điệu Boléro thịnh hành trên khắp nẻo đường và có nhiều bản nhạc “hợp với tâm trạng – hoàn cảnh” nên Ca Sỹ thứ thiệt hát là rung động trái tim, nên được mấy bà chị gánh nước khoái, cứ nhè mấy bản đó hát mãi, tiếng ca “nhảo nhẹt” mà hát… hoài hoài hỏng biết chán, bà con nghe riết phát nhàm…

Dần dà, cộng thêm mấy chị… ma-ri-sến ”làm sở Mỹ”, rồi dân vũ nữ quán Bar, phòng trà… thuộc loại quá “date”… cũng hát những bản điệu Boléro thịnh hành ! Ma Ri Sến thất nghiệp cũng về gánh nước và cũng hát “bản tủ” như mấy chị kia… Cứ hát riết, phát ngấy, bà con gọi giọng hát đó là… giọng rên… ma ri sến !!!

Mấy chị… sáng sớm vừa chờ nước vô thùng vừa hát tân nhạc véo von, chỉ có vài bài tủ, mấy chị cứ hát riết nghe… phát mệt… (Đã vậy, nó còn “cộng hưởng” rồi “trùng tên” với… cái vụ con gái rơi của ngài thượng sĩ – tổng thống da đen Bocasa bên châu phi, tên cô là Mary… Cô Mary gái lai đen nầy ở vùng Ngã Năm chuồng chó, ngài tông-tông Bocasa nhờ báo Trắng Đen tìm dùm, thế là cô Mary… trở thành ngọc ngà châu báu… ) Và “miệng thế gian”… đặt cho chết tên cho giọng ca… mới nổi, giọng ma-ri-rến !

Giọng marisến… làm mệt lỗ tai… thính giả ! Hát “bản nhạc tủ” miết, làm cho nó… lờn, tới độ, bà con nằm nhà hay đi ngang… nghe… thì biết là tiếng hát của con Sến nào !!! Khi ở nhà bà chủ, tên là Con Sen, sau đó, nàng ra Vũng Tàu làm “ma ri sến”… ở mấy cái Bar Thiên Thai, Ạc-ăng-Sen… ở Bãi Trước… Vì vậy, giọng ca con sen hay con sến… đều như nhau… Và bà con… giận, khi nghe hoài mấy bản nhạc “tủ”, nên nói : – Mấy con nhỏ đó… là sến nướng… nên ca hoài !!! – Mấy con sến đó… ca đi ca lại miết, nghe mệt thấy mẹ !!!

Ở đầu đường Phan Đình Phùng, có nhà số 3 đó là Đài Phát Thanh Sàigòn… Ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt có tòa đại sứ Miên, bên kia đường là cây xăng rất lâu đời và ở ngã tư nầy, năm 63 hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu… Cũng ở ngã tư nầy, có tiệm cơm tàu, ở đây có món “cơm thố”… ngon bá chấy !!! Cơm thố được hấp trong cái xửng tre có cả chục ngăn, thố là chén nhỏ rí, chừng 3 muỗng cơm, vì vậy, ăn xong, thố chất 1 chồng 15 cái… cao như núi !!! Một số… dân chơi cầu 3 cẳng, loại tứ hải giai huynh đệ… tới ăn cơm thố ở đây, ý là, để khoe chồng thố cao nghệu… để “lấy le” với thiên hạ… đó nha bà con !!!

Phan Đình Phùng… cụng vô đường Lý Thái Tổ… ngay tại ngã ba… Ở ngã ba nầy, có Phòng Trà Lệ Liễu và chủ Phòng Trà là chị Ba Liễu ! Quán “Chị ba Liễu” là chỗ gặp mặt mỗi chiều tối của rất nhiều Nhạc Sỹ – Ca Sỹ Sàigon trước khi đi hát Phòng Trà hay Hát Rạp hoặc quán Bar… Đây là “quán ruột” của Thanh Kim, Đệ Nhất Danh Cầm Hạ Uy Di… DK, MLH, GL… hát ở Phòng Trà Lệ Liễu cho khách (rất đông) thưởng thức…

Thí dụ : DK ca bài Ai Ra Xứ Huế thì chị ba Liễu “trả công” là 1 ngàn 8… Có “chàng – lính” bận đồ trận bốn túi, đội Bê Rê đen, vì là em (đệ tử) của Thanh Kim, nên chàng ta… xâm mình, bậm gan, đổ lỳ, dám… thót lên sân khấu Lệ Liễu để hát bài Đường Xưa Lối Cũ và bài Tàu Đêm Năm Cũ… (cũ mèm không hà) .

Chàng hát… một cách khơi khơi, trong khi Nghệ Sỹ thứ thiệt ngồi lủ khủ ở đó… Chàng lính trận nầy, vì ỷ có Thanh Kim… lo, nên hỏng lo trật nhịp, chàng ta cất tiếng… véo von liên tiếp hai bài tân nhạc, thì Chị Ba Liễu… coi bộ… nghe được được, chị… tức tốc tiến ra sân khấu, liền… móc bóp, xỉa cho chàng 9 trăm đồng… gọi là “lính góp vui”, rồi Chị Ba còn… xúi… (quá đã) – Đêm nào, nếu rảnh… em tới hát nhen !!! Lính mà… hát vậy, được đó…!!!

– Dà dà… $%%$!!! (vô mánh) Anh chàng lính nầy, về đơn vị… móc xấp tiền, dứ dứ lên trời… hét: – Bữa nay, tao đãi anh em cả làng một chầu… cơm tấm – cà phê – thuốc lá !!! – Chắc còn… dư bộn tiền đó ông thầy !!! – Thì thì… Băm 3 mí lỵ tôm khô củ kiệu… cho sạch nhách luôn !!! – Hoan hô thẩm quyền !!! – Hé hé… cho xin chữ ký đi ông… khò khò…

Phòng trà Lệ Liễu là chổ Nghệ Sỹ Sàigòn… tụ lại nói dóc, trước khi đi hát… Và cũng là chỗ “tụ tập” của những tay tổ đờn vọng cổ Văn Vỹ, Năm Cơ, Ngọc Sáu… Khi Ca Sĩ hát xong tới khua, trước khi về nhà, lại tụ nhau ở quán Cháo Đêm sau hàng cây… dái ngựa cổ thụ ở đường Hồng Thập Tự, quán cháo cũng gần đường xe lửa từ bên đường Phan Đình Phùng chạy qua…

Cũng ở đường Phan Đình Phùng, ngay trong vòng chợ Vườn Chuối là nhà của Soạn Giả Nguyễn Phuong, khi ấy anh Nguyễn Phương có đứa con gái nhỏ cỡ trên 10 tuổi và nó cùng với Ba Má… đặt lời thoại cho vở cải lương !!! Cô gái nhỏ cùng ba má ngồi 3 góc trong phòng, đóng làm 3 nhân vật… nói chuyện, rồi đánh máy luôn, đó là ”làm thoại” để Nguyễn Phương “lấy câu trẻ con” soạn tuồng cải lương… Đó là cách Nguyễn Phương đang soạn tuồng và… bị bắt tại trận… hì hì…

Nguyễn Phương là Đạo Diển cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga và mỗi tuồng cải lương được đánh máy sáu bảy bản để cho anh em “nhắc tuồng” đứng sau màn nhung hay cánh gà… đọc câu cho Đào Kép đứng ở ngoài sân khấu… nói hay ca !!! (cứ tưởng Đào Kép học thuộc lòng hết vở tuồng, hỏng có đâu nhen !!!)

Từ ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt chạy lên tí nữa là Ngã 6 Sàigon, ngay “bùng binh” ngã 6 nầy, có xe lửa chạy qua và là chổ bắt đầu của đường Yên Đổ, ở đây, trên đầu đường Yên Đổ,có khu Kiều Lộ (sửa, tráng dầu đường hư… ) Nằm chung trong khuôn viên khu Kiều Lộ… là Sở Phú De đó đa!!! Phú De là chổ… nhốt chó chạy rong, bị “xe bắt chó” bắt được trong đường phố! Ai mất chó, cứ vô Phú De tìm là y như rằng… nó ngự ở đó và bỏ tiền chuộc chó về! Bởi đó, hồi xưa, DA trong báo CO có viết bài Phú De Giao Chỉ, đọc nghe nhức xương Trong khu Kiều Lộ nầy có cái… cưa tay, bự chà bá, dùng xẻ gổ lóng…

Ở đây có Kỹ Sư Bê và Hồ Lợi và Hồ Lợi là dân chơi tài tử… chánh cống bà lang trọc. Trong văn phòng khu Kiều Lộ của Hồ Lợi… có tùm lum… đờn cò, gáo, xến, ghi ta thùng, ghi ta phím lỏm… treo tá lả trên tường, để nhân viên nào… quởn mà khoái đờn vọng cổ thì cứ vô… tập dợt thả giàn và… Hề Minh và danh cầm Thanh Kim, Tạo Minh Đời… vv… xuất thân từ đây ! Hề Minh là danh hề diễu có tiếng trên bầu trời Cải lương một thời…

Tạo Minh Đời cười được 18 giọng riêng biệt và còn có khiếu một mình vừa nói giọng ông nội, giọng cháu nội trai, gái, giọng con gái… rất hay, giống y giọng… như trong “gia đình bác tám”… nhất là giọng chó mèo cắn lộn… là nghe hay hết phản luôn ! Nhứt là… mở đầu câu… a… bê… cê… ca… nháy giọng xe lửa đề pa… của bản Chuyến Xe Lửa Mồng Năm của Trần văn Trạch… y chang Trần văn Trạch !… nhưng “hỏng có thời” nên anh Đời không nổi tiếng như anh Minh và anh Kim… Thanh Kim là Đệ Nhất Hạ Uy Di Cầm chuyên đờn 6 vọng cổ… nhưng né… ló mặt trước bàn dân thiên hạ truyền hình,

Thanh Kim chỉ đờn cho gánh hát và chơi tân nhạc cho quán Bar và Phòng Trà và học trò Thanh Kim là TKH… – Anh Kim, sao anh chỉ “thâu dỉa” mà hỏng thấy anh lên sân khấu hay truyền hình ? – Tao… xí-giai thấy bà… miệng rộng tàn hoạt, cười hô hố, tướng tá như đấu bò ! – Thì… có sao đâu… – Tao… trốn… để khán thính giả tưởng tao… đẹp trai đó mầy… hỏi hoài !!! – Ờ ờ… hehehe…

Năm 1965 đường Xa Lộ Saigon – Biên Hòa làm xong và dọc bên đường xa lộ đang đào để xuống ống cống vuông vuông lọt lòng trên 2 mét của Sàigòn Thủy Cục… Lúc đó, chạy xe gắn máy ở Xa Lộ thiệt… là êm, êm như mơ… Do đó, mấy tay anh chị… mới dám đi Gobel, Sachs, Rummi… chui lòn qua bụng xe be trên có 3 lóng gỗ… dài thòn bự tổ kền, đó là… chọt lét tử thần !!!

Cũng thời… xa xưa ấy, khi chở “người đẹp” ngồi đằng sau Xe Gắn Máy thì hai chân người đẹp Để Về 1 Bên, không Cô nào… dám gác cẳng 2 bên !  Nếu xe chở là chiếc Vespa Spring… thì thấy “nàng” ngồi sau… ôm eo ếch bác tài… thì… thì… ngó, thấy… đẹp như mơ luôn !!! Còn nói gì “mấy nhỏ áo dài trắng” đi Vélo Solex… thì dòm… hết phản nghen!

Gỗ rừng đem về đổ đống ở chỗ ngã ba xa lộ đi Vũng Tàu, nên ngã ba nầy có tên Ngã Ba Bến Gỗ… Từ ngã ba Bến Gỗ tới một xí là Căn Cứ Long Bình của Quân đội Mỹ… Chỉ mỗi phút buồn mà… quá xá chuyện xưa tích cũ…(theo Chàng Hiu 374)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

ĐÈN HOA KỲ VÀ

HÀNH TRÌNH NGÔN NGỮ

Nước Mỹ còn được gọi là Hoa Kỳ hay Huê Kỳ (cờ hoa). Danh xưng này đã xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ 19 qua thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ”. Vũ Trọng Phụng trong Vỡ đê, xuất bản năm 1936, có đoạn viết “Dung tìm bao diêm ở ô kéo, đốt một cây đèn Hoa Kỳ lên, tắt phụt ngọn lửa ở đèn dầu xăng. Nhìn ra sân, thấy trời tối om, Dung bèn bỏ bao diêm vào túi…”. Nguyễn Công Hoan trong Nhớ và ghi về Hà Nội giải thích “Đèn Hoa Kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn dầu hoả. Muốn bán được dầu hoả, nó phải làm đèn cho người mua dầu dùng (…).

Như vậy, thuật ngữ “đèn Hoa Kỳ” (còn gọi là đèn “hột vịt” tại miền Nam), đốt bằng dầu hỏa (còn gọi là dầu lửa hay dầu hôi), đã xuất hiện từ rất lâu, trước khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam. Người ta còn dùng từ ngữ dầu Tây để gọi dầu hỏa khi mới du nhập vào Việt Nam. Ngày xưa, loại dầu này được đựng trong thùng sắt tây. Loại thùng này sau khi đựng dầu được tái chế thành thùng gánh nước hoặc cắt ra làm các vật dụng khác như đồ chơi cho trẻ em.

Một trường hợp tiếng Anh khác đã du nhập vào Việt Nam từ lâu là trò chơi của trẻ con : “Oẳn tù tì” dịch từ “One, Two, Three”. Hầu như mọi người Việt đều đã từng ra cái búa, cái kéo hoặc cái bao sau khi đọc câu “Oẳn tù tì. Ra cái gì ? Ra cái này !”. Hai người chơi và có một trong 3 lựa chọn, cái búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao và cái bao lại bao được cái búa.

Về mặt giáo dục, tiếng Anh du nhập miền Nam qua hai thời kỳ, dưới hai dạng ngôn ngữ : tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Thời Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), tiếng Anh song song với tiếng Pháp, được chọn làm sinh ngữ chính và phụ, tùy theo sự lựa chọn của học sinh từ bậc Trung học (lớp Đệ thất trở lên). Đệ nhị Cộng hòa (1963-1975) là thời thịnh hành của American English tại miền Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì sự có mặt của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

OK (okay) có lẽ là một từ nổi bật nhất trong tiếng Mỹ được sử dụng rộng rãi tại miền Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Một số người cho rằng từ này bắt nguồn này bộ tộc da đỏ Choctaws ở Châu Mỹ. Chữ “okeh” của người Choctaw có nghĩa tương tự như từ OK của người Mỹ. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều tranh cãi về thuật ngữ này.

Theo chuyên gia ngôn ngữ Allen Walker Read, OK là dạng viết ngắn của cụm từ “all correct”. Những người khác thì cho rằng OK là dạng chữ tắt của các từ Hy Lạp có nghĩa là mọi thứ đều ổn cả. Không phải ai cũng đồng ý với những giải thích này nên kết luận hãy còn bỏ ngỏ.

Number one cũng là một cụm từ được dùng thường xuyên tại miền Nam với ngụ ý… số dzách hay số một. Người bình dân dùng number one thay cho good chẳng hạn như trong câu tiếng Anh “bồi” “You number one !”. Phản nghĩa với number one sẽ là number ten, hoặc tệ hơn nữa là “nâm-bờ ten tháo giường” được Việt hóa từ “number ten thousand” (số mười ngàn). Ai dám bảo là dân Việt không có óc khôi hài ?

Cao bồi là thuật ngữ đã đi vào ngôn ngữ miền Nam khi hàng loạt các loại “phim miền Tây” (Western movies) hay còn gọi là “phim cao-bồi”, được chiếu tại các rạp xi nê. Cowboys vốn là những chàng trai chăn bò, có người hành động một cách nghĩa hiệp “trừ gian diệt bạo” nhưng cũng có những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” trong bối cảnh Miền Tây Hoang dã (the Wild Wild West) tại Hoa Kỳ thời lập quốc. Từ ngữ cao bồi sau khi du nhập vào miền Nam lại có những biến thể về ý nghĩa. Người lái xe cao bồi được hiểu là lái ẩu, ăn mặc cao bồi là diện những bộ quần áo lố lăng, khó coi…

Tôi còn nhớ, ngày xưa thường hát Học sinh hành khúc của Lê Thương với những lời ca tụng một thế hệ học sinh của tương lai đất nước “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau. Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao…” Thế nhưng bài hát này đã được mấy cậu học trò cải biên thành: “Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô. Thầy trò là người hủ tiếu ăn hai ba tô…” Chả là học sinh chỉ có đồng phục quần xanh-áo trắng nên anh nào mặc áo ca rô thì bị “chụp mũ” là học sinh cao bồi. Còn cái vụ hủ tiếu mà ăn tới “hai, ba tô” thì phải “xét lại”, có thể vì “bí vận” nên câu trước “áo sơ mi ca rô” câu sau có vần “hủ tiếu ăn hai ba tô” chứ học sinh làm gì có tiền mà ăn nhiều đến thế.

Cũng xin nhắc lại chuyện phim ảnh của Sài Gòn xưa. Để diễn tả một một sự kiện có tính cách kinh dị, người ta còn dùng từ ngữ “hít-cốc”, xuất xứ từ cái tên của đạo diễn Alfred Joseph Hitchcock, “ông vua phim kinh dị” của nền điện ảnh Hoa Kỳ với khoảng 50 bộ phim kéo dài suốt 6 thập kỷ. Người Sài Gòn đã có dịp xem rất nhiều phim hít-cốc “toát mồ hôi lạnh” như The Man Who Knew Too Much (1956, với James Stewart và Doris Day – trong phin này Doris Day hát bài What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất); Vertigo (1958, với James Stewart, Kim Novak); Psycho (1960, với Anthony Perkins, Janet Leigh); The Birds (1963, với Tippi Hedren, Rod Taylor)…

Một trong những tác động của người Mỹ đến miền Nam trong cuộc chiến vừa qua là hiện tượng xì-nách ba (snack bar) mọc lên như nấm sau cơn mưa tại Sài Gòn. Khác hẳn với snack bar nguyên thủy ở Hoa Kỳ, thường được hiểu là nơi bán các loại thức ăn nhẹ (snack) như hot dogs, hamburgers, french fries, potato chips, corn chips… còn kèm theo đồ uống. Sang đến Việt Nam, xì-nách ba trở thành nơi lui tới của những người lính Mỹ xa nhà để uống rượu giải sầu và được phục vụ bởi các cô gái bản xứ.

Họ thường là gái quê, ít học và có chút nhan sắc, ăn mặc “thời thượng” với chiếc mini jupe ngắn cũn cỡn. Gái xì-nách ba, hay còn gọi là gái bán ba, thường chỉ ngồi uống nước ngọt hay nước trà với khách nên lính Mỹ gọi đó là Saigon Tea. Các cô làm ở xì-nách ba không hẳn là gái điếm vì không phải cô nào cũng “đi khách”. Cũng từ các cô gái bán ba phát sinh ra loại tiếng Anh “giả cầy” kiểu “broken English”. Người ta nghe loáng thoáng trong câu chuyện giữa các cô “đấu hót” với lính Mỹ “Hello GI, you buy me Saigon tea” (Chào anh lính, anh mua cho em ly Sài Gòn ti nhé) hay còn rùng rợn với câu “No star where”, một cụm từ trấn an mà các cô dịch thẳng từ tiếng Việt: Không sao đâu !

Kinh doanh xì-nách ba là một nghề hái ra tiền tại Sài Gòn bên cạnh những dịch vụ như tắm hơi (steam bath), mát-xa (massage) nhưng cũng chính các nghề này đã khiến cuộc sống trong xã hội mất đi sự lành mạnh, đưa đẩy một số phụ nữ vào con đường tội lỗi. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu đó là những hệ quả không thể nào tránh khỏi của một đất nước trong tình trạng chiến tranh. Xã hội miền Nam bên cạnh nghề thu hút một số người làm việc tại các quán ba còn có một giai cấp cao hơn, họ làm việc cho các hãng thầu tư nhân của Mỹ như hãng RMK được thành lập từ đầu thập niên 60 với các công trình xây dựng xa lộ Biên Hòa, quốc lộ 4 tại Phụng Hiệp… hoặc các cơ quan trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ như USAID.

Nói chung, họ là những người đi làm sở Mỹ với mức lương cao nhưng phải đạt một trình độ tiếng Anh khả dĩ trong công việc hàng ngày. Những người có trình độ cao hơn thì làm thông dịch viên, ngay như Trường Sinh ngữ Quân đội cũng có những khóa đào tạo thông dịch viên đồng hóa với cấp bậc trung sỹ để về phục vụ tại các tiểu khu có cố vấn Mỹ.

Cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 là thời kỳ Sài Gòn chịu ảnh hưởng từ của phong trào hippy (hippie) của Mỹ. Người ta thấy xuất hiện những từ ngữ có liên quan đến hippy như hoa hippy, hippy bụi đời, hippy choai choai, hippy yaourt…Những kiểu thời trang hippy cũng xuất hiện: váy ngắn (mini jupe, miniskirt), quần ống loe (quần chân voi), áo dài hippy thì ngắn cũn cỡn mặc chung với quần ống loe còn con trai thì tóc dài đến độ nhìn từ xa không thể nào phân biệt được giới tính… Văn hóa hippy bao gồm từ phong cách ăn mặc “bụi” đến những tư tưởng phóng khoáng, chống lại những quy ước cứng nhắc của xã hội. Có thể nói, phong trào hippy là biến tấu của chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) theo kiểu “yêu cuồng, sống vội” với Jean Paul Sarte, Françoise Sagan từ văn hóa Pháp.

Cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã nở rộ tại Mỹ với khẩu hiệu “Make love not war“. Biểu tượng của phong trào hippy là hoa không lá (còn gọi là hoa hippy), đó là hình tượng của Power Flower (sức mạnh của hoa) được bắt đầu từ năm 1965 tại khu Berkerly, California. Người ta còn nhớ mãi hình ảnh một cô gái hippy đã gắn hoa trên họng súng của một quân nhân thi hành nhiệm vụ giữ trật tự trong một cuộc biểu tình phản chiến.

Ở Sài Gòn, các người đẹp gắn hoa hippy lên tóc, cài lên tai, dán lên mắt kính để làm duyên. Người ta còn vẽ hoa lên xe hơi, lên xe Honda, thậm chí đôi lúc còn thấy hoa hippy xuất hiện trên cyclo, xe ba gác, xe bò. Cô em gái tôi có một chiếc áo khi ủi đồ bị than rớt cháy thủng một lỗ, thế là cô gắn luôn một cái hoa hippy, trước là để “ngụy trang” sau là chạy theo… thời trang ! Có thể nói Sài Gòn khi đó giống như Trăm hoa đua nở, nhại tên một chiến dịch ở miền Bắc thời đó.

Có thể nói, phong trào hippy cũng lan rộng đến người lính nhưng nói chung, những người lính trận mỗi khi có dịp đi phép về thành phố chắc chắn không thể chấp nhận lối sống hippy của các thanh niên, thiếu nữ tại chốn phồn hoa đô hội. Những người hằng ngày phải đương đầu với súng đạn làm sao có thể “thông cảm” với những người hằng đêm đi “bum” tại các phòng trà, dancing.

Một đằng thì phải hy sinh tính mạng để “tham chiến” còn một đằng thì lại ăn chơi để “phản chiến”. Đó là một trong những “mâu thuẫn” trong chiến tranh Việt Nam. Phải chăng đó cũng là một trong những lý do khiến miền Nam sụp đổ ? (nguồn Facebook Kim Chi)

Kiều Văn chuyển tiếp

ÔNG TẠ

VÀ NHỮNG NƠI KHÁC

THIÊN ĐƯỜNG VÀ HỎA NGỤC KẾ NHAU

Khu vực Ông Tạ – tính từ chợ Phạm Văn Hai, qua cầu bắc trên một khúc kênh Nhiêu Lộc, chạy thẳng luôn tới đường Cách Mạng Tháng Tám, dài chưa đầy một cây số nhưng tồn tại không dưới chục hàng bán thịt chó. Người mua không cần xuống xe, cứ tấp sát lề đường là có thể tiếp cận những sạp thịt chó. Không giống thịt heo, thịt chó màu đỏ, thớ nhỏ, tầng thịt không dầy, rất ít mỡ, bì vàng rộm (vàng không do thui rơm mà do đèn khò). Giá thịt chó không rẻ, nhưng với người ‘trót mang lấy nghiệp vào thân’, không ai cò kè. Thịt chó tươi bán buổi sáng, tầm trưa là tan. Buổi chiều tối, là giờ của tửu đồ tấp nập rủ nhau ‘đi Ông Tạ hạ cờ tây’.

Mùi thịt chó nướng thơm điếc mũi, khói dầy đặc, la đà như sương mù thành London. Tiếng hô ‘một hai ba, dzô’ sang sảng, nhịp nhàng. Tiếng xe nẹt bô, tiếng cười nói chen nhau sôi nổi, có cảm tưởng ‘hào khí Thăng Long’ đang tụ hết về bàn nhậu thịt chó của anh hùng quân tử đất phương Nam. Một hảo hán nhai miếng dồi chó, thêm lá mơ, lát riềng mỏng, nghiền ngẫm một chốc rồi ngâm ư ử : ‘Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không’.

Tiếng vỗ tay tán thưởng rộ lên. Bia rượu chảy như suối. Thịt chó nướng, rựa mận, xáo (măng) chó, bưng lên tới tấp. Ai cũng sảng khoái khen thịt chó mắm tôm, riềng mẻ, lá mơ đáng mặt quốc hồn quốc túy.

Ấy vậy mà chỉ cách ‘làng thịt chó’ chưa tới chục thước, Ken’s House sừng sững mọc lên, như một sự đối đầu. Ken’s cũng chưng hình chó, cũng mời khách vào ‘zui zẻ’ nhưng không có bia bọt, không có chó bảy món, mà ngược lại, ‘hầu hạ’ chó, cưng quý chó như trời. Lạ một điều là dù đã khai trương cả năm, lại ngay mặt đường, có bảng hiệu hoành tráng nhưng nhiều cư dân khu vực Ông Tạ khi được hỏi về Ken’s House vẫn xài ba ngoại ngữ trong một cái lắc đầu dứt khoát: ‘ngộ nô biết’

Một ngày, một bạn già đưa kẻ viết bài đi ‘thám hiểm’ Ken’s House. Ðó là quán cà phê hai tầng. Tầng dưới bán quần áo, đồ chơi, thuốc bệnh, thức ăn… cho chó, kiêm giữ xe. Tầng trên là nơi khách uống cà phê, chơi với những chú chó giống Alaska to khỏe, đẹp mã. Khách uống cà phê có thể chìa hạt khô mời ‘cẩu xực’, cũng có thể ngồi bệt trên nền nhà, ôm chó nựng nịu, chụp ảnh hoặc vừa uống cà phê vừa chơi đùa với chó. Giá cà phê chó khá mềm, 25,000 một ly nhựa coffee to go (chỉ có cà phê đá, không ‘chơi’ cà phê phin, cà phê nóng). Trong khi các quán cà phê chó khác như Hachiko (số 14 đường Hoa Sữa), Dorae Dog Coffee (47 Nguyễn Phi Khanh), Cheryl Kitten Coffee (25/4 Tôn Thất Tùng) có nhiều giống chó lớn nhỏ khác nhau thì Ken’s House chỉ chuộng giống chó Alaska.

Anh chủ tiệm giới thiệu chó Alaska là giống chó Bắc cực. Người Eskimo, người Nga từ xưa đã biết dùng loại chó này kéo xe đường dài. Ðặc điểm để phân biệt chó Alaska với chó khác, nhất là chó giống Husky (cũng là chó kéo xe vùng tuyết) là dù thân màu xám hay đen thì bốn chân và mõm chó Alaska cũng tuyền một màu trắng, đuôi cong ngược lên lưng, mắt màu nâu.

Chó Alaska rất thân thiện, không sủa, không hiếu chiến, nên dù tầm vóc to cao không kém bẹc giê cũng không thể dùng coi nhà, canh trộm.

Một con Alaska dao động từ chục triệu tới cả trăm triệu tùy thuộc xuất xứ. Rẻ nhất là chó made in Viet Nam. Ðắt nhất là chó nhập thẳng từ Nga. Bầy chó ở quán hơn chục con, đều ra đời ở ngay khu Ông Tạ này, được nuôi dưỡng, yêu thương, cho học hành tử tế.

Kể cũng lạ ! Ông Tạ khét tiếng là điểm tập kết chó bị bắt trộm, bị mua bán đường dài, bị giết mổ, làm thịt. Dám chọn nơi ‘địa ngục trần gian’ để mở ‘thiên đường dương thế’ cho chó, phải nói là một hành động dũng cảm và khá táo bạo của nhóm năm chàng trai trẻ-  năm ngự lâm… không kiếm

Nơi khác !

Xu thế cà phê thú cưng ở Sài Gòn hai năm trở lại đây được khá nhiều bạn trẻ, nhất là cư dân @ hưởng ứng. Ban đầu vì ‘kết mô đen’. Sau thì ‘kết’ thật. Và kết, là chết…tiền. Một quán cà phê ‘chết’ như vậy là cà phê Ichi, một cái tên rất Nhật Bản, có nghĩa là number one- Số Một.

Nếu coi Ken’s House bên Ông Tạ là thủ đô chó thì phải gọi Cà phê Ichi là vương quốc mèo vì số mèo tại đây khá hùng hậu – 26 con ! Toàn mèo ngoại quốc ! Hèn thì mèo Xiêm. Khá hơn thì mèo Anh. Oách nhất là mèo Ba Tư. Mỗi mèo nặng không dưới 3 kg, sở hữu bộ lông vân ám (vằn như mây cuộn), lông xám, lông sô cô la… êm như nhung, mềm như lụa. Tại quầy tiếp tân ngoài hiên, có bán những phụ tùng mèo made in Japan, khách nộp phụ thu 40,000 đồng (tiền chơi mèo). Sau đó gọi đồ uống, trả tiền luôn, trước khi đẩy cửa kính bước vào trong. Vài em gái bị ‘cú đờ phút’, choáng váng ngay lần đầu tiên thấy mèo Ba Tư lông dài, đài các. Các em reo lên, hè nhau ôm mèo, hôn mèo, chụp ảnh lia lịa. Sự ồn ào của đám khách teen có vẻ không được hoan nghênh. Những con mèo mặt tịt đang cuộn khoanh ngủ trong đủ loại tổ ấm ngộ nghĩnh dưới sàn nhà lục tục thức dậy, nhanh nhẹn leo lên hành lang trần nhà, tỵ nạn.

Một khách quen của quán, chị Anna, đến từ Châu Âu, nhẹ nhàng nhắc :‘Bảng quy định dán đó, các bạn đọc đi. Cấm chụp hình có flash, không kéo đuôi, kéo tai mèo, không làm ồn để mèo khỏi bị kích động, sợ hãi…’. Anna kể công ty nơi chị làm việc cũng trên đường Trần Quang Khải, chỉ cách cà phê Ichi một ngã tư. Vào giờ lunch time, chị hay tới đây để ‘đỡ nhớ con Kitty bên nhà’. Cô phục vụ cho biết ‘Muốn có đàn mèo sạch sẽ, béo tốt, đủ sức giữ chân khách, Ichi không thể mở cửa sớm trước 10 giờ rưỡi sáng. Làm gì trễ thế? Dạ, tắm nước nóng cho mèo rồi chải lông, cho ăn, lau dọn. Không như chó, mèo leo trèo, chui rúc bất cứ chỗ nào. Vì thế, bàn ghế, trần nhà, sàn nhà, dính nhiều lông mèo. Quán theo tiêu chuẩn cà phê mèo Nhật Bản, đòi hỏi thơm sạch tuyệt đối nên rất cực! Thế công xá… Dạ, chủ yếu yêu mèo mà làm, không phải vì tiền.

Ngoài cà phê chó, cà phê mèo, hoặc cà phê chó mèo hỗn hợp, Sài Gòn còn cà phê bò sát. Hiện tại, khuynh hướng cà phê thú cưng đang bung nở tại Sài Gòn và một vài tỉnh lân cận như Ðồng Nai, Bình Dương. Hy vọng đấy chỉ là biểu hiện của khuynh hướng đa dạng hóa loại hình cà phê giải khát (kiểu cà phê sách, cà phê chim, cà phê thiền, cà phê vườn, cà phê võng…) thay vì là chỉ dấu của sự cô đơn, nghi kỵ, chán đời, chán người.

Kiều Văn chuyển tiếp

LỜI VỢ DẶN

Ruộng nhà không chịu thâm canh

Không lo cày xới, để dành cho ai ?

Trốn đi cày mướn bên ngoài

Sức đâu còn để trồng khoai ruộng nhà.

Mấy lần chót dại…đã tha

Lần này phải quỳ giữa nhà xử nghiêm

Từ nay nhiệm vụ mỗi đêm

Trước khi muốn ngủ phải xem ruộng nhà !

Phải xem lượng nước chảy ra

Nếu ra nhiều quá… kiểm tra quanh bờ

Nghiêm cấm không được thờ ơ

Chuẩn bị dụng cụ rồi chờ lệnh tôi !

Phía trên còn hai quả đồi

Đất đai, màu mỡ… lâu rồi để không

Tranh thủ dạo lên vài vòng

Khi nào tới đỉnh là xong một ngày

Nhớ lời vợ dặn hôm nay

Nếu không thực hiện… cút ngay khỏi nhà

Điều ước

Cặp vợ chồng 60 tuổi đang tổ chức kỷ niệm đám cưới bạc của họ ở bãi biển thơ mộng. Bỗng một bà tiên từ đâu xuất hiện và ban cho mỗi người một điều ước. Không tin đây là sự thật, cả 2 vợ chồng đồng thanh đáp :

– Có thật không vậy ?

Bà tiên nhìn họ với ánh mắt trìu mến nói:

– Tất nhiên rồi.

Thấy vậy, người vợ nhanh nhảu đáp :

– Tôi muốn đi du lịch vòng quanh thế giới.

Ngay lập tức người vợ có trong tay tấm vé.Tới lượt người chồng, ông liếc nhanh bà vợ rồi bẽn lẽn nói :

– Tôi muốn bà ấy trẻ hơn tôi 30 tuổi.

Bum ! Bà tiên vung đũa thần, biến ông chồng thành cụ già 90 tuổi, rồi biến mất.

– !!!

Bố thắng con

Một ông bố suốt ngày phàn nàn với thằng con :

– Trai tráng ngần này tuổi đầu rồi mà vẫn không tài nào có được con bồ, thằng này kém quá !

Thằng con gân cổ :

– Bố có giỏi thì tán thử xem, con với bố ra ngoài kia, thi xem thằng nào tán được trước ?

Hai bố con ra ngõ ! Thấy một cô bé rất xinh đi xe đạp lướt qua, anh con nhanh nhảu tán tỉnh :

– Em ơi anh yêu em, em có yêu anh không ?

Gặp đúng cô đanh đá, cô này ngoái lại :

– Yêu yêu cái thằng bố mày ý!

Ông bố nhảy cẫng lên :

– Đấy ! Thấy chưa… Mày thua tao rồi! !!!!

Yên Nhàn chuyển tiếp

“SẾN” HAY “SANG” ?

logo-phiem

9-ng-ngoc-chinh“SẾN” HAY “SANG”?

– Nguyễn Ngọc Chính

Kho từ vựng Sài Gòn xưa có một thuật ngữ đã đi sâu vào cuộc sống và cho đến ngày nay người ta vẫn còn dùng với hàm ý miệt thị, chê bai hay chí ít cũng là đánh giá thấp.  Chỉ một chữ “Sến” cũng đủ để gây nhiều chuyện bất bình, thậm chí còn khiến người ta phải đỏ mặt tía tai vì tranh cãi.

Một bức thư tình mùi mẫm với những lời lẽ như “… đêm nay trăng thượng tuần lên cao, anh nhớ em vô vàn, em có biết chăng em một kẻ si tình đang độc hành trong đêm lạnh lẽo ?” sẽ bị cho là “thư viết theo kiểu… sến”. Nhiều người cho rằng tán gái theo kiểu sỗ sàng “Em đi đâu đó cho anh theo cùng ?” cũng là một cách tống tình theo kiểu… sến. Cô gái áo quần lòe loẹt có tông màu xanh đỏ chỏi nhau thế nào cũng bị xem là “diện theo kiểu… sến”.

Bước sang hội họa, họa sĩ Trịnh Cung lại khẳng định, “Trong tranh vẫn có “sến” chứ ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân…”. Tranh vẽ của Lê Trung (1) thường xuất hiện trên các báo “lá cải” như Phụ nữ Diễn đàn,  Sài Gòn Mới… và dĩ nhiên những tạp chí này cũng được xếp vào loại báo… sến !

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc của chữ “sến”. Cho đến nay, có rất nhiều cách giải thích trong việc truy tầm từ nguyên.

9-sen-sang-1-le-trungGiáo sư Cao Xuân Hạo (2) giải thích, “Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở […] Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị.”.

Lối giải thích từ “sen” biến thành “sến” có thể tạm chấp nhận nhưng kể cũng lạ khi giáo sư Hạo theo chuyên ngành ngôn ngữ học lại dùng cụm từ “khẩu vị thấp hèn”. Thường khi nói đến “khẩu vị” người ta liên tưởng đến cái “gu” trong ăn uống chứ làm sao lại có được “khẩu vị” trong văn chương, nghệ thuật ?

Có một cách giải thích khác, không mang tính học thuật như giáo sư Cao Xuân Hạo, mà lại dựa vào thực tế hồi đầu thập niên 60 tại Sài Gòn. Đó là thời thịnh hành của bộ phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov), chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nga, Fyodor Dostoyevsky.

Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano theo điệu mambo – cha cha cha. Cô vũ nữ mặc y phục “nghèo nàn”, thân hình bốc lửa, tóc tai rũ rượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với tài tử Yul Brynner của Hollywood.

https://youtu.be/kbIWfH46PeA?list=PLQWeL_0VczG3wfOyhGDN0zUR_Oho_A7ln

9-sen-sang-2bPhim chiếu tại các rạp ở Sài Gòn cả tháng vẫn chưa hết người xem, sau đó bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell. Người ta nói, cái tên Maria Schell được Việt hóa thành “Mari Sến”.

Tôi không tin là như vậy. Sến xuất hiện trong ngôn ngữ Sài Gòn ngay sau khi có cuộc di cư vĩ đại của người miền Bắc vào Nam năm 1954, nghĩa là trước khi phim anh em nhà Karamazov đến Sài Gòn. Trước 1954, người miền Bắc dùng từ “con sen” để chỉ người giúp việc trong khi miền Nam gọi là “ở đợ” và ngày nay còn được gọi là “Ô-Sin”.

“Sen” thường là những cô gái quê, con nhà nghèo, ít học, phải ra Hà Nội để kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Sau 1954, “Sen” cũng di cư vào Nam. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được đưa tới từng nhà nên chiều chiều các cô sen lại tụ tập quanh máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên “Mari-Phông-tên”.

Và Mari Sến hay Mari Phông-ten cũng đã đi vào thơ văn. Một nhà thơ nào đó đã không hết lời ca tụng người em… Sến :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Cũng có giải thích đại loại như Sến bắt nguồn từ tiếng Anh “sentimental”, có nghĩa là đa cảm, ủy mị… 9-sen-sang-2Tôi không tin là như vậy vì sentimental hoàn toàn không hàm ý miệt thị, chê bai còn Sến của ta lại mang đậm nét mỉa mai, châm biếm. Nói theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “sến” là biểu hiện những dạng thị hiếu thẩm mỹ dưới mức trung bình.

Cứ như thế, chữ “sến” bị lạm dụng trong ngôn ngữ hàng ngày để gán cho những gì thuộc loại “hạ cấp” theo suy nghĩ của người sử dụng từ ngữ. Nổi bật nhất trong lãnh vực âm nhạc là “trường phái” nhạc… sến khởi đầu từ thập niên 60 với tiết điệu boléro, rumba… Những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Lam Phương, Hồ Đình Phương, Vinh Sử, Thanh Sơn…

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, điệu bolero mang âm hưởng bình dị của dân ca Nam Bộ : “Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong đều chuyển qua bolero. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam”.

Bình luận về điệu bolero của Nguyễn Ánh 9, một nhạc sĩ người miền Nam, lại gợi đến một ý cho rằng những người Bắc di cư năm 1954 không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, họ cũng không quen với cách phát âm của các ca sĩ người miền Nam khi hát. Ngoài ra, họ lại sợ cạnh tranh với nhạc tiền chiến của những nhạc sĩ người miền Bắc nên mới đặt ra danh từ “Nhạc Sến” với ý chê bai.

9-sen-sang-3-nguyen-anhNhà thơ Hữu Loan, người miền Bắc, làm bài thơ Mầu tím hoa sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi bộ đội, chồng không chết mà cô ta chết. Một chuyện tình rất lâm ly vào thời kháng chiến với kết cuộc :

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.

Bài thơ này được phổ nhạc thành 2 nhạc phẩm: Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh (nguời miền Nam) và Áo anh sứt chỉ đường tà, của Phạm Duy, người Bắc. Áo anh sứt chỉ đường tà với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát và hình như chỉ những giọng ca điêu luyện của Vũ Khanh, Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới thành công còn Những đồi hoa sim thì ca sĩ nào cũng có thể hát được, từ Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh…

Trong trường hợp này, nếu làm một cuộc khảo sát bỏ túi về sự lựa chọn giữa “nhạc sến” và “nhạc sang”, ta sẽ có ngay kết quả: Những đồi hoa sim là “nhạc sến”. Nhưng thiết nghĩ, đó là sự lựa chọn mang tính cách “địa phương” của những người có gốc từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Sự khác biệt về cá tính giữa người Nam và người Bắc nói riêng và giữa hai miền Nam-Bắc nói chung là người miền Nam thì bình dị, thường nói “huỵch tẹt” ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì lại khách sáo, ưa nàu mè… trong lòng muốn lắm nhưng ngoài mặt cứ giả vờ như không.

Lời ca của dòng nhạc bolero miền Nam rất bình dân, mộc mạc, dễ nhớ và cũng dễ hát. Đó là những lời chân thực từ trái tim, chẳng hạn như trong bài Duyên kiếp của Lam Phương, cô gái cất tiếng hát “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao ? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…” hoặc bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long có 9-sen-sang-4câu “Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng…”.

Rõ ràng là nhạc sến không có triết lí cao siêu, mà toàn là những câu, những chữ mà ngay cả anh xích lô và chị “buôn thúng bán mẹt” ngoài chợ có thể hiểu được vì đó là những lời… “nghĩ sao nói vậy”: “Tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang…” hoặc “Tôi với nàng hai đứa nguyện yêu nhau. Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu…”.

Theo nhiều người, ca khúc Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang là một bản nhạc “đặc sệt” chất sến. Nghe Chế Linh than thở, rên rỉ khiến có người nghe phải… rùng mình, rợn tóc gáy, nổi da gà:

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang / Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi… Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây / Tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay”

9-sen-sang-5– Người yêu cô đơn – Tuấn Vũ

https://youtu.be/HEOH2UEiTqA

– Tuyển tập Chế Linh – 4:00’ :

https://youtu.be/M9INuAmNo8M

– Người yêu cô đơn, Chế Linh :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Che-Linh/ZWZABOW7.html

– Người yêu cô đơn, Ken Nguyễn :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Remix-Ken-Nguyen/ZW6W9969.html

9-sen-sang-6-tuan-vuCũng trong Người yêu cô đơn được remix với tiết tấu nhanh hơn pha trộn những đoạn “nói lối” theo kiểu rap, ca sĩ Ken Nguyễn đã khiến bài hát bớt đi chất sến và dĩ nhiên là được nhiều người chấp nhận.

Thế cho nên, sến hay không là còn tùy cách trình diễn của người hát chứ không phải “một khi bản nhạc đã sến thì ai hát cũng vẫn là sến”!  

Ở một thái cực tương phản, cái gọi là nhạc “sang” lại dùng những ca từ mà chính những người “trí thức” cũng không hiểu hết những gì mình hát.  Mấy ai đã cảm nhận hết những câu hát đại loại như “Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi” hoặc “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.

Tôi nghĩ, ngay chính bản thân người nhạc sĩ khi viết những lời như trên sẽ lúng túng khi có người cắc cớ nhờ giải thích cho rõ!

Phạm Duy với ca khúc Giết người trong mộng là một trường hợp khác hẳn. Từ bài thơ Hành khất của Hàn Mặc Tử ông đã phổ nhạc thành một bài hát mang sắc thái “sắt máu”, lập đi lập lại những động thái “giết người”, “giết người đi”… để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” và để trừng phạt kẻ “quên tình nghĩa phu thê”.

Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

Có lẽ không ai coi Giết người trong mộng là nhạc sến nhưng nhiều người vẫn không thoải mái khi phải hát những câu giết chóc từ đầu đến cuối bài hát. ca-nhac-2Bảo Giết người trong mộng là nhạc sang lại càng không đúng vì nó thiếu tư tưởng “hàn lâm” của một bản nhạc sang trọng.

Cũng cần phải nói thêm, miền Nam trước đây có tới hai dòng nhạc chính. Đầu tiên là Nhạc Vàng và tiếp đến là Nhạc Sến. Vào đầu thập niên 60, nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban Nhạc Vàng trên đài truyền hình Sài Gòn, ông cũng là tác giả những bản nhạc như Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam, Mong ngày anh về, Vui khúc tương phùng…

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với tên gọi “Nhạc Vàng” như Hương Giang, Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và Shotguns của Ngọc Chánh. Tại miền Nam, nhạc vàng khi đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu, có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của người lính chiến.

Những tác giả với tên tuổi gắn bó với Nhạc Vàng phải kể đến Phạm Duy, Văn Phụng, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… và thế hệ nhạc sĩ kế tiếp là Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh…  Đó cũng là thời của các ca sĩ như Thái Thanh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền…

Thời của Nhạc Vàng nổi bật với những ca khúc đã đi sâu vào tâm thức người miền Nam như Giọt mưa trên lá (Phạm Duy), Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo bac-ky-2(Phạm Thế Mỹ)…

Ở Miền Bắc, dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm “nhạc màu vàng” từ Trung Hoa và bị coi “là thứ âm nhạc lãng mạn, bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp hèn”. Phong trào bài trừ “nhạc màu vàng” dưới thời Mao Trạch Đông cũng lan sang miền Bắc nên dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín vì bị cấm.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhạc vàng gần như biến mất và thay vào đó là… nhạc “đỏ” của cách mạng. Thật ra thì nhạc vàng vẫn sống trong lòng người Sài Gòn qua những khúc hát nghêu ngao từ cửa miệng người dân, hoặc nghe trộm qua BBC, VOA hoặc nghe lén qua băng cassette còn sót lại sau chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy”.

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới thì các loại nhạc vàng, nhạc sến mới dần dà được chính quyền “xét lại” và cho phổ biến một cách hạn chế, tùy theo tác giả và tác phẩm.  Năm 1986, lần đầu tiên nhà nước cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Danh sách này sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó là danh sách nhạc cấm có liên quan đến người lính Việt Nam Cộng hòa.

Cơ quan văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới, nhưng xem ra không thành công. Trong khi đó, số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17, ở hải ngọai mà cả ở miền Bắc, thậm chí còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1980.

dan-ong-1Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã thực hiện nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, họ đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát. Vào tháng 8/2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với nhạc sến là Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội suốt nửa tháng trời với giá vé lên đến 1,7 triệu mà mỗi suất vẫn kín chỗ.

Trong một bài phỏng vấn, “Vua Nhạc Sến” Vinh Sử đã lên tiếng : “Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ “nhạc sến” là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình”.

Theo nhạc sĩ Vinh Sử, ở Sài Gòn trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được cả một chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được “đặt hàng” tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại “nhạc thị trường” được viết theo kiểu “mỳ ăn liền”. Đó chính là thời kỳ Vinh Sử tung ra các ca khúc như Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương

Sau 1975, nhạc của Vinh Sử có “e” (air) nhạc dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc, chẳng hạn như Tình ngoại, Bằng lòng đi em, 9-sen-sang-7-vinh-suĐể tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá… Vinh Sử than thở : “Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là… “sến”? […] Tôi đã từng nói : “Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin… lúc đó tôi sẽ viết… nhạc sang !”

Có người lại quả quyết nhạc sến được khai thác từ cổ nhạc. Điều này tôi nghĩ không chính xác vì cổ nhạc, chẳng hạn như vọng cổ, viết theo ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống), còn tân nhạc nói chung và điệu boléro nói riêng có đến 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Phải chăng kết luận như thế vì sự lầm lẫn khi nghe những bài “tân cổ giao duyên” nên cứ tưởng là phần tân nhạc lấy từ cổ nhạc (?).

Nếu nhạc sĩ Vinh Sử được phong tặng là “Vua Nhạc Sến” thì ngôi vị “Nữ Hoàng Nhạc Sến” chắc phải dành cho ca sĩ Hương Lan, con gái của kép cải lương Hữu Phước (3).

Hương Lan vào nghề hát từ ngày hãy còn là “Em bé Hương Lan” và đã được rất đông người ngưỡng mộ với chất giọng miền Nam mượt mà, mùi mẫm. Tuy nhiên, cũng có những người không thích vì họ cho là cô chuyên hát dòng nhạc sến. Ca sĩ Hương Lan khẳng định:

“Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình…, nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu “sến” là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là “sến”.

9-sen-sang-8-ca-siCũng theo Hương Lan, “cải lương” là một loại hình nghệ thuật thì làm sao người ta có thể tùy tiện sử dụng “cải lương” như một tính từ mỗi khi muốn chê cái gì đó, chẳng hạn như “văn chương cải lương”, “ăn nói cải lương”… với ý dè bỉu, coi thường bộ môn nghệ thuật dân gian vốn có từ lâu của người Việt nói chung và người miền Nam nói riêng. Hương Lan thẳng thừng tuyên bố :

“Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới [ca nhạc] cũng nói như vậy. Các em [ca sĩ] dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác”.

Có khoảng hơn 2.000 bài hát được sáng tác dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Điều rõ ràng là không thể phân biệt được bài nào thuộc loại sến, bài nào thuộc loại không sến chứ chưa nói gì đến loại nhạc sang trọng theo kiểu hàn lâm.

9-sen-sang-9-ca-siThiết nghĩ, sến hay sang còn tùy vào nhiều yếu tố bao gồm nhạc điệu, lời ca và kỹ thuật trình diễn. Ba yếu tố đó có tầm ảnh hưởng lẫn nhau vì không phải cứ điệu bolero hay rumba là bài hát trở thành sến, ca từ không phải cứ mộc mạc là thuộc dòng nhạc sến và người hát nếu chú ý đến phong cách biểu diễn cũng có thể biến một bản nhạc cứ tưởng như thuộc loại sến trở thành một ca khúc được người nghe chấp nhận.  (theo Nguyễn Ngọc Chính – Hồi ức một đời người)

Chú thích :

(1) Họa sĩ Lê Trung sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Ông là cựu sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định và trường Mỹ thuật Hà Nội. Lê Trung chuyên về chân dung, phong cảnh, tĩnh vật trên phấn màu và thủy họa.

(2) Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.

9-sen-sang-10Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Ông nổi tiếng cả với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngày 16/10/2007 tại Sài Gòn sau hai tuần nằm bệnh từ một cơn đột quỵ.

Tác phẩm của Cao Xuân Hạo về ngôn ngữ học – Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998). –  Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Nhà xuất bản Trẻ, 2001) – Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006).

hng-huynh-v-yen-1Truyện dịch: · Người con gái viên đại uý (truyện 1959). · Chiến tranh và hòa bình (tiểu thuyết 1962).· Truyện ngắn Goócki (1966).· Con đường đau khổ (tiểu thuyết 1973). · Tội ác và hình phạt (tiểu thuyết – xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa). ·Đèn không hắt bóng (1986). – Papillon (1988).· Nô tỳ Isaura (tiểu thuyết 19??).

(3) Đoạn này người viết Nguyễn Ngọc Chính – có nhận định hơi khập khiểng. Nếu nói hát nhạc sến hay thì p\hải kể đến Hùng Cường và Thanh Tuyền, còn Hương Lan là kẻ “hậu sanh” chỉ nổi vào thập niên 1990 ở Hải ngoại. (admin)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

logo-tu-van