TRUYỆN KINH DỊ : MA XEM HÁT

Giới thiệu

nhà văn nhà thơ, nhà báo

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

& truyện “MA XEM HÁT”

– Bài Nguyễn Việt

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mới là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ.

Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu.

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai, Tia Sáng… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập.

Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Bát Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện).

Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết).

Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy, Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn

Nguyễn Việt

Sau đây xin giới thiệu đến các bạn một truyện ngắn của nhà văn Trương Đạm Thủy :

MA XEM HÁT

Mới đó mà gần hết mùa đông, chỉ còn hơn mươi ngày nữa đã đến xuân rồi. Đêm càng thêm lạnh. Mấy đứa trẻ ngồi làm một vòng tròn cạnh ngoại Bảy dưới mái hiên nhà ngoại. Ngọn đèn bão treo trên cây xà đỡ mái hiên lắc lư trong ngọn gió bấc hắt hiu. Ngoại Bảy têm miếng trầu nhai tóp tép như để nhớ lại chuyện đời xửa đời xưa…

Gánh hát nghèo

– Hồi đó ngoại còn nhỏ lắm, như tụi bây thời bây giờ. Mẹ ngoại, tức bà cố cũng làm bà đỡ như ngoại. Chuyện bà cố đi đỡ đẻ về khuya gặp ma quỉ yêu tinh coi như chuyện cơm bữa bởi hồi đó làng mình còn hoang vu lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau năm sáu tiếng hú mới có người nghe. Hồi đó có một gánh hát nghèo, cố nói gánh đó thường di chuyển trên ghe, nay làng nầy mai làng khác hát để kiếm cơm nuôi đoàn nghệ sĩ cũng nghèo như gánh. À, đó là gánh hát của ông bầu Hớn.

Hôm đó mới hơn ba giờ chiều từ xa trên con sông chảy qua làng mình đã nghe thấy tiếng trống hiệu vang lên. Người lớn, trẻ em đều náo nức reo lên: “Gánh hát về ! Có gánh hát về !”. Nửa giờ sau có hai chiếc ghe lớn cặp bến chợ. Bầu Hớn nhảy lên bờ chạy lên Nhà Việc, tức là nơi các ông hương chức hội tề làm việc, xin phép tắc. Dễ thôi, chỉ cần dành nguyên hàng ghế mời danh dự cho hương cả, hương chủ, hương thân, hương hào, hương quản… là xong thôi.

Gánh hát Bầu Hớn nhìn qua đã thấy nghèo rồi, từ bầu gánh đến đào kép đều quần áo lôi thôi. Phông màn của gánh hát thì cũ kỷ có cái rách dọc ngang phải đắp vá nhiều chổ.

Ngoại Bảy nhả miếng trầu châm một điếu thuốc. Ngưng nghỉ giây lâu ngoại tiếp:

– Được làng xã chấp thuận cho hát xong bầu Hớn vội vả cho dựng sân khấu ngay trong lòng chợ. Bảng quảng cáo tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” được dựng ngay trước cửa chợ. Trống và phèn la cũng được các “cậu chài” nổi lên inh ỏi.

Năm đó các làng xã bị hạn hán thất mùa nên gánh bầu Hớn đã đi hát một tháng ròng mà đào kép đói vẫn đói bởi chẳng có ai có tiền để đi coi hát. Đến làng nầy bầu Hớn hy vọng khán giả khá hơn để toàn thể nhân viên còn có cơ may chịu đựng. Trời sụp tối trống phèn la càng thúc giục nhưng chỉ ngoài đám trẻ con quần áo lôi thôi lếch thếch ra chẳng thấy có một người lớn nào đến xem.

Mặt mày bầu Hớn nhăn nhó thảm hại. Nếu như đêm nay ế khách thì ngày mai đào kép lấy gì ăn? Ông Hớn cứ đi ra đi vào cửa chợ ngóng khách, cũng chẳng thấy ai ngoài một ít người kẻ chợ lác đác trước sân chợ.

Đám trẻ chắc lưỡi :

– Tội nghiệp ông bầu quá hả ngoại ?

Ngoại buồn buồn :

– Ờ, tội nghiệp đời xướng ca ba chìm bảy nổi quá. Đêm ấy ngoài các ông hương của làng xã và năm ba khán giả khá giả ra cả rạp hát trong lòng chợ vắng hoe vắng hoắc. Bầu Hớn đành cho diễn mà trong bụng khóc ròng. May sao tuồng diễn hay quá nên các ông hội tề thương tình hùn nhau cho mấy bao gạo và chục con gà con vịt cho đào kép có gì lót dạ qua đêm.

Đêm hát vãng, bầu Hớn rầu rỉ đi ra ngoài sân chợ rồi thẫn thờ đi xuống bến sông. Chợ làng khuya càng thêm vắng vẻ, con trăng khuyết đầu tháng trôi bềnh bồng trên nền trời như con thuyền vô chủ đứt dây neo. Bỗng từ đâu đó dưới bến sông đi lên một người dàn bà mặt hoa da phấn. Vừa đến gần bầu Hớn người dàn bà đã lên tiếng :

– Có phải ông đây là bầu Hớn ?

Bầu Hớn mau mắn :

– Ừ, tôi là bầu Hớn đây.

Người dàn bà mỉm cười :

– Tôi biết gánh hát của ông đang ế nên đến giúp ông. Mai ông lui ghe đi đến hát chỗ làng tôi đi, bảo đảm có hơn trăm khách. Mà không lo, tui bao dàn.

– Làng của cô đây là làng nào, ở đâu ?

– Tui chỉ cho. Mai lúc nước lớn ông cho ghe đi ngược về phía dòng nước, đi đến lúc trời sụp tối sẽ thấy có người cầm đuốc ra bờ sông đón. Đừng lo, sân khấu đã có người dựng sẵn, đến là hát ngay lại có gà qué, heo cúi để các người ăn khuya. Đây, tui đặt trước cho lượng vàng, ngày mai nhớ làm đúng lời tui dặn.

Bầu Hớn mừng rỡ :

– Dạ dạ, ngày mai đúng giờ nước lớn chúng tôi sẽ lui ghe.

Hôm sau mới sáng bầu Hớn đả cho nhân viên chuẩn bị hòm trấp đưa lần xuống ghe. Đến trưa chợ vắng người thì đưa tiếp phông màn xuống. Đào kép thì di chuyển từ người một. Họ lui ghe mà như đi ăn trộm vì sợ các ông hội tề cản trở bởi xin phép hát mười ngày cớ sao mới một đêm mà lặn mất ?

Đến giờ nước lớn nhớ theo lời dặn bầu Hớn cho lịnh lui ghe. Chẳng biết có ma quỉ nào che chở không mà bầu đoàn đào kép của gánh bầu Hớn có cả ba bốn mươi người ra đi lúc mới xế chiều mà cả chợ, cả ban hội tề cũng chẳng ai thấy chẳng ai hay.

Mặt trời xế dần, xế dần… Hai chiếc ghe của gánh bầu Hớn bắt đầu đi vào một đoạn sông cây dừa nước, cây bần, cây tạp mọc um tùm. Chiều dần xuống đoạn sông càng hoang vắng. Lũ chim nghe mái chèo khua động cất cánh bay tán loạn. Cảnh vật hoang vu quá làm ai nấy trên thuyền đều lo sợ. Riêng bầu Hớn nhờ có cây vàng lận lưng nên vẫn hớn hở chỉ tay cho thuyền đi tới.

Rồi mặt trời cũng thấp dần, thấp dần. Phía trước mũi thuyền đỏ như máu màu nắng quái hoàng hôn. Hai bên bờ sông cây cối đã chìm lẫn vào bóng tối mờ ảo. Bản thân bầu Hớn cũng bắt đầu lo lắng tự hỏi : “Hay là bọn cướp dụ mình đến đây để cướp của giết người ? Nhưng bây giờ cũng chẳng làm sao quay ghe lại được. Vàng của người ta mình đã nhận, dành một liều một ăn một thua”.

Đang nghĩ vẫn vơ như vậy đột nhiên phía bên phải thuyền trên bờ sông đã thấy có người mặc toàn đồ trắng tay quơ quơ ánh đuốc. Bầu Hớn mừng rỡ ra lệnh cho thuyền cặp vào. Lại xuất hiện thêm hàng chục người cùng xuống thuyền khuân vác hộ rương trấp phông màn.

Theo chân đoàn người tiếp đón, đoàn bầu Hớn đi dưới ánh đuốc qua một đoạn rừng cây thưa thì bỗng trước mắt đoàn hiện ra một thôn xóm sầm uất, nhà ngói tường vôi san sát, đèn sáng như sao sa. Đi thêm một khắc đã thấy một rạp hát bề thế, đèn “măng sông” treo hàng chục chiếc. Chung quanh rạp lại treo đầy đèn lồng ánh sáng tỏa ra thật đẹp. Người thiếu phụ hôm qua xuất hiện chào đón nồng nhiệt bầu Hớn. Thiếu phụ tươi cười :

– Rạp, sân khấu, phông màn đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi. Đêm nay ông cho diễn luôn hai tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” và “Phụng Nghi Đình” cho làng xem cho thỏa mãn.

Bầu Hớn cười khổ :

– Làm sao một đêm mà diễn được hai tuồng ?

Nữ nhân khoát tay :

– Không lo, đêm nay sẽ dài lắm. Cứ diễn, diễn hết một tuồng sẽ có cháo gà, cháo vịt chiêu đãi để lấy sức. Rồi còn heo qué muốn ăn thứ gì có người lo thứ đó.

Đoàn bầu Hớn vào rạp đã thấy choáng váng bởi cảnh trí rực rỡ ở đây. Sân khấu với phông màn cực kỳ lạ mắt. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, lại nghe một mùi hương gì đó như hương nhang cúng. Được một lát thì đàn sáo nổi lên rôm rả như nhạc đám ma. Rồi từng đoàn, từng đoàn khán giả đủ cả già trẻ lớn bé có cả trăm người lần lượt vào rạp.

Nhìn khán giả đông đảo chất kín rạp làm bầu Hớn vô cùng hoan hỉ. Vị nữ nhân xuất hiện căn dặn :

– Bây giờ ông cho diễn đi, đừng lo gì cả. Hôm nay tui bao dàn. Ngoài tiền mua dàn, diễn hay còn có thưởng hậu.

Quá sướng bầu Hớn cho lệnh diễn. Được tin sẽ có nhiều tiền ban thưởng nên ai nấy đều ra sức ca diễn sao cho thật hay. Cứ mỗi lớp tuồng hay đều được khán giả phía dưới ném tiền lên ào ào như bươm bướm, bầu Hớn cho người ra sân khấu lượm ôm cả ôm không hết.

Xong vở Phạm Công – Cúc Hoa ra sau rạp hát đã thấy bày dãy tiệc đầy thịt thà gà cháo cho các nghệ sĩ giải lao. Ai nấy no nê lại thấy tiền thưởng quá nhiều nên mọi người lại nức lòng diễn tiếp tuồng hai, rồi đền tuồng thứ ba. Mà lạ quá, sao đoàn hát cứ diễn hoài mà đêm vẫn chưa hết, hình như đêm vẫn còn dài lắm. Song cứ diễn, cứ ăn uống, cứ có tiền thưởng nên ai nấy đều hưng phấn phô diễn hết tài năng.

Hết Phạm Công – Cúc Hoa đến Lưu Kinh Đính Giải Giá Thọ Châu lại đến Lữ Bố Hí Điêu Thuyền rồi Tôn Tẩn Giả Điên mà trời vẫn chưa sáng. Dù được cho ăn uống thỏa thuê nhưng các diễn viên tài tử, nghệ sĩ của gánh hát bầu Hớn đều quá mệt mỏi. May sao khi họ sắp hết hơi thì tiếng gà ran trong thôn xóm mé Đông đã chợt gáy.

Đám khán giả nháo nhác đứng dậy. Nữ nhân bao dàn nhét vội vào tay bầu Hớn mấy thỏi vàng lớn rồi biến mất. Cả đoàn hát sau đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ say sưa chưa từng có. Từ bầu gánh cho đến đào kép, nhân viên đều lăn ra sân khấu ngủ say như chết, tiếng mớ, tiếng ngáy vang lên khắp nơi.

Mãi cho đến tận trưa mới có người đến lay bầu Hớn :

– Chú Hớn, chú Hớn dậy đi, sao cái gì lạ quá !

Bầu Hớn dụi mắt nạt :

– Lạ lạ cái gì, tao đang ngủ mà.

– Dậy, lạ lắm chú ơi !

Bầu Hớn mở mắt ra nhìn quanh rồi kêu “Trời” một tiếng đoạn ngất xỉu. Bởi lạ thật ! Chung quanh xóm làng nhà ngói tường sơn, rạp hát lộng lẫy đâu biến mất hết rồi. Cả đoàn hát, từ đào kép đến mấy cậu chài đều đang nằm ngủ say như chết giữa một bãi tha ma mồ cao mả thấp, bia mộ cái đứng cái xiêu. Chung quanh những người nằm ngủ thì la liệt những tờ giấy tiền âm phủ.

Khi bầu Hớn tỉnh dậy ông sờ túi thấy còn mấy thỏi vàng liền mở ra, ai ngờ chỉ là vàng mả. Sợ hết cả hồn ông gào lên :

– Lui ghe mau lên, đêm rồi chúng ta hát cho những con ma ở nghĩa địa nầy. Lui ghe lẹ lên.

Cả đoàn chạy ra hai chiếc ghe thì thấy cả hai chiếc ghe đang nằm chơ vơ trên một bãi sông cùn chung quanh đầy lau sậy không một bóng người… Ngoại kể một hơi rồi kết :

– Nhưng nghe nói sau đêm diễn tuồng cho ma coi thì gánh hát của bầu Hớn bắt đầu phất lên, diễn ở đâu là có đông khán giả đến đó. Có khán giả không muốn đi xem hát rồi cũng như bị ai ám vẫn phải kiếm tiền mua vé đi xem cho bằng được. Có người trong đoàn hát nói là những con ma mê tuồng hát đã trả ơn cho gánh hát của bầu Hớn. Có người còn luận : Ma coi vậy chớ cũng có tình nghĩa, làm ơn cho nó, nó chẳng quên ơn…

Trương Đạm Thủy

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (2)

logo-van-nghe

9-anh-bang-1TÂM SỰ NS ANH BẰNG

QUA CA KHÚC  “CĂN NHÀ  NGOẠI Ô”

Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác ca khúc “Căn nhà ngoại ô” kể một chuyện tình trong thời chinh chiến giữa một chàng trai sống trong căn nhà ngoại ô và một cô bạn hàng xóm trẻ.

Câu chuyện có vẻ chỉ là một chuyện tình xa cách của hai người yêu nhau, nhưng thực ra chất chứa một tình yêu cao thượng và lòng hy sinh vĩ đại.

Tác giả gói ghém ý tưởng qua lối diễn tả bình dị, bằng cốt truyện dựa vào nhân vật thay vì tình tiết, và dẫn đến cực điểm sắp xếp một cách táo bạo với kết cục tuyệt diệu.

oOo

Nhạc sĩ Anh Bằng viết ca khúc “Căn nhà ngoại ô” vào năm 1966 về một chuyện tình thời chinh chiến. Bài hát không phải là bài được ưa chuộng nhất trong những bài ông sáng tác, nhưng cũng rất được ưa thích vì nó nói lên tính chất bình dị của một cuộc tình giữa hai người trẻ vì quê hương phải xa nhau. Tuy nhiên, ít người nhận ra ý nghĩa sâu xa của bài hát vả do đó bài hát không được đón nhận tích cực như những bài hát khác của ông.

Nghe bài hát “Căn nhà ngoại ô” (nhạc trước 75). Do 3 nữ ca sĩ trình bày :

9-anh-bang-2– Kim Loan 1984 :   http://youtu.be/6_vcFPTvSOE

– Thanh Tuyền :  http://youtu.be/EjwCQ9HzBoM

– Hương Lan :  http://youtu.be/AwRMxjQ5bts

Ca khúc “Căn nhà ngoại ô” kể một câu chuyện tình trong thời chiến

“Căn nhà ngoại ô” nói về chuyện tình hai người trẻ trong thời chinh chiến. Khác với các chuyện tình thời chiến khi người trai ra đi tòng quân để lại người yêu nơi hậu phương, trong “Căn nhà ngoại ô” cả hai đều gia nhập quân đội để phục vụ đất nước. Câu chuyện mới thoạt nghe là chuyện tình bình thường trong thời chiến, nhưng thực ra là một chuyện tình cao quý với ý nghĩa huy hoàng.

Nhan đề bài hát nói lên nơi mối tình hai người nẩy nở, căn nhà của chàng trại tại một vùng ngoại ô thành phố. Chàng trai sống trong một căn nhà nhỏ xinh xắn vùng ngoại ô, có vườn trồng hoa và cây ăn trái (“Tôi ở ngoại ô, một căn nhà xinh có hoa thơm trái hiền.”) Ta không rõ ngoại ô đó là với thành phố nào. Tuy nhiên, qua hình ảnh êm ái thanh bình và an ninh của cuộc sống, ta có thể hiểu đây là vùng ngoại ô của một đô thị lớn tại miền Nam Việt Nam, rất có thể là Sài Gòn. Nhạc sĩ Anh Bằng sống ở Bà Chiểu, coi như là ngoại ô của Sài Gòn và quen thuộc với nhà cửa cuộc sống ở đó.

Chàng trai có một cô bạn thân ở gần nhà. Cô gái là người chăm chỉ học hành. (“Gần kề lối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn.”) Tuy không cho biết, ta có thể hiểu hai người là bạn học chung trường qua chi tiết “thân” và “sớm hôm lo sách đèn.” Tuy nhiên chi tiết này không quan trọng. Hai người có thể là bạn thân vì lý do hàng xóm qua lại. Ngoài ra, chắc cả hai đang học lớp đệ nhị hoặc đệ nhất (lớp 11-12) vì trong khoảng năm 1966, hai kỳ thi Tú Tài I và II vẫn còn. 9-anh-bang-6-thieu-nuThông thường, học sinh thức khuya dậy sớm học hành khi vào những năm thi cử.

Tình bạn giữa hai người là tình bạn trong trắng thuần túy bên ngoài và hai người không có ngỏ lời thương yêu gì với nhau, thề non hẹn biển, hoặc lo nghĩ đến chuyện tương lai, có thể là còn bận rộn chuyện học hành (“Hai đứa chưa ước hẹn lấy một câu, chưa nghĩ đến mai sau.”) Tuy nhiên, chàng trai nẩy ra lòng thương yêu cô bạn gái, qua những đêm thức giấc nhung nhớ nàng (“Nhưng đêm thức giấc ngỡ ngàng/ Nghe lòng thương nhớ biết rằng mình yêu.”)

Rồi cả hai có lời yêu thương với nhau. Tình bạn bây giờ trở thành tình yêu. Vấn đề này thực ra phức tạp hơn những gì bài hát cho biết. Khi chàng trai tỏ tình với cô gái, anh ta phải suy nghĩ kỹ lắm. Nếu cô gái chấp nhận tình yêu của chàng thì không nói làm chi. Nhưng nếu cô gái từ chối thì sao ? Có thể cô ta chỉ muốn coi chàng trai như một người bạn và không phải là một người tình. “Thổ lộ tình yêu với bạn mình có thể đòi hỏi một lòng can đảm to lớn vì bạn có thể bị từ chối”. Nếu cô gái từ chối, liệu hai người có thể tiếp tục duy trì tình bạn được không ? Ta thấy một khi cô gái biết chàng trai yêu cô, mà cô không yêu chàng, thì cả hai sẽ lâm vào cảnh khó xử. Rất khó mà chàng có thể rút trở lại thành tình bạn, vì như vậy là dối lòng. Cũng rất khó mà nàng đối xử với chàng như người bạn như xưa khi nàng biết chàng yêu nàng. Ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

Dù chàng có suy nghĩ kỹ hay không, sự việc xảy ra tốt đẹp. Nàng chấp nhận tình yêu của chàng, và nàng cũng yêu chàng. Lúc bấy giờ, giây phút hai người gần gũi bên nhau đã trôi qua. (“Khi hiểu được nhau, thời gian gần gũi đã qua đi mất rồi.”) Những giây phút hai người vui đùa bên nhau hái hoa trong vườn suốt đêm trong quá khứ sẽ không còn nữa (“Nào còn những phút hái hoa vườn trăng suốt đêm chung tiếng cười.”) Tại sao ? Đó là vì chàng phải lên đường tòng quân gia nhập quân đội, xa rời thành phố và người yêu bé bỏng (“Vui xa ánh sáng phố phường, xa người em nhỏ lên đường tòng chinh.)9-anh-bang-10

Tuy bài hát không cho biết, ta ngầm hiểu là khi hai người tỏ tình với nhau, họ chỉ cho nhau biết là họ yêu nhau, và cũng vẫn không hứa hẹn gì với nhau cả, vì không có lời cập nhật về “ước hẹn lấy một câu” hoặc “nghĩ đến mai sau.” Chuyện đó cũng không lấy gì là bất thường, vì khi hai người nâng mối liên hệ lên một nấc, họ có thể chỉ cho cái tình cảm đó một cái tên mới, là “tình yêu” thay vì là “tình bạn” và do đó thực ra cũng không có gì thay đổi để phải có những hứa hẹn với nhau. Hai người có thể có những hứa hẹn ngầm mà không cần phải nói ra, thí dụ như trung thành với nhau, hoặc sẽ tiến tới hôn nhân.

Tuy nhiên, ta thấy có một cái gì ngây thơ trong tình yêu giữa hai người. Có thể nào họ tin nhau đến độ xa nhau mà không cần phải có lời hẹn ước. Nàng có thể tin tưởng chàng không quên nàng và ngược lại ? Chi tiết này khá quan trọng khi câu chuyện diễn tiến sau đó. Trên thực tế, ta thấy cho dù có hứa hẹn nhau, lời hứa hẹn đó cũng không có gì bó buộc, vì tình cảm con người có thể thay đổi, nhất là khi xa mặt cách lòng. Cả hai, rõ ràng là còn trẻ tuổi và mới biết yêu lần đầu, chưa có kinh nghiệm trên tình trường. Do đó, họ không thấy sự cần thiết phải có lời ước hẹn hoặc toan tính cho mai sau.

Thế rồi, chàng trai ̣trở thành một chiến sĩ, đi đây đi đó ra chiến trường trận mạc, vui với núi non sông hồ (“Là chinh nhân tôi bạn với sông hồ.”) Nhưng chàng lúc nào cũng tôn trọng tình yêu hai người. Cho dù không có lời hẹn thề, chàng còn yêu thương nàng vô bờ (“Tình yêu em tôi nguyện vẫn tôn thờ / Và yêu không bến bờ.”)

Có cái gì gắn bó tình yêu chàng với nàng một cách mãnh liệt. Đó là niềm tin đất nước9-anh-bang-11 không những sẽ hết chiến tranh mà lại còn được thống nhất, chung một màu cờ (“Niềm tin là một ngày mai non nước chung một màu cờ.”). Thế rồi, có lẽ trong một dịp về phép, chàng trai trẻ bây giờ là một anh lính trở về khu căn nhà ngoại ô, thăm người yêu vào môt buổi tối trăng vàng tỏa sáng (“Rồi hôm nao tôi về ghé thăm nàng / Ngoại ô đây con đường tắm trăng vàng.”)

Trong nỗi bàng hoàng, anh lính không thấy nàng ở nhà (“Mà sao không thấy nàng.”) Anh buồn bã thất vọng tái tê, không biết nàng đã đi đâu, và biết tìm nàng ở đâu. Trong cơn ê chề, anh trách móc nàng nỡ nào bỏ đi không lời từ giã, mà không ráng chờ anh (“Tìm em, giờ tìm ở đâu ! Sao không gắng đợi chờ nhau.”)

Ta nhận ra vài chi tiết trong cuộc tình hai người. Trước hết, trong lúc xa cách hai người dường như không có liên lạc với nhau. Bấy giờ là thời chinh chiến vào thập niên 1960, và kỹ thuật liên lạc viễn thông chưa được thịnh hành. Điện thoại có, nhưng không phải gia đình nào cũng có, nhất là ở ngoại ô. Nhưng thư từ qua bưu điện hiện hữu, và hai người có thể trao đổi thư từ.

Tuy anh lính đi đây đi đó, anh vẫn có thể nhận thư qua Khu Bưu Chính (KBC) quân đội và viết thư hồi âm. Anh lính không nhắc gì đến chuyện thư từ trong lúc xa nàng. Có thể anh không thấy quan trọng trong việc thư từ vì anh biết anh sẽ về thăm nàng không lâu. 9-anh-bang-4Nhưng việc nàng không viết thư cho anh là một chuyện hơi khác thường. Ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

Thứ nhì, câu trách móc “Sao không gắng đợi chờ nhau” quả thật xác nhận việc hai người không thề non hẹn biển gì trước đó, và sự chờ đợi nhau là một kỳ vọng ngầm, không cần phải tuyên bố lẫn nhau ra bằng lời. Chuyện này tuy hơi khác thường cho mối tình khởi đầu là tình yêu, nhưng rất bình thường trong mối tình hai người. Đó là vì họ có tình bạn trước đó, và tình yêu nẩy nở sau một tình bạn thân thiết lâu dài. Như trình bày ở trên, hai người chỉ cho một cái tên mới cho tình cảm của họ, và không thực sự gia tăng tình cảm đó, sau khi ngỏ lời yêu nhau. Vì vậy, hai người vẫn giữ nguyên trạng và không thấy sự cần thiết cho việc hứa hẹn đợi chờ nhau.

Sau đó, anh lính thăm dò tin tức nàng, có thể chỉ hỏi người hàng xóm, hoặc người quen gần đó, và được biết lý do ra đi của nàng. Nàng đã gia nhập quân đội là nữ quân nhân, phục vụ trong ngành quân y, nơi chiến trường (“Tôi hỏi người quen… Nàng nay là Nữ Cứu Thương trên chiến trường.”)

Có vài chi tiết ta nên để ý. Thứ nhất, nơi nàng cư ngụ dường như không phải9-anh-bang-9 là nơi gia đình nàng ở. Nàng không có cha mẹ, người thân quyến thuộc, vì anh lính hỏi “người quen” chứ không phải thân quyến. Với chi tiết này, ta có thể suy diễn hoàn cảnh gia đình nàng. Cái suy diễn hợp lý nhất là cô gái ở trọ với một gia đình, Gia đình nàng có thể ở xa và nàng phải lên vùng đô thị ăn học.

Chuyện này rất thông thường trong thời gian đó. Tuy trường học có đầy đủ khắp nơi trong miền Nam nhưng các vùng quê xa xôi hẻo lánh, hoặc những nơi dầu sôi lửa bỏng, chuyện học hành thường bị gián đoạn. Do đó, nhiều gia đình cho con đến nơi đô thị có an ninh để đi học. Những học sinh có thể ở với người quen, hoặc mướn phòng tạm trú.

Thứ nhì, cô gái lúc gia nhập Nữ Quân Nhân phải hội đủ điều kiện. Một trong những điều kiện là từ 18 tuổi trở lên. Tuy ta không rõ khoảng thời gian nàng và chàng yêu nhau cho tới lúc nàng gia nhập quân đội là bao lâu, nhưng dựa vào chi tiết nàng là người chăm chỉ học hành, “sớm hôm lo sách đèn” ta có thể suy diễn nàng học đúng tuổi hoặc gần đúng tuổi. Do đó, khi nàng chấp nhận tình yêu chàng, nàng đã là một cô gái trưởng thành, và có chút suy nghĩ chín chắn về tình yêu và tương lai.

Thứ ba, thời gian huấn luyện cho Nữ Quân Nhân ít nhất là vài tháng. Trước năm 1968, thời gian huấn luyện cho căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cho nữ quân nhân là sáu tuần. Sau đó là đi học thêm các lãnh vực chuyên môn như xã hội quân đội, quân y, truyền tin, quân nhu. Vì nàng là nữ cứu thương, hoặc y tá, nàng phải đi học thêm về quân y. Ta cũng nên phân biệt “nữ cứu thương,””phụ tá quân y,” và “trợ tá xã hội.”9-anh-bang-12

Thực ra, “nữ cứu thương” chỉ là một danh từ chỉ người y tá hoặc phụ tá trong ngành quân y. Để là một “nữ cứu thương,” người nữ quân nhân phải theo học ngành “phụ tá quân y” trong trường Quân Y. Còn “trợ tá xã hội” là những người tốt nghiệp trường Xã Hội Quân Đội thi hành những nhiệm vụ xã hội cho gia đình quân nhân như trợ cấp khó khăn, sanh đẻ, giấy tờ con em đi học, báo tử, v.v…

Ta không biết rõ thời gian học phụ tá quân y là bao lâu, nhưng dựa vào tính chất quan trọng của ngành này, chắc cũng phải khoảng 6 tháng. Ngành trợ tá xã hội cần 6 tháng học tại trường Xã Hội Quân Đội nên ta thấy ước đoán học 6 tháng cho phụ tá quân y không đến nỗi sai lắm. Một điểm quan trọng hơn là tuy ta cố tìm những chi tiết chính xác khi tìm hiểu một câu chuyện, việc đó có lẽ không quan trọng lắm trong một tác phẩm nghệ thuật. Nhạc sĩ Anh Bằng có thể tạo dựng nhân vật trong ca khúc ông dựa vào nhân vật có thật hoặc tưởng tượng, và những chi tiết có thể dựa vào những chi tiết chính xác hoặc đại khái nếu những chi tiết đó không ảnh hưởng đến ý chính của tác phẩm.

Nói tóm lại, những chi tiết trong bài hát cho ta hình dung ra được vài điểm sau :

(1) Cô gái lúc yêu chàng trai đã là một cô gái trưởng thành, biết suy nghĩ cho tương lai,

(2) hai người xa nhau không liên lạc nhau trong một khoảng thời gian khá dài, có thể lên đến 6-9 tháng hoặc một năm; và (3) trong khoảng thời gian xa nhau, hai người hầu như không có liên lạc. 9-anh-bang-5-danh-danCô gái có vẻ không muốn cho người yêu biết dự tính gia nhập nữ quân nhân. Những điểm này sẽ được nhắc lại trong phần sau.

Trở lại câu chuyện, anh lính biết được người yêu mình đã gia nhập quân đội và hiện đang là nữ cứu thương trên chiến trường. Anh biết cuộc sống trên sa trường sóng gió như thế nào. Người nữ cứu thương là người giúp các bác sĩ quân y hoặc làm việc trợ giúp y tế cho quân nhân, có một trách nhiệm nặng nề. Anh tự hỏi không biết nàng có vui trong công việc của nàng (“Dặm ngàn sóng gió, biết sao nàng vui dấn thân trên bước đường.”)

Chàng biết là cơ hội gặp lại nàng rất mong manh, nhưng với niềm tin mãnh liệt, chàng vẫn tin hai người sẽ gặp lại nhau (“Em ơi, trái đất vẫn tròn / Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau !”) Nhóm chữ “trái đất vẫn tròn” thường dùng chỉ cuộc tái ngộ sẽ xảy ra, dù không có gì là chắc chắn. Và đó là điều chàng mong ước.

Câu chuyện chỉ có vậy. Anh Bằng có vẻ kể lại một chuyện tình trong thời chinh chiến như bao chuyện tình khác : hai người yêu nhau, chàng tòng quân, trở về tìm nàng thì nàng đã đi xa, và chàng hy vọng sẽ gặp lại nàng. Câu chuyện không có nhiều tình tiết éo le, nếu không muốn nói là khá đơn giản. Kết cục cũng không có gì thê lương hoặc vui vẻ.

Bài hát có lối diễn tả bình dị nhưng có hiệu quả và kỹ thuật táo bạo dàn xếp cực đỉnh và kết cục:

Anh Bằng có lối diễn tả bình dị nhưng có tác dụng mạnh. Ta thấy ông gói ghém một ý tưởng cao quý, đề cao một hình ảnh cao thượng một cách điêu luyện.

Ông dùng từ ngữ cụ thể, đơn giản nhưng tượng hình như “hoa thơm”, “trái hiền”, “sớm hôm”, “hái hoa”, “chung tiếng cười”, “bước theo”, “trăng vàng”, “gió lạnh”, “xé nát”. Một cách tài tình, ông sắp xếp 9-anh-bang-7những từ ngữ cụ thể tượng hình này bên cạnh những từ ngữ trừu tượng để diễn tả ý tưởng hoặc tình cảm mạnh mẽ. Thí dụ, “thức giấc ngỡ ngàng” cho thấy một phát giác tạo kinh ngạc.

Tại sao kinh ngạc ? Chàng trai kinh ngạc vì chàng không ngờ chàng đã yêu nàng từ lâu mà chàng không biết. Một thí dụ khác, “bước theo tiếng gọi” diễn tả một hành động tự nguyện, không phải vì bị bó buộc. Một thí dụ nữa, câu “thương xé nát con tim” là một diễn tả tuyệt vời, như tôi đã trình bày ở trên.

Cả bài hát rải rác nhiều mỹ từ và từ ngữ mạnh, tạo nên những nét chấm phá linh động cho ý tưởng hoặc hình ảnh. Thí dụ, “trái hiền,” “tắm trăng vàng,” “dấn thân trên bước đường,” “trái đất vẫn tròn.”

Đặc biệt nhất, Anh Bằng dùng một kỹ thuật độc đáo trong cách thức dàn xếp cốt truyện và tạo dựng cực điểm và kết cục.

Ông thiết lập cốt truyện không bằng tình tiết hoặc sự kiện, tuy bề ngoài có vẻ như vậy. Ông tạo dựng cốt truyện dựa vào nhân vật. Ta thấy ông tả nhân vật với các gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp cho cốt truyện. Thí dụ, ông tả cô gái là người học hành chăm chỉ, chàng trai và cô gái là hai người trẻ trong trắng trong tình bạn, chàng trai là người có lý tưởng, và có niềm tin mạnh mẽ, cô gái là người quả quyết. Bằng cách cho thấy những đặc tính của hai nhân vật, ông giúp khán giả hình dung rõ rệt cốt truyện. Quan trọng hơn, ông dùng cá tính của hai nhân vật để đưa đến một cực điểm mạnh mẽ, khiến khán giả bàng hoàng.

Cực điểm có ý nghĩa tùy vào thể loại của một tác phầm văn chương. Với tiểu thuyết, đó là điểm mà mọi chuyện trong câu chuyện cuối cùng xảy ra. Với thơ, đó là ý chính của cả bài, thường được diễn tả một cách gián tiếp hoặc qua các ẩn dụ tinh tế. Với ca khúc, đó vừa là ý chính vừa là nơi mọi chuyện cuối cùng xảy ra.

Cực điểm của bài hát này ở đâu ?

Như đã trình bày ở trên, đó là câu “Tôi đứng nghe gió lạnh giữa màn đêm, thương xé nát con tim.” Câu này cho thấy chàng trai bàng hoàng sau khi biết tin người yêu là nữ cứu thương nơi chiến trường qua câu “Nàng nay là Nữ Cứu Thương trên chiến trường.” Tác giả cho chàng trai một khoảnh khắc lo lắng không biết nàng có vui với quyết định đó không qua câu 9-anh-bang-3“Dặm ngàn sóng gió, biết sao nàng vui dấn thân trên bước đường.”

Bằng cách dùng hai câu này, tác giả đưa khán giả dần dần tới cực đỉnh, khi chàng chợt nhận ra lý do tại sao nàng gia nhập nữ quân nhân và là nữ cứu thương. Tác giả để chàng đứng giữa màn đêm (một hình ảnh suy tư), và sau đó, như một tiếng sét đánh vào đầu, chàng bừng hiểu và lòng yêu thương nàng “xé nát con tim” chàng.

Cái táo bạo của Anh Bằng là ông để cực điểm ở gần chót, lúc đoạn kết. Cái liều lĩnh của cách xếp đặt này là khán giả có thể bị chưng hửng, vì đoạn kết đến quá nhanh, khiến nhiều người có thể không có dịp để ý tưởng thấm dần trong óc. Tuy nhiên, Anh Bằng khéo léo đánh tan cái tác dụng bất lợi đó nhờ hai việc.

Thứ nhất, khác với một cuốn phim hoặc một tiểu thuyết, một bài hát thường ngắn hơn nhiều và có thể được nghe đi nghe lại nhiều lần. Do đó, cho dù cảm giác chưng hửng có xảy ra trong lượt nghe đầu tiên, các lượt nghe sau sẽ làm giảm đi cảm giác đó, và người nghe càng thấm khi nghe lại nhiều lần.sg-lan-caysu-1

Thứ nhì, phần kết kuận có tác dụng hữu hiệu với câu “Em ơi, trái đất vẫn tròn,” và “Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!” Câu “Em ơi, trái đất vẫn tròn” hàm ý chấp nhận, chịu thua. Chàng lính trẻ hiểu được ý người yêu và đành chấp nhận chuyện đó. Chàng không oán trách nàng đã bỏ đi đột ngột hoặc có một quyết định cực đoan (theo ý chàng). Câu “Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!” nói lên nỗi hy vọng, niềm tin mạnh mẽ. Khán giả sẽ vui vì kết cục này. Tuy hai người không được xum họp, nhưng họ hiểu nhau, và họ cùng bỏ qua mối tình vị kỷ sang một bên để hướng đến một mục tiêu cao thượng hơn.

Chấp nhận và hy vọng. Còn gì tuyệt diệu bằng ? (theo Cao Đắc Tuấn)

Lan caysu chuyển tiếp

9-chuyen-tinh-1GIAI THOẠI TÌNH CA

GẦN NỬA THẾ KỶ

NHẠC PHẨM LOVE STORY 

Mời nghe nhạc phẩm Love Story :

http://youtu.be/YWlNhHGUfDU

http://youtu.be/V7676EC06oc

Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác

Cách đây gầần 50 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.

Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.

Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.

Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại

Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) 9-chuyen-tinh-2trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962 – 1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài dũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva)

Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.

Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim

Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim 9-chuyen-tinh-3Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.

Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim (“Love means never having to say you’re sorry”…) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết : Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles…và Tôi. Có người nói đùa rằng : Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.

Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).

Thân thế tác giả bài hát

Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.danh-dan-2

Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao giồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.

Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.

Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.

Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca

Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story ? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, 9-chuyen-tinh-4ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.

Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.

sg-lan-huong-1Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.

Lan Hương chuyển tiếp