XUÂN VỀ KỂ CHUYỆN PHÚC LỘC THỌ

logo-phong-tuc

9-phuc-loc-tho-1CHỮ PHÚC VỚI TAM ĐA

Tam đa là ba cái nhiều : Nhiều phúc, nhiều lộc, nhiều thọ. Ba ông biểu tượng cho ba điều mà nhân gian thường mong muốn.

Mỗi độ xuân về, những cánh hoa xinh tươi khoe sắc bên nhà, ngoài phố phường đông vui, nhộn nhịp với muôn màu áo mới, tiếng pháo nổ ròn tan chào mừng một năm mới, chúng ta lại thấy tâm hồn mình lâng lâng trong không khí thiêng liêng ngày đầu năm. Bên bàn thờ gia tiên với khói nhang thơm ngát lan tỏa trên mâm ngũ quả cùng bánh chưng xanh và rượu Tết. Hình tượng của vị Phúc, Lộc, Thọ đã được lau chùi sạch sẽ, đặt trang trọng trên nóc tủ hoặc kệ cao, đôi khi còn được đặt thêm bát nhang cho tăng phần cung kính, với niềm hy vọng là ba ông sẽ mang lại sự tốt lành, tiền tài và sức khỏe cho gia chủ. Người ta cũng còn chúc nhau năm mới tăng phúc, tăng thọ và nhiều lộc, v.v…

Trên bìa một vài tờ lịch cũng in hình vẽ ba ông Phúc, Lộc, Thọ tươi cười với xiêm áo chỉnh tề và rực rỡ.

Ông Phúc bế đứa chắt năm đời, ông Lộc trên tay cầm thỏi ngọc, xấp tiền hoặc vàng nén, đôi khi ông còn cầm những chiếu chỉ bằng vải điều với chữ “Phúc tinh cao chiếu” hoặc “Tam tinh lâm môn”. Ông Thọ tay mang trái đào tiên, do tích vườn đào của Tây Vương Mẫu trên thiên đình, ai ăn được đào tiên sẽ sống muôn thuở, bởi vậy nên xưa kia, Tề Thiên Đại thánh đã từng lên hái trộm để bị đày xuống hạ giới!

9-khach-san-pltNgày nay, người Trung Quốc tôn thờ ba ông Phúc, Lộc, Thọ như ba vị thần, nhiều đền đài được thiết lập để dân chúng đến chiêm bái. Tại tỉnh Hà Bắc, có một khách sạn 13 tầng với tên là Tienzi, xây theo hình tượng của ba ông để tiếp đón những người hiếu kỳ và mê tín. Nền văn hóa của Trung Quốc cũng liệt các ông vào hàng các vị sao để sánh ngang với Quan Công hoặc Khổng Tử.

Theo truyền thuyết thì ông Lộc là người sinh ra ở thuở xa xưa nhất (trên 3.000 năm) tới ông Thọ (2.000 năm) và cuối cùng là ông Phúc (1.200 năm). Căn cứ vào thứ tự thời gian đó, chúng ta tìm hiểu về thân thế của các ông.

– Ông Lộc (1125-1063 trước Công Nguyên) : Làm quan đến chức thừa tướng (tương đương thủ tướng) đời nhà Thương (có sách chép là nhà Tấn). Ông Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, là một quan tham thường ăn hối lộ để mua quan bán tước, các tội phạm có thể đem vàng bạc ra để chạy tội, phép nước không được công minh. Trong nhà ông, kho báu chứa đầy của cải. Năm 60 tuổi, ông vẫn chưa có cháu đích tôn, ngồi trên đống vàng mà chỉ mong có người nối dõi tông đường, ông cầu danh y và pháp thuật xong vẫn vô phương và nhà trở thành hoang vắng !

9-ong-locTới tuổi quá lục tuần, ông thất vọng sinh ra buồn chán rồi lâm bệnh ! Ông bị liệt não nên phải nằm đến thối giường, thối chiếu, cơ thể sinh ra hôi hám khiến không ai muốn tới gần. Trước khi từ giã cõi đời, ông than rằng :

“Lộc nhà ta nhiều sẽ để lại cho ai hưởng đây ! Bàn thờ ta sau này sẽ nhang tàn khói lạnh mất thôi.”

Lúc ông giã từ trần thế, mắt còn mở chừng chừng như oán trời trách đất, phải có người đến vuốt mắt để ông được yên ổn ra đi !

Trong đời, người ta thường được cái này thì mất cái kia, vì nhân vô thập toàn. Nếu có lộc nhiều mà nghĩ đến những kẻ bất hạnh đem bố thí, hoặc chia sẻ bớt cho những người khốn khó thì có lẽ cũng được thảnh thơi tâm hồn. Vì lúc chết cũng không ai mang theo được gì. “Lộc bất khả hưởng tận.” Lấy tiền bạc, của cải để làm việc thiện, công ích xã hội sẽ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. Xem ra, ông Lộc trở thành người bị thất lộc, cũng do tham lam và vị kỷ nên cuối đời không được yên vui.

– Ông Thọ (154-93 trước Công Nguyên). Tên thật là Đông Phương Sóc, làm quan thừa tướng đời nhà Hán. Ông Thọ quan niệm rằng, trong đời buôn chính trị là lời lãi nhất. Khi làm quan, ông chủ trương thanh liêm để được vua tin dùng. Ông cũng quan niệm phải nhận được nhiều bổng lộc vua ban để giàu có. 9-ong-thoSuốt thời gian làm quan, ông chỉ nịnh hót vua và không bao giờ dám phản đối hoặc can gián vua điều gì ! Khiến vua rất tương đắc và hài lòng, ban thưởng cho ông rất nhiều, ông nói: “Làm quan mà không lấy lộc của vua thì làm quan để làm gì ? Và ta can gián vua, nếu ngài phật ý tức giận, chém đầu cả ba đời có phải là ngu không?”

Từ những lộc thưởng, ông mua gái đẹp về làm thê thiếp để dưỡng tuổi già. Ông quan niệm là lấy sinh khí của tuổi trẻ để dưỡng tuổi già, lấy âm dưỡng dương để cân bằng khí huyết (sau này được nôm na gọi là môn “hấp tinh đại pháp”). Sự cân bằng và hòa hợp đó sẽ nuôi dưỡng con người trường thọ.

Tuy vậy, ông chỉ sống được 61 tuổi. Ở vào thời cách đây 2.000 năm, sống tới 60 hoặc 70 thật rất khó, nên mới có câu “Thất thập cổ lai hy.” Cũng có sách viết ông mất vào năm 125 tuổi. Tin được hay không cũng tùy suy nghĩ của mỗi người.

Hiện tại, ở tiểu bang Illinois có ông Shelby Harris cũng sống được 110 tuổi và tại nước Somalia cũng có ông Ahmed Muhamed Dore sống được 112 tuổi và vừa làm đám cưới với cô Safia Abdullah, chỉ mới 17 tuổi !!!

9-phuc-loc-tho-3Khi ông Thọ mất, các con đều chết trước cả, cháu ba đời nghèo quá nên chắt bốn đời phải làm tang chay cho ông trong cảnh thanh đạm. Xem ra đời ông Thọ cuối cùng cũng chẳng vui sướng gì !

– Ông Phúc (697-781). Tên thật là Quách Tử Nghi là thừa tướng đời nhà Đường. Vốn giòng dõi quí tộc với đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Ông là một vị quan liêm khiết và sống rất có nhân cách. Phu nhân ông là người phụ nữ phúc hậu và cùng tuổi. Hai người sống với nhau rất tương đắc, gia đình êm ấm, con cháu khá giả, thuận hòa.

Ông Phúc mất năm 84 tuổi, lúc mất miệng còn cười tươi và trên tay đang bế đứa chắt năm đời. Phu nhân thấy vậy ôm choàng lấy ông mà khóc ngất, sau đó người nhà mới thấy bà đã theo ông về bên kia thế giới. Hai người sinh cùng năm, sống bên nhau suốt đời, chết cùng ngày và giờ một cách bình yên. Cuộc đời như vậy là quá tốt đẹp, nhân gian có ai bằng. Bởi thế mới được đặt tên là ông Phúc.

Người ta thường quan niệm chữ Phúc với nhiều ý nghĩa khác nhau. Đó là những điều tốt lành và trời cho bản thân, gia đình và con cháu được bình yên, may mắn khiến lòng vui sướng. Ngược lại với phúc là họa.

Con người được sinh ra do duyên và nghiệp. Phúc và họa phần lớn ngoài khả năng đảo ngược của con người mà chỉ lấy thành tâm, 9-ong-phucthiện chí, tu thân tích đức để bộ máy huyền vi của trời đất thay đổi, hy vọng đô. được cho chúng ta mà thôi.

Sư rằng : “Phúc họa đạo trời

Cõi nguồn cũng ở lòng người mà ra”

(Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Cuộc sống trong thế gian này không có gì là tuyệt đối, nên người ta cũng không nên đòi hỏi quá nhiều để mà chuốc lấy thất vọng và ưu phiền.

Theo Đạt Lai Lạt Ma : Thân tâm an lạc là chìa khóa của hạnh phúc, muốn được an lạc chúng ta phải chấp nhận năm điều mà chúng ta không thể thay đổi được trong đời sống, đó là :

1) Mọi việc đều biến đổi và có ngày chấm dứt như sinh, lão, bệnh, tử.

2) Cuộc sống không diễn tiến như ta trông đợi vì do vũ trụ chi phối: như nắng mưa, hòa bình và xung đột.

3) Trong cuộc sống thường không có sự công bằng: như năm ngón tay dài ngắn, kẻ giàu người nghèo, v.v…

4) Sự đau khổ cũng chỉ là một phần trong đời sống: mỗi người có những điều bất hạnh khác nhau.

5) Người đời không phải là luôn yêu thương và trung thành với nhau: Để tránh9-phuc-loc-tho-2 bớt bị tổn thương ta phải luôn đầu tư và tái lập niềm tin mới.

Theo giáo sư Manel Baucells (đại học Barcelona) và giáo sư Rakesh Sarin (đại học UCLA) trong cuốn Engineering Happiness thì chúng ta có thể tự kiến tạo hạnh phúc bằng nhiều cách :

1) So sánh sở hữu với ước vọng : nên thực tế, ước vọng trong khả năng thì dễ có hạnh phúc.

2) Hạnh phúc tức thời : Ta sẽ cảm thấy hạnh phúc trong một thoáng bất chợt khiến ta hài lòng.

3) Hạnh phúc thực sự : So sánh tình cảm tích cực với tiêu cực; Hạnh phúc khi ta yêu thương nhiều hơn lúc ta bực, ghét bỏ.

4) So sánh mình với người khác : Hãy nhìn về những sự việc tốt, hay, đẹp của mình mà người khác không có.

5) So sánh hiện tại với quá khứ: Trong đời sống có nhiều thứ hôm nay ta đã đạt được mà thuở xưa không có.

Mỗi lúc buồn phiền ta thử thực hiện những điều như trên xem có giúp ta thoải mái hơn không ?

9-phat-di-lac-1– Chữ phúc với tượng Phật di lạc : Với sáu đứa bé bám trên một ông Phật ngồi cười. Sáu bé đó phá ctượng trưng cho lục tặc phá sáu căn nguyên của con người. Lục căn đó là gốc của sinh tử luân hồi. Nếu lục căn vô chấp thì sẽ không sinh ra “Tam bành” tức là tham, sân, si. Vì quan niệm đời là vô thường nên trở thành vô ngã và vô chấp. Muốn thế theo đạo Phật là phải diệt dục để đi từ vô minh tới giác ngộ. Thực hiện được bao nhiêu thì sẽ bớt nghiệp xấu đi bấy nhiêu tức là thêm phúc vậy.

Tại Trung Quốc, thời Cách Mạng Văn Hóa với chủ trương vô thần và chỉ suy tôn lãnh tụ, Mao Trạch Đông đã ra lệnh đập phá tượng Phật và hạ bệ Khổng Tử, một vạn thế sư biểu đã từng chủ trương “Quân tử quần nhi bất đảng” tức là người quân tử hợp quần với mọi người nhưng không gây bè đảng, điều này phản lại đường lối của đảng cộng sản Trung Quốc, cũng thời Cách Mạng Văn Hóa các ông như Thần Tài, Quan Công và ba ông Phúc, Lộc, thọ đều không có chỗ đứng !

Ngày nay, Trung Quốc với chủ trương bành trướng và đề cao chủ nghĩa dân tộc để phô trương sức mạnh, Hán hóa các nước lân bang nên Trung Quốc đã phục hồi lại Khổng Tử cũng như tô vẽ lại các hình ảnh của các nhân vật có tài mà thiếu đức như Tần Thủy Hoàng, Ngô Tam Quế để trở thành người Hán lý tưởng. Ba ông Phúc, Lộc, Thọ cũng được nằm trong mưu đồ đó ! Nhưng dẫu thế nào cũng không thể nào biến ba ông trở thành “đạo Tam đa” được !

9-phat-di-lac-2Người Hoa hạ sống vất vả, khổ sở từ đời này qua đời khác nên khó có cuộc sống vinh hoa phú quí bèn lập nên hình tượng của ba ông mà an ủi cho đời còn có hy vọng.

Có lẽ sau này, các ban chuyên trách về văn hóa và tôn giáo của Trung Quốc cần phải sửa lại tiểu sử của ba ông Phúc, Lộc, Thọ để xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của dân chúng, hòng có thể lập được đạo “Tam đa” mà song hành với các tôn giáo khác. Theo ghi nhận thì ba ông Phúc, Lộc, Thọ không để lại một triết lý nào để học hỏi, gương đạo đức và lòng vị tha cũng không có !

Ba cuộc sống là biểu tượng của quyền cao chức trọng, vợ đẹp con khôn, sống lâu giàu bền tức là ước vọng thụ động của đời thường không phải lý tưởng của thánh nhân, anh kiệt !

Một vị tướng mà thờ ông Thọ thì có trở thành một danh tướng được không ? Một lãnh tụ sg-xuan-maimà thờ ông Lộc thì có tránh khỏi tham ô không ? Ai mà thờ ông Phúc thì chắc hẳn sẽ có nhiều bầu đoàn thê tử!

Tuy rằng, ba ông Phúc, Lộc, Thọ không chứng tỏ được những hào quang nhiệm màu của các siêu nhân hoặc hiển thánh, nhưng người xưa đã nói “Có thờ có thiêng có kiêng có lành” biết đâu ai đó được chút lộc thừa của ba vị thì đời cũng bớt khổ !

Có một điều cần nói là những điều hay ta nên Việt hóa để du nhập. Còn những gì vu vơ mà ta nhắm mắt làm theo tức là chúng ta đã vô tình Hán hóa dân tộc Việt vậy. (theo Huy Trung)

Xuân Mai chuyển tiếp

logo-tim-hieu

sg-lan-huong-2LÝ DO THÁNG HAI

CHỈ CÓ 28 HOẶC 29 NGÀY

Mỗi tháng Dương lịch đều có từ 30 đến 31 ngày, nhưng tháng Hai chỉ có 28 hoặc 29 ngày nếu là năm nhuận (Xem hình, như tháng 2/2016, có 29 ngày), là do giữ nguyên cách tính lịch của người La Mã trước kia.

Lịch La Mã ban đầu ban hành bởi Romulus, vị hoàng đế đầu tiên của thành Rome. Lịch do ông ta ban hành dựa vào chu kỳ của mặt trăng, tức là tương tự như âm lịch của người phương Đông, tuy nhiên chỉ có 10 tháng. 10 tháng của lịch này bắt đầu từ tháng ba và kết thúc vào cuối tháng mười hai (lưu ý rằng cách đánh số tháng 1, 2, 3, … là do cách dịch của người Việt Nam, còn trong nguyên bản của lịch La Mã cũng như cách dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới thì mỗi tháng có tên riêng).9-caesar

Như vậy một năm chỉ có 10 tháng, tức là có một khoảng thời gian kéo dài hai chu kỳ Trăng không được đưa vào lịch, vì Romulus cho rằng đây là thời gian mùa đông không có ý nghĩa gì với việc làm nông nghiệp nên không cần có quy ước.

Khoảng thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, hoàng đế Numa Pompilius là người quyết định đưa thêm hai tháng nữa vào lịch cho đủ 12 chu kỳ Trăng. Mỗi tháng có 28 ngày, làm cho lịch kéo dài đủ 12 chu kỳ Trăng, tổng cộng là 354 ngày. Tuy vậy, Pompilius cho rằng số 28 là con số không may mắn nên sau đó quyết định cho tháng một thêm một ngày thành 29 ngày, còn tháng hai không hiểu vì lý do gì vẫn giữ nguyên chỉ có 28 ngày.

Lịch đặt theo chu kỳ của mặt trăng dần bộc lộ điểm yếu, nó không phản ánh đúng chu kỳ biến đổi thời tiết các mùa, vì chu kỳ này gắn liền với chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Vì thế, người La Mã lại quyết định cứ hai năm thì đưa vào thêm một tháng 9-duong-lichnhuận kéo dài 27 ngày sau ngày 23 tháng hai (những năm đó tháng hai chỉ có 23 ngày).

Việc thay đổi như trên làm việc tính lịch trở nên rắc rối. Đến khoảng năm 45 trước Công nguyên, Julius Caesar quyết định thay đổi hệ thống tính lịch này. Ông giữ nguyên 12 tháng nhưng thêm ngày vào các tháng để 12 tháng đó trùng với chu kỳ của mặt trời (chu kỳ vị trí của mặt trời trên bầu trời, chứ không phải chu kỳ trái đất chuyển động quanh mặt trời vì thời đó người ta không biết trái đất có quỹ đạo quanh mặt trời).

Caesar cũng đặt quy định cứ 4 năm một lần thì tháng hai lại được cộng thêm một ngày cho phù hợp với chu kỳ của mặt trời được tính ra khi đó là 365,25 ngày, điều này về cơ bản khá gần với chu kỳ thật của trái đất quanh mặt trời, hiện nay chúng ta biết là 365,2425 ngày.

Có nguồn tài liệu ghi rằng ban đầu theo cách tính lịch của Caesar, tháng hai có 29 9-duong-lich-2ngày và mỗi 4 năm nó được thêm một ngày thành 30 ngày, tức là không có chênh lệch lớn với các tháng khác. Tuy vậy sau này khi các tháng đặt tên lại, ngày thứ hai chín của tháng hai được chuyển sang tháng tám do tháng này đặt theo tên của Augustus (Hoàng đế sáng lập đế chế La Mã), để cho tháng đó có độ dài tương đương với tháng bảy (July) – tên của Julius Caesar.

Dương lịch mà con người sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã được hoàn thiện thêm. Cách chia các tháng vẫn giữ nguyên để tôn trọng lịch sử và đó là lí do tháng hai có ít ngày hơn các tháng khác. Về cơ bản đây chỉ là một qui ước, không gây ảnh hưởng gì tới việc sử dụng thời gian của loài người.

Người xưa đã tính thời gian để soạn thành Âm lịch và  Dương lịch như thế nào ?

– Sự di chuyển của Mặt trăng quanh trái đất (Âm lịch) .

– Sự di chuyển của Trái đất quanh mặt trời (Dương lịch) .

Lan Hương chuyển tiếp

logo-thay-thuoc

sg-lan-caysu-1NHỮNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

RẤT LẠ CỦA NGƯỜI CỔ ĐẠI

Từ thời cổ đại, khi các biện pháp tránh thai hiện đại chưa phát triển, con người đã biết tránh thai theo nhiều cách rất lạ. Tuy nhiên, không phải biện pháp nào cũng có hiệu quả cao.

Ngày nay mọi người có thể lựa chọn rất nhiều biện pháp tránh thai an toàn và tương đối hiệu quả như dùng thuốc tránh thai, đặt vòng hay bao cao su… nhưng người cổ đại thì sao ? Họ có thể cũng có rất nhiều cách phòng tránh thai nhưng liệu nó có thật sự an toàn?

“Bao cao su” : Cũng có những ghi chép về việc sử dụng “bao cao su” ở thời cổ đại. Những “bao cao su” này thường là từ da của các loài động vật như cừu, dê, rắn…Những tài liệu sớm nhất ghi lại việc sử dụng bao cao su thuộc về người Ai Cập, khoảng 1.000 năm trước. Trong một công trình nghiên cứu về các bức tranh cổ của người Ai Cập, khoảng 900 năm trước Công nguyên, người ta đã thấy có những bức hình miêu tả việc sử dụng bao cao su.

Khoảng năm 1.660 đến năm 1.665, một viên quan ngự y của vua Charly II 9-tranh-thai-1anước Anh có tên là Condom đã có sáng kiến dùng ruột con cừu đực làm bao cản tinh trùng (mà chúng ta gọi là bao cao su bây giờ). Ngay sau khi ra đời, bao cản tinh trùng đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi và áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu với tên gọi là condom – tên người phát minh ra nó.

Ngoài ra, các cổ nhân Trung Quốc còn dùng “bao cao su” bằng bong bóng cá. Trong một số bảo tàng còn lưu trữ những chiếc “bao cao su” được chế từ ruột của loài cừu, chúng có một chút đặc điểm tương đồng như bao cao su ngày nay.

Chất diệt tinh trùng : Theo cuốn y thư tối cổ của Ai Cập Papyrus Kahun đã có cách nay 4000 năm thì từ xa xưa, những phụ nữ Ai Cập cổ đại đã tự tạo ra chất diệt tinh trùng để tránh mang thai. Đó là, lấy phân voi trộn với nước rồi vê tròn lại và nhét vào âm đạo. Hỗn hợp này có tác dụng diệt tinh trùng, ngăn không cho tinh trùng tiến sâu vào tử cung người phụ nữ và thụ thai.

Cũng theo một tài liệu lịch sử của người Ai Cập (viết năm 1525 9-tranh-thai-1btrước Công nguyên) thì ngoài sử dụng viên thuốc từ phân voi như trên, nhiều phụ nữ Ai Cập còn ấy lá cây keo nghiền nhỏ trộn lẫn với mật ong buộc trong 1 miếng vải ướt rồi đặt vào âm đạo. Axit lactic trong lá cây keo sẽ đóng vai trò là một chất diệt tinh trùng hữu hiệu. Cách này có thể giúp người phụ nữ tránh thai được trong vòng 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm.

Uống thủy ngân : Các nền văn hóa cổ đại, từ người Assyria, Ai Cập đến La Mã đều coi thủy ngân là “phương thuốc” có thể chữa trị được nhiều bệnh, kể cả các vết thương trên da hay bệnh giang mai…

Cũng có người lựa chọn phương pháp uống thủy ngân để tránh thai. Thủy ngân có tác dụng tránh thai vì nó làm cho kinh nguyệt phụ nữ không điều hòa. Nhưng nó lại vô cùng độc hại, tuy uống một lượng nhỏ không thể gây chết người 9-tranh-thai-2nhưng nó ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe, thậm chí làm thai chết lưu hoặc sinh non.

Những phụ nữ cổ đại tránh thai bằng thủy ngân thường pha một lượng nhỏt thủy ngân vào trà hoặc đồ ăn mà họ ăn uống hàng ngày để làm thay đổi hormone, kinh nguyệt và không bị “dính” bầu.

Nuốt tai quả hồng : Y học cổ truyền Trung Hoa nổi tiếng với một bài thuốc tránh thai rất hữu hiệu còn được lưu truyền đến tận ngày nay, đó là dùng tai quả hồng (thị đế). Tai quả hồng vị đắng, tính ôn, thường dùng phối với nhân sâm, đinh hương chế thành thị tuyến tán, dùng chữa nghịch khí, nấc nghẹn, đầy bụng…

Phương pháp dùng tai quả hồng để tránh thai như sau : Dùng 7 tai quả hồng sấy trên ngói cho khô, nuốt với nước sôi để nguội mỗi ngày. Làm liên tục như vậy trong 49 ngày thì bảo đảm 1 năm không mang thai, nhưng trong năm ấy không được ăn hồng. Nếu muốn có thai thì lại ăn 7 tai hồng nữa.

9-tranh-thai-3

Trong tự truyện của một kỹ nữ thời Dân Quốc, trước khi tiếp khách, “má mì” luôn cho các cô uống một thứ nước có vị chua ngọt rất ngon. Sau mới biết đó là bột nghiền từ tai quả hồng, uống vào vĩnh viễn không thể mang thai.

Thế nhưng, chưa có biện pháp tránh thai nào ở thời cổ đại đạt được hiệu quả 100%, những đứa trẻ ra đời ngoài ý muốn là kết quả của biện pháp tránh thai thất bại. Trong quá khứ rất nhiều những cô gái lầu xanh sau khi hoàn lương, đã không còn khả năng mang thai, đó chính là kết cục của việc dùng các biện pháp tránh thai không có cơ sở khoa học và làm tổn hại chức năng hệ sinh sản trong suốt thời gian dài, dẫn đến vô sinh.

Lan caysu chuyển tiếp