VĂN HÓA VĂN NGHỆ (16)

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Người Sài Gòn có thể uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày.

– Từ Kế Tường

Uống cà phê buổi sáng sớm theo thói quen ở quán cóc lề đường, bàn chuyện tào lao thế sự với bạn bè hay ngồi một mình ngắm phố phường trong sương sớm để thư giãn, chiêm nghiệm thế thái nhân tình hay hoài niệm những khảnh khắc vui buồn xảy ra trong đời mình.

Uống cà phê buổi trưa kết hợp với bữa ăn trưa để bàn công việc, sơ thảo nội dung một bản hợp đồng làm ăn, thậm chí tìm một góc tịnh tâm, trốn nắng, trú mưa trước khi trở về công ty, cơ quan làm việc buổi chiều.

Nhưng “cà phê văn nghệ” có mục đích hẳn hoi và dứt khoát chỉ vào buổi tối khi thành phố lên đèn. Đó là cơ cơ hội hẹn hò của thanh niên nam nữ yêu nhau tìm một nơi chốn lãng mạn, êm đềm để tâm sự, chia sẻ trong một không gian “văn nghệ” mà âm nhạc là đường dẫn tới sự thăng hoa của đôi tâm hồn. Không chỉ có không gian, mà thời cũng luôn song hành cho những phút giây lãng mạn ấy, đó là cảm giác chỉ riêng hai người giữa một đám đông đồng điệu. Chính vì nhu cầu ấy mà những quán cà phê văn nghệ ra đời.

Trước năm 1975 có một số quán cà phê văn nghệ “đình đám” ở Sài Gòn thu hút thanh niêm nam nữ, văn nghệ sĩ tới ngồi bên ly cà phê, thưởng thức văn nghệ với sân khấu nhỏ rất đơn sơ, chỉ là một bục gỗ cao cho ca sĩ đứng hát và người đệm đàn thùng, một chân cắm micro có dây, dàn âm ly và loa khuyếch đại âm thanh.

Những dụng cụ này đặt trong một ngôi quán bên đường khu trung tâm Q1, Q3…với vài chục cái bàn thấp, ghế ngồi chẳng cần trang trí, bày trí hoa hòe hoa sói gì nhiều, đã là một tụ điểm thu hút dân sành điệu tới một không gian cà phê văn nghệ rất lãng mạn, xôm tụ tạo một sinh hoạt rất riêng của Sài Gòn về đêm bên cạnh những nơi giải trí ồn ào khác như vũ trường, quán bar, nhà hàng ăn nhậu mọc ra như nấm ở Sài Gòn thủa ấy.

Quán cà phê “Thằng Bờm”, nằm ở góc đường Nguyễn Thái Học- Phạm Ngũ Lão Q1 của nhóm sinh viên Luật khoa, được coi là quán cà phê văn nghệ dành cho giới sinh viên học sinh, có lẽ là tiền thân của sân khấu “hát với nhau” sau năm 1975. Bởi ngoài các ca sĩ được tăng cường và hai buổi tối cuối tuần thứ bảy – chủ nhật thì ngày thường người tới uống cà phê cao hứng có thể lên hát, chỉ cần viết một mảnh giấy đăng ký bài hát và họ tên đưa cho chủ quán rồi ngồi chờ tới lượt mình được giới thiệu lên “sân khấu”, không hát thì đọc thơ, tự đêm đàn hay nhờ “nhạc sĩ” của quán đệm đàn. Quán “Thằng Bờm” rất nổi tiếng, tồn tại một thời gian khá dài.

Quán cà phê “Hầm gió” nằm trên đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ) cũng thuộc Q1. Quán này của nhóm nhạc trẻ Nam Lộc – Trường Kỳ, bề thế, đẹp hơn quán “Thằng Bờm” rất nhiều. Gọi là “Hầm Gió” vì quán là một cái hầm, không gian khá rộng, chứa được gần 100 người.

Do ở đây văn nghệ mang tính chuyên nghiệp hơn, thường xuyên có các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tới trình diễn, sân khấu cũng “hoành tráng” nên “Hầm Gió”  dịp cuối tuần rất đông khách.

Những cặp đôi ca sĩ-nhạc sĩ của Sài Gòn thời đó bắt đầu nổi lên cũng từ quán cà phê “Hầm Gió”, lúc đó ca sĩ Thanh Lan còn rất trẻ, vừa đi học trường Tây vừa đi hát, cùng với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thành một cặp đôi rất được giới trẻ hâm mộ, thường xuyên xuất hiện ở “Hầm Gió”. Thanh Lan lên sân khấu với bộ áo dài lụa màu trắng hay màu vàng nhạt, vẫn còn nhí nhảnh và hồn nhiên bên cạnh Trầm Tử Thiêng rất “bụi”.

Quán “Cây Tre” của ca sĩ Khánh Ly nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, bên trong con hẻm nhỏ, kế bên sân vận động Hoa Lư cũng thuộc Q1, một thời cũng rất nổi tiếng. Ngoài ca sĩ Khánh Ly, Ngọc Minh (em gái của Khánh Ly), còn xuất hiện nhiều cặp đôi đình đám bấy giờ như Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng.

Nhưng đặc biệt, một quán cà phê ghi đậm dấu ấn một thời cà phê văn nghệ Sài Gòn có lẽ là “Hội quán Văn”, gọi tắt là cà phê Văn, của nhóm sinh viên đại học Văn Khoa, nằm phía sau trường, trên khoảng đất trống khá rộng ở góc đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) – Lê Thánh Tôn Q1. Quán thì rất sơ sài, chỉ là một gian nhà trống, mái tôn, vách cót ép,  bàn thấp, ghế thấp. Nhưng mỗi đêm có hàng trăm thanh niên sinh viên học sinh, văn nghệ sĩ tới uống cà phê, thưởng thức văn nghệ “ngoài trời”.

Chính ở quán cà phê Văn, ca sĩ Khánh Ly từ Đà Lạt xuống kết hợp với Trịnh Công Sơn thành một “cặp đôi hoàn hảo”, đình đảm, tạo thành những đêm nhạc tình ca, phản chiến khuấy động Sài Gòn và từ đó Khánh Ly nổi danh với danh hiệu “ca sĩ chân đất” bởi khi hát với Trịnh Công sơn trên bục gỗ sân khấu ngoài trời quán Văn, có lúc cao hứng Khánh Ly đã lột cả dép đi chân trần trên cỏ. Và ca khúc tạo dấu ấn lúc bấy giờ của Khánh Ly là “Ca khúc da vàng”, “Diễm xưa”, “Hạ trắng”…

Sau năm 1975, một thời gian khá dài, người Sài Gòn cũng trở lại với thói quen uống cà phê cóc mà mở đầu rất sớm là khu vực cà phê cóc hồ Con Rùa Q1. Khu vực này một thời sau năm 1975 có thể nói là khu vực cà phê cóc văn nghệ Sài Gòn vì một số văn nghệ sĩ ra đây mở quán cà phê vỉa hè, sáng mở, chiều tối dọn, chỉ một xe đẩy nhỏ dựng ly tách, bình thủy, vài cái bàn, chục cái ghế, cây đàn thùng…là thành một quán cà phê. Khách tới uống thoải mái, có khi ngồi đồng từ sáng trới trưa, từ trưa tới chiều, bày bàn nhậu tới khuya, đàn hát, ngâm thơ đập bồn, đập bát tới mệt xỉu mới tan hàng.

Sau đó, Sài Gòn nở rộ phong trào mở quán cà phê văn nghệ có sân khấu ca nhạc hằng đêm và tăng cường ca sĩ, tấu hài mỗi tối cuối tuần. Quán cà phê Champa nằm trên đường Nguyễn Thông Q3 là một điển hình, quán rất nổi tiếng và một loạt ca sĩ trẻ, nhóm tấu hài thành danh từ đây. Sau đó tới một loạt các phòng trà như Đồng Dao, Tiếng Tơ Đồng, Thế Kỷ và phòng trà trên lầu cà phê Broda, rồi Phiêu Linh  ở góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Huệ Q1 hoạt động hàng đêm rất nhộn nhịp.

Nhưng dấu ấn quán “cà phê văn nghệ Sài Gòn” mang hơi hướng của những “Văn, Thằng Bờm, hầm Gió” sau năm 1975 có lẽ cà phê Văn Nghệ nằm trên đường Lam Sơn quận Bình Thạnh. Ở đây cũng có những ca sĩ, nóm nhạc nổi lên như : Vinh Hiển, nhóm tam ca Áo Trắng, Ba thế hệ… Và có lẽ còn cái chất cà phê văn nghệ Sài Gòn nhất, dù đã được “nâng cấp” bằng tên gọi phòng trà là cà phê Ân Nam nằm trên đường Trương Định Q1 của ca sĩ Lan Ngọc  hiện vẫn còn hoạt động. Nó cũng là một cái hầm, giống như “Hầm Gió” của Nam Lộc – Trường Kỳ ngày xưa. Chương trình ca nhạc ở đây khá chọn lọc, thu hút giới trung niên muốn tìm lại dư âm của một thời “cà phê văn nghệ Sài Gòn” đã mất. (theo Từ Kế Tường)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỚ ĐÔI NGHỄ SĨ TÀI DANH

VIỆT HÙNG – NGỌC NUÔI

– Soạn giả Nguyễn Phương

Trong những thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước, đôi nghệ sĩ uyên ương Việt Hùng – Ngọc Nuôi lừng danh trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu cải lương. Theo dõi cuộc đời nghệ thuật của Việt Hùng – Ngọc Nuôi, chúng ta có thể phát hiện được những bước thăng trầm của sân khấu cải lương trong 3 thập niên từ 50 đến 70, và ta cũng biết những hoạt động nghệ thuật rất tích cực của giới nghệ sĩ cải lương trong thời điểm vàng son đó.

Anh Việt Hùng tên thật là Nguyễn Hữu Hùng, sanh năm 1923 tại Huế. Anh vào Sàigòn lập nghiệp, làm công chức ở Tòa Hành Chánh Gia Định năm 1946. Anh có giọng ca tốt, là ca sĩ tân nhạc hợp tác với nhạc sĩ Mạnh Phát và các nữ ca sĩ Minh Diệu, Minh Trang, Kim Tước trong Ban Tân nhạc Mạnh Phát trên Đài Phát Thanh Pháp Á.

Thời gian này anh làm quen với ca sĩ cổ nhạc Thành Công, trưởng Ban cổ nhạc, nên anh được ca sĩ Thành Công với các nhạc sĩ Bảy Quới, Hai Khuê, và Tư Hiệu dạy ca nhiều bài bản cổ nhạc. Trong hai năm 1947 – 1948, Việt Hùng nổi danh ca sĩ tân lẫn cổ nhạc, cùng thời với các danh ca làng dĩa nhựa và đài Phát Thanh như các ca sĩ Chín Sớm, Chiêu Anh, Thành Công, Sáu Thoàng, cô Ngọc Ánh, Cô Năm Cần Thơ.

Người vợ thứ nhứt của anh Việt Hùng là một nữ y tá trẻ đẹp của nhà thương Đồn Đất Sài gòn (nhà thương Grall) ở với anh có được một con trai. Người con trai đó hiện giờ định cư tại Nam Cali.

Bước ngoặc định mệnh: bỏ nhiệm sở, bỏ gia đình vì mê đào hát !

Năm 1948, gánh hát Thỉ Phát Huê về hát ở rạp Thành Xương (tức rạp chiếu bóng Diên Hồng xưa, ở góc Yersin – Phạm Ngũ Lão , Q1). Hai cô đào xuân sắc nhứt của gánh hát là cô Kim Nên (thân mẫu của ca sĩ tân nhạc Thái Châu) và cô Ngọc Nuôi, cả hai cô đều ca hay, đẹp sắc sảo, được nhiều khán giả ái mộ nên gánh hát Thỉ Phát Huê, đêm hát nào, khán giả cũng vào xem nghẹt rạp.

Kim Nên là em ruột của cô Năm Cần Thơ nên cô Năm Cần Thơ đưa các bạn ca sĩ cùng làm chung ở Đài Phát Thanh Pháp Á đến xem hát. Dịp này, ca sĩ Chiêu Anh si mê đào Kim Nên, ca sĩ Việt Hùng si mê đào Ngọc Nuôi. Khi gánh hát Thỉ Phát Huê hết hát ở rạp Thành Xương, dọn đi hát ở các tỉnh miền Tây thì Việt Hùng bỏ sở làm ở Tòa Hành Chánh Gia Định, Chiêu Anh nguyên là phát thanh viên của Đài Pháp Á, cũng bỏ sở làm.

Hai anh theo gánh Thỉ Phát Huê để học làm kép hát, hai anh bị “tiếng sét ái tình” làm cho mê man đầu óc, dám bỏ tất cả để bắt đầu làm một cuộc đời mới. Kết quả là Kim Nên sánh duyên cùng ca sĩ Chiêu Anh. Chiêu Anh không trở thành kép hát được mặc dù anh cao ráo, đẹp trai. Anh trở thành soạn giả, viết nhiều bài ca cổ nhạc cho Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Phát Á. Anh cũng viết vọng cổ thu dĩa cho các hãng dĩa Pathé, Asia, Hoành Sơn…

Việt Hùng thành hôn với Ngọc Nuôi, anh trở thành kép chánh của đoàn hát Thỉ Phát Huê. Sau đó, Việt Hùng và Ngọc Nuôi về hát cho đoàn Tân Thiếu Niên. Việt Hùng và Ngọc Nuôi tuy là đào kép chánh của hai gánh Thỉ Phát Huê và Tân Thiếu Niên nhưng chưa thật sự nổi tiếng. Báo chí thời đó chưa có trang kịch trường để quảng cáo, lăng xê đào kép. Hai đoàn hát đó là trung ban, hát lưu diễn ở các tỉnh nhỏ nhiều hơn là hát ở Sàigòn, vì vậy khán giả ít biết đến tên tuổi của diễn viên.

Sáng chói trên sân khấu Hoa Sen

Nghệ sĩ Bảy Cao thành lập đoàn hát Hoa Sen năm 1952 với thành phần diễn viên, bên nam, có Bảy Cao, Việt Hùng, Bửu Tài, Ba Khuê, Ba Túy… dàn đào có các cô Kim Luông, Ngọc Nuôi, Ái Hữu, Cẩm Vân, Lệ Út. . . Đoàn Hoa Sen ăn khách nhờ mấy tuồng chiến tranh : Đoàn Chim Sắt, Nợ Núi Sông, Mộng Hòa Bình, Vàng Rơi Sông Lệ, Chiếc Áo Mùa Đông…

Việt Hùng cao lớn, lực lưỡng nên khi thủ vai sĩ quan trên chiến trường máu lửa thì trông rất oai phong. Tiếng hát của anh, khi nói lối hay đối thoại thì hơi nhừa nhựa, nhưng lại phù hợp với những vai sĩ quan tình báo, nói năng có vẻ bí mật, hăm dọa đối phương. Anh ca vọng cổ, tiếng rất khỏe, tiếng ngân ơ. . .ơ. . . cuối câu, được anh ngân đổ hột, khán giả thích thú khi khám phá ra một lối “ca nói”, khác hẳn các lối ca với giọng ngọt mùi của Bảy Cao, Năm Nghĩa.

Ngọc Nuôi ca rất lớn tiếng, nghe ngọt lịm. Cô vô xàng xê nghe hấp dẫn không thua gì vua xàng xê Minh Chí.

Ngọc Nuôi ca bài bản nào cũng hay, sắc vóc Ngọc Nuôi rất đẹp khi cô mặc bộ quân phục trong tuồng chiến tranh. Khi mặc y phục thường, bộ bà ba, chiếc áo dài hay bộ đồ đầm, Ngọc Nuôi thể hiện một thiếu nữ kiều diễm, duyên dáng. Sắc đẹp, giọng ca ngâm, lối diễn xuất tế nhị, là những tài sản trời cho, Ngọc Nuôi sáng chói trên sân khấu Hoa Sen, dù những giọng ca vàng của các cô đào Kim Luông, Lệ Út, Ái Hữu, vẫn không làm sao làm lu mờ hào quang rực rỡ của Ngọc Nuôi.

Năm 1954, vừa dứt chiến tranh Việt Pháp, dân chúng làm ăn phát đạt, nên có nhiều gánh hát mới được thành lập để đáp lại nhu cầu giải trí của dân Sài gòn và lục tỉnh. Vì nhiều đoàn hát mới thành lập nên có tình trạng “mua đào, bán kép”. Bầu Sinh, môn đệ của soạn giả Mộng Vân (đồng môn với Bảy Cao và Năm Nghĩa), lập gánh hát Hương Hoa, mời Việt Hùng – Ngọc Nuôi về hát với số tiền contrat bạc triệu, lương lớn gấp đôi số lương cũ ở đoàn Hoa Sen.

Về hát cho gánh Hương Hoa, Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng hát những tuồng chiến tranh : Khúc Nhạc Ly Hương, Việt Kiều Trên Đất Khách. Cả hai đóng vai chánh, Việt Hùng hào hoa phong nhã trong bộ quân phục sĩ quan, Ngọc Nuôi rất sang, rất đẹp trong vai cô nữ tình báo của địch quân. Tuy tuồng cũ, nhân vật không có gì mới, nhưng khán giả dễ dãi, xem hát mua vui nên các gánh hát lúc nào cũng bán hết vé.

Bắt đầu một thời hoàng kim, các nghệ sĩ đua nhau sắm xe hơi. Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng không ngoại lệ, mua nhà mới, sắm xe hơi mới. Vậy là chấm dứt cái thời đào kép hát phải “ăn quán, ngủ đình”!

Bà Ba Khan, người chủ nợ của Bầu Sinh và là chị ruột của hai diễn viên trẻ: Hương Sắc và Hương Huyền muốn tạo cơ hội cho hai em của mình thăng tiến trên con đường nghệ thuật nên xuất vốn lập ra gánh hát lấy bảng hiệu là gánh Việt Hùng – Minh Chí. Tất nhiên là Việt Hùng – Ngọc Nuôi ký hợp đồng mới, với số tiền lớn hơn, lương cao hơn, nhiều điều kiện phụ hấp dẩn hơn để rồi bỏ Bầu Sinh của gánh Hương Hoa, về làm chủ (trên danh nghĩa thôi) gánh Việt Hùng – Minh Chí.

Gánh hát Việt Hùng – Minh Chí bỏ tuồng chiến tranh, hát những vở tuồng của các soạn giả thế hệ thứ hai trong làng soạn kịch là Mộc Linh, Lê Khanh. Tuồng khai trương của gánh Việt Hùng – Minh Chí là vở tình sử Việt Nam “Đường lên xứ Thái” của soạn giả Mộc Linh. Lời văn chải chuốt, cốt truyện trữ tình, một thể loại sân khấu thi, ca, vũ, nhạc, mới lạ nên sức thu hút khán giả rất mãnh liệt.

Việt Hùng trong vai người chiến sĩ Việt Nam, bị thương, đi lạc trong khu rừng già của xứ Thái, được một sơn nữ (do Ngọc Nuôi thủ diễn) cứu, trị thương. Mối tình giữa người Kinh và người sơn nữ thơ mộng, đẹp tình, đẹp ý, gợi lại những cuộc tình dang dở trong chiến tranh, đã làm rơi lệ biết bao khán giả. Việt Hùng và Ngọc Nuôi sáng chói nhờ tài ca, diễn thật hay, lột tả được tính cách nhân vật một cách sâu sắc. Ngọc Nuôi còn có cơ hội thi triển làn hơi phong phú, ngọt ngào của cô qua các lối ngâm thơ mới, các bài Sương Chiều, Tú Anh, là những bài mà người có hơi trong, ngọt, mặc tình uốn lượn, luyến láy để dẫn dắt cảm quan của người nghe. Vở thứ hai ghi đậm sự thành công của Việt Hùng – Ngọc Nuôi về diễn các thể loại dã sử, cổ tích Việt Nam là vở “Người Đẹp Bán Tơ “của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhiều đoạn thơ hay của Kiên Giang được giọng ngâm thơ mượt mà, êm như nhung, như gấm của Ngọc Nuôi, làm tăng thêm giá trị vở tuồng và tăng thêm sức thu hút khán giả, đồng thời làm tăng thêm hào quang đã sẵn sáng chói của Ngọc Nuôi. Đáng lẽ ra gánh hát Việt Hùng – Minh Chí có thể vững vàng và phát triển thêm ở cái cương vị một Đại Ban, vì khán giả rất đông, tuồng tích hay, đào kép đẹp, ca, ngâm, diễn xuất rất hấp dẫn, nhưng chỉ hai năm sau từ ngày thành lập, gánh Việt Hùng – Minh Chí phải tan rã! Nghệ sĩ Minh Chí tách riêng ra lập gánh hát Minh Chí. Việt Hùng Ngọc Nuôi gia nhập đoàn hát Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa.

Vai tuồng để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi

Tôi (Nguyễn Phương) có cộng tác chung với anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trong Đoàn Thanh Minh, rồi Thanh Minh Thanh Nga trong nhiều năm, tôi biết anh Việt Hùng có nhiều vai hát rất hay, được khán giả và báo chí ngợi khen, nhưng chỉ có vai hát Cậu Ấm Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân là anh được coi như đó là vai hát để đời của anh.

Trong thập niên 1955 đến năm 1965, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được kể là một đoàn hát mạnh nhứt vì đoàn tập trung được những diễn viên thượng thặng của sân khấu cải lương, đoàn cũng có nhiều soạn giả thường trực nên có nhiều tuồng hay tích lạ.

Về diễn viên tài ba, bên kép có Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được,Việt Hùng, Hoàng Giang, Văn Ngà, Ba Xây, Minh Tấn, Minh Điển, Vinh Sang, Hề Châu Hí, Hề Kim Quang, Hề Núi, và có anh Năm Châu, chị Kim Cúc, Ba Vân, Phùng Há, Năm Sadec về cộng tác với Đoàn trong vài năm. Về phía đào, có Út Bạch Lan, Ngọc Nuôi, Thu Ba, Ngọc Giàu, Kim Giác, Thanh Nga, Hoàng Vân, Thanh Hiền, Thanh Lệ, Ngọc Chúng…

Giữa những diễn viên mà tên tuổi lẫy lừng như kể trên, Việt Hùng – Ngọc Nuôi phải có tài nghệ khác thường mới đứng vững nổi trong Đoàn. Anh Việt Hùng nhờ sắc vóc cao lớn, vẻ hào hoa phong nhã nên thành công dể dàng qua các vai dũng sĩ tuồng dã sử như Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Người Về Từ Cửa Biển, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo gấm khôi Nguyên… Ngọc Nuôi sáng, đẹp, đua tài khoe sắc với các nữ diễn viên như nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, sầu nữ Út Bạch Lan, Thu Ba hay giọng ca vàng Ngọc Giàu.

Đoàn Thanh Minh Thanh Nga diễn những vở ca kịch xã hội thì Việt Hùng xuất sắc qua vai chú ba Tài Xế, chồng của chị hai Bếp (Ngọc Nuôi) mẹ của Thanh (Thanh Nga) trong tuồng Con Gái Chị Hằng, Ngọc Nuôi thành công qua các vai mẹ trong các tuồng Tấm Lòng của Biển, Bóng Chim Tăm Cá, Bọt Biển, Con Gái Chị Hằng, Chén trà của quỷ, Bên Cầu đệt lụa…

Nhưng vai hát để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi lại hoàn toàn trái với hình tượng mà lâu nay khán giả nghĩ về hai tài danh sân khấu này, đó là vai Thân và vai Bích trong tuồng Đoạn Tuyệt.

Việt Hùng thường đóng vai tráng sĩ, dũng tướng, kép đẹp trai thì nay vào vai Thân, một cậu ấm ngốc nghếch, ngu si, sợ vợ. Vai Thân diễn xuất đi đứng chậm chạm, nói năng nhừa nhựa, không dám nhìn thẳng vào mặt Loan, dù Loan rất dịu hiền. Thật là lối diễn hoàn toàn khác với cung cách xưa nay của Việt Hùng, không ngờ cách ca diễn như vậy lại đạt được sự thành công quá sức tưởng tượng. Nhờ cách diễn đó mà tăng thêm phần quái ác của bà mẹ chồng, bà Phán Lợi (do bà Năm Sadec diễn) và cô em chồng đanh đá Bích (do Ngọc Nuôi diễn). Trong dàn bao của ba tài danh Việt Hùng (Thân), Ngọc Nuôi (Bích) Bà Năm Sadec (Mẹ chồng) Thanh Nga (trong vai Loan) diễn xuất thương cảm nhất, sáng chói nhất trong loại hình sân khấu xã hội Việt Nam trong những thập niên 1960, 1970.

Ngọc Nuôi trong những thập niên này, nổi danh qua các vai Mẹ Hiền (Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển , Bọt Biển,… ) vụt sáng chói qua vai Bích, đứa em chồng đanh đá. Điều đó khẳng định là tuổi tác của diễn viên không mấy ảnh hưởng tới vai diễn. Tới tuổi gần năm mươi, Ngọc Nuôi vẫn thành công dễ dàng trong một vai tuồng của cô gái 18 tuổi.

Khi sân khấu đổi màu

Khi biến cố 1975 xảy ra, Việt Hùng cùng ba con : Ngọc Quý, Tài và Xinh trong Ban nhạc Crazy Dogs biểu diễn trong một Club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhứt, được phi cơ Mỹ bốc đi di tản ngay. Anh không thể về đón Ngọc Nuôi và ba con còn ở lại là nữ ca sĩ tài danh Ngọc Bích, Năng và một người con trai nữa, tôi bỗng quên tên.

Đến Hoa Kỳ, Việt Hùng nghĩ ngay tới việc hoạt động trở lại của ngành sân khấu cải lương ở hải ngoại. Anh cùng nhạc sĩ Tám Trí chủ trương chương trình Thanh âm trìu mến trên đài Little Saigon, đào tạo các thế hệ diễn viên trẻ: Thu Hồng, Vương Kiệt, Thanh Huyền.

Khi các diễn viên cải lương Kim Tuyến, Ngọc Đan Thanh, Linh Tuấn. Hương Huyền, Thành Được, Dũng Thanh Lâm vượt biên sang tới Mỹ thì chính anh Việt Hùng và các nhạc sĩ Chí Tâm, Văn Hoàng, Tám Trí làm chất keo, gắn những người yêu nghề, cùng số phận, dưới ánh đèn sân khấu cải lương hải ngoại. Anh Việt Hùng đã thực hiện được những băng vidéo cải lương Tiếng Hạc Trong Trăng, Nửa Đời Hương Phấn, Lan và Điệp.

Anh cũng có mặt trong các cuộc hội họp có đông người Việt định cư ở Hải ngoại để ca vọng cổ, hát cải lương. Anh đã cùng Trần Văn Trạch đến hát giúp vui cho đồng bào trong trại tỵ nạn tại Palavan.

Ngày 27 tháng 7 năm 2001, lễ kỷ niệm Việt Hùng 80 tuổi đời, 60 năm tuổi nghề, tôi từ Montréal qua dự, tôi có quay đoạn phim Việt Hùng phát biểu và ca hai câu vọng cổ. Tiếng vẫn còn sang sảng, làn hơi vọng cổ vẫn còn âm hưởng của những ngày trong tuổi thanh xuân. Vậy mà đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, Việt Hùng từ giã cõi đời đau khổ này để về Thiên Trúc với pháp danh là Minh Chánh.

Ngọc Nuôi sau 1975, hát trên sân khấu Thanh Nga, cũng các vai cũ trong Tấm Lòng Của Biển, Bên Cầu Dệt Lụa và vào vai nữ tướng Lê Chân trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh rồi từ giã ánh đèn sân khấu, chờ Việt Hùng và các con làm giấy bảo lãnh đi sum họp gia đình theo diện ODP. Thời gian này nhờ danh ca Ngọc Bích (con gái đầu lòng) nổi danh trong nhiều chương trình ca nhạc nên Ngọc Nuôi và gia đình còn ở lại Việt Nam sống cũng khá sung túc.

Việt Hùng khi qua Mỹ, ngày trở về quê hương xa lắc xa lơ, ngày sum họp vợ con ở Việt Nam cũng mù mờ không biết đến bao giờ mới được, nên bước thêm một bước nữa với bà Gia Mỹ, người vợ chót của anh.

Ngọc Nuôi được bảo lãnh qua Mỹ thì Việt Hùng đã sang thuyền khác, Ngọc Nuôi bơ vơ. Đôi uyên ương sân khấu đã lẻ bạn vì thời cuộc, tan vỡ vì nghịch cảnh. Đau lòng cho người trong cuộc mà cũng đau lòng cho những bạn bè đã yêu thương họ..

Ngọc Nuôi mất ngày 23 tháng 9 năm 2002, gần một năm sau khi Việt Hùng ra đi vĩnh viễn. Không biết Ngọc Nuôi có rượt đuổi theo kịp Việt Hùng để gặp lại nhau, nối tiếp cuộc tình dang dở bên kia thế giới hay vẫn chịu cảnh trễ đò, trễ xe như ở kiếp này trên chốn dương trần.

Là người bạn lâu năm của anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, tôi van vái Phật Trời cho hai anh chị gặp lại nhau, yêu nhau và làm thành một đôi vợ chồng hạnh phúc trên chốn Thiên Đình.

Tôi tin Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Kim Quang sẽ gặp lại Thanh Nga và Năm Nghĩa, Bà Bầu Thơ họp lại nhau, lập gánh hát Thanh Nga trên chốn Thiên Đình, hát cải lương cho Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư tiên xem. Thương nhớ Việt Hùng và Ngọc Nuôi.  (Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

ĐỜI CHÌM NỔI CỦA 3 “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI

CỦA “MỸ NHÂN” SÀI GÒN XƯA

Được xếp vào danh sách “Tứ đại mỹ nhân”, cuộc đời của những “biểu tượng nhan sắc” một thời ở Sài Gòn những năm thập niên 60 – 70 cũng đổi thay theo năm tháng

1/- Thẩm Thúy Hằng : Nổi lên từ vai diễn Tam Nương trong phim “Người đẹp Bình Dương”, Thẩm Thúy Hằng mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng. Bà cũng được coi là biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung.

Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Bà sinh năm 1941 tại Hải Phòng, lớn lên tại An Giang, sau đó khởi nghiệp với vai diễn đầu tiên năm 1958 với hãng phim Mỹ Vân. Ngay sau đó, vai diễn đã giúp bà vụt sáng trở thành minh tinh châu Á suốt những thập kỷ 60 – 70.

Với nhan sắc mặn mà cùng lối diễn xuất tài hoa, Thẩm Thúy Hằng liên tiếp nhận được giải thưởng tại các liên hoan phim lớn tại nước ngoài như LHP Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong LHP Á Châu tổ chức tại Hong Kong và Đài Loan năm 1972 – 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại LHP Mátxcơva và Tasken tại Liên Xô năm 1982…

Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng phim mà còn đóng kịch (Giám đốc đoàn kịch nói Bông Hồng) và cũng khá nổi tiếng trên sân khấu kể cả trước và sau giải phóng. Là một mỹ nhân, lại là người nổi tiếng suốt mấy thập niên, nhưng

Thẩm Thúy Hằng ở tuổi xế chiều có cuộc sống hoàn toàn khép kín. Bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài. Cuộc đời của một “minh tinh màn bạc”, một phụ nữ “sắc nước hương trời”, sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã kết thúc với số phận nghiệt ngã.

Những năm tháng cuối cùng này đối với “Nữ hoàng nhan sắc” quả thật là tột cùng của sự đau khổ. Bà đã trải qua nhiều cuộc giải phẫu lớn nhỏ và sử dụng phương pháp tiêm botox thường xuyên để chống chọi với sự tàn phá của hóa chất trong cơ thể. Nhưng dù cố gắng hết sức, bằng mọi phương pháp kéo dài thời gian nhưng rồi “Người đẹp Bình Dương” lộng lẫy một thời cũng phải chấp nhận sự thật: tất cả những gì đẹp đẽ, lộng lẫy trước đây đã bị đào thải, gương mặt bà biến dạng từng ngày.

Phu quân là tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh,trước 1975 là Thống Đốc ngân hàng say 1975 là tư vấn khối tài chánh cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt xưa. Nay ông đã qua đời !

2/- Kiều Chinh : Minh tinh Kiều Chinh là một trong những diễn viên đầu tiên của điện ảnh miền Nam Việt Nam, là diễn viên Việt đầu tiên thành công ở Hollywood. Gắn bó với nghề diễn xuất trong hơn 50 năm qua, bà có một sự nghiệp huy hoàng mà cho tới nay cũng có ít diễn viên người Việt nào có được.

Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Kiều Chinh. Bà sinh ngày 3/9/1937 trong một gia đình khá giả tại Hà Nội. Do mẹ mất sớm nên Kiều Chinh được bố rất mực cưng chiều. Năm 1954, bố con Kiều Chinh bị thất lạc nhau. 17 tuổi, bà một mình vào Nam. Năm 20 tuổi, bà bén duyên điện ảnh với vai ni cô trong bộ phim “Hồi chuông Thiên Mụ”. Trước đó, bà đã được các nhà làm phim Mỹ mời tham gia đóng vai Phượng trong bộ phim “Người Mỹ trầm lặng”. Tuy nhiên, do người thân không đồng ý nên bà buộc lòng phải từ chối.

Sau “Hồi chuông Thiên Mụ”, Kiều Chinh tham gia hàng loạt các bộ phim của các đạo diễn Việt Nam cũng như đạo diễn các nước Châu Á như: Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Singapore. Bà cũng vinh dự trở thành một trong những diễn viên Việt đầu tiên được các nhà làm phim Hoa Kỳ chú ý. Bà tham gia các phim như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Đặc biệt, trong phim Devil Within, Kiều Chinh được vượt qua hàng loạt những gương mặt xinh đẹp và nổi tiếng khác để vào vai Công chúa Ấn Độ.

Sau năm 1975, Kiều Chinh cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại Canada. Năm 38 tuổi, Kiều Chinh được bảo lãnh qua Mỹ và bà quyết định quay trở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu từ con số 0 và Hollywood vốn là mảnh đất cực kỳ khắc nghiệt đối với những diễn viên, đặc biệt là những diễn viên gốc Á.

Tính tới thời điểm hiện tại, bà đã có mặt trong 100 bộ phim và chương trình truyền hình của Mỹ. Trong đó có những bộ phim nổi tiếng như “The Letter” (1986), “Welcome Home (1989), “Vietnam-Texas” (1989), “What Cooking” (2000), “Face” (2001), “Journey from The Fall” (2004). Với vai diễn trong phim “Joy Luck Club”, Kiều Chinh lọt vào danh sách 50 diễn viên làm khán giả khóc nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh.

Hiện, Kiều Chinh đang định cư ở Mỹ nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm quê hương. Không chỉ là một phụ nữ hướng về cội nguồn mà bà còn là người đóng góp rất lớn cho một tổ chức từ thiện gồm một số người bạn nước ngoài của bà để xây dựng gần 50 trường học ở Việt Nam.

Gặp gỡ nữ tài tử Kiều Chinh : https://youtu.be/pcdqum6WPCo

Phu quân là Nguyễn Năng Tế, trung tá phụ trách Phòng không kh6ng quân, thời Chủ tịch Ủy  Ban Hành Pháp Trung Ương : Nguyễn Cao Kỳ

3/- Kim Cương : Kim Cương (sinh năm 1937), con gái thứ 3 của NS Bảy Nam, là bầu gánh Đại Phước Cương. Kim Cương được mệnh danh là “kỳ nữ” do tài năng diễn xuất sân khấu, đoạt rất nhiều giải thưởng sân khấu và điện ảnh; tác giả của 70 kịch bản, đạt kỷ lục người viết kịch nói nhiều nhất Việt Nam.

Kim Cương vốn là người bạn thân thiết lâu năm với Thẩm Thúy Hằng. Mặc dù tỏa sáng trên con đường nghệ thuật gần như cùng thời điểm nhưng có thể nói, con đường mà Kim Cương trải qua cũng gặp không ít gian truân. Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời, có mẹ là cố NS Bảy Nam nên Kim Cương cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã theo gia đình để mưu sinh bằng nghề diễn.

Khác với người bạn thân Thẩm Thúy Hằng, tên tuổi Kim Cương lại gắn liền với sân khấu kịch nói hơn là điện ảnh, mặc dù bà cũng tham gia đóng phim không ít. Rất nhiều vai diễn để đời của bà là những nhân vật đã từng lấy nước mắt của đông đảo khán giả nhiều thế hệ. Trong số đó, có phần lớn các tác phẩm do chính Kim Cương viết kịch bản.

Hơn 10 năm qua, trở thành phó chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, bà dốc hết sức mình đôn đáo chạy lo kinh phí hằng tháng cho trường dạy nghề dành cho người khuyết tật và kinh phí ăn học cho bao nhiêu trẻ mồ côi.

Phu quân là Trần Trọng Thức cựu biên tập viên báo Tuổi Trẻ. Theo tin thì bà đã ly dị chồng.

Lan Hương chuyển tiếp

NGUỒN GỐC CA KHÚC MỘNG DƯỚI HOA

– Phạm Anh Dũng

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…”

Bài hát nổi tiếng “Mộng Dưới Hoa” được biết, theo các bài nhạc và tập nhạc in trong quá khứ, là nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Đinh Hùng. Sự thật không đúng hoàn toàn như vây. Có vài tên riêng như “Mộng Dưới Hoa”, “Dưới Hoa Thiên Lý”, “Tự Tình Dưới Hoa” và “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có liên hệ đến bài nhạc .

1/. Mộng Dưới Hoa : “Mộng Dưới Hoa” là nhạc Phạm Đình Chương phổ vào bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng hay không ? Không đúng vậy vì không có bài thơ nào của Đinh Hùng tên là “Mộng Dưới Hoa” cả.

2/. Dưới Hoa Thiên Lý : Trong tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, ngay dưới nhạc phẩm “Mộng Dưới Hoa”, tác giả Phạm Đình Chương có viết: “…Viết Mộng Dưới Hoa năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề “Dưới Hoa Thiên Lý…”.

Thật ra, không thấy bài thơ nào của Đinh Hùng có tên là “Dưới Hoa Thiên Lý”.
Không biết vì sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương lại quên và viết như vậy ?

3/.Tình Tự Dưới Hoa : Có phải “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc phổ vào bài thơ “Tình Tự Dưới Hoa” của Đinh Hùng ? Không đúng hòa toàn

“Tình Tự Dưới Hoa” một bài thơ 7 chữ có trong tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng và chính từ bài này có bản nhạc “Mộng Dưới Hoa”. Tuy là ý bài hát dựa nhiều vài bài thơ nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ đã phổ thành nhạc. Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ:

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng”

và đoạn thứ ba của bài thơ:

“Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi”

4/. Xuôi Dòng Mộng Ảo : Một đoạn trong bài thơ 6 chữ này của Đinh Hùng được phổ nhạc và cho vào bài “Mộng Dưới Hoa”. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” là một bài thơ, cũng ở trong thi tập “Đường Vào Tình Sử ” của Đinh Hùng. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm có trong bài hát “Mộng Dưới Hoa” làm thành điệp khúc của bài hát:

“Nếu bước chân ngà có mỏi

Xin em dựa xát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối”

Nếu xem kỹ bài hát “Mộng Dưới Hoa” ở cuối bài viết này, sẽ thấy đa số lời của bài “Mộng Dưới Hoa”, nghĩa là đoạn kết (đoạn thứ tư) và toàn bộ Lời 2, không có trong bài thơ nào cả của thi sĩ Đinh Hùng.

Tóm lại, “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc có lời với một phần gồm hai đoạn thơ từ bài thơ 7 chữ “Tự Tình Dưới Hoa”, một phần gồm một đoạn thơ từ bài thơ 6 chữ “Xuôi Dòng Mộng Ảo” và phần lớn không có xuất xứ rõ ràng.

Hầu như chắc chắn Đinh Hùng đã viết cái “phần lớn” đó sau khi Phạm Đình Chương đã viết nhạc vào thơ cho ba đoạn đầu của bài hát.

Ở cuối quyển “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, có trích lời nhạc sĩ Vũ Thành : “Mộng Dưới Hoa” còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó… Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.”

Hãy xem thử một câu “Tâm tư khép mở đôi tà áo” đổi thành “Áo bay mở khép nghìn tâm sự”, thì sẽ thấy ngay là bài hát đâu có còn “vẫn giữ bằng trắc của từng chữ” nữa. Công bằng mà nói những chữ của thơ dùng vào bài nhạc đại đa số cũng vẫn giữ đúng vần bằng trắc của thơ thật nhưng không thể nói là “…từng chữ…”

Và có thể cố nhạc sĩ Vũ Thành, vì một lý do nào đó, tưởng lầm bài nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa chỉ là nhạc phổ vào nguyên thủy của một bài thơ ?  Tuy nhiên, phải công nhận là Phạm Đình Chương viết nhạc rất khéo léo và lời viết của Đinh Hùng dù là thơ hay không thơ cũng rất… thơ.

Với tên tuổi lẫy lừng của thi và nhạc sĩ Đinh Hùng – Phạm Đình Chương, bài nhạc hay mà lại dễ hát đã thành trở thành một trong những bài nhạc có thể nói phổ thông nhất của Tình Ca Việt Nam.

MỘNG DƯỚI HOA

(nhạc Phạm Đình Chương – thơ/lời Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ

Mây ngàn gió núi đọng trên mi

Áo bay mở khép nghìn tâm sự

Hò hẹn lâu rồi em nói đi

Nếu bước chân ngàn có mỏi

Xin em dựa sát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối

Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu

Đêm nào nghe bước mộng trôi mau

Gió ơi gởi gió lời tâm niệm.

Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em, mơ những chốn nào

Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao

Sánh vai một mái lầu phong nguyệt

Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao

Hy vọng thơm như má chớm đào

Anh chờ em tới hẹn chiêm bao

Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng

Hoa lệ ân tình môi khát khao

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ

Bao nhiêu mộng ước phù du

Ta say thành mộng nghìn thu

Núi biếc sông dài ghi nhớ

Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

Mây hồng giăng tám ngã sơn khê

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

Và mộng em cười như giấc mê

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

(Thơ Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,

Nửa như hoài vọng, nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Thương hàng gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo,

Hò hẹn lâu rồi — Em nói đi

Em muốn đôi ta mộng chốn nào

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

Nắng trong hoa, với gió ven hồ

Dành riêng em đấỵ Khi tình tự,

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười

XUÔI DÒNG MỘNG ẢO

Chim hồng về khu rừng cũ,

Xuân ấy hai lòng mới yêu .

Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều,

Nắng thơm những chiều tình tự .

Xin em ngồi trên nhung cỏ,

Nghe suối ca vui nhịp nhàng.

Anh ru cho hồn em ngủ,

Bằng điệu ca sang dịu dàng.

Chim xanh về khu rừng cũ,

Hè tới, hai lòng còn yêu .

Cỏ thơm mọc đã cao nhiều,

Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ!

Nếu bước chân ngà có mỏi,

xin em dựa sát lòng anh.

Ta đi vào tận rừng xanh,

Vớt cánh rong vàng bên suối.

Lá đỏ rơi trong rừng cũ,

Thu về, hai lòng còn yêu.

Đường tình trải một làn rêu,

Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự.

Em có lên sườn núi biếc,

Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.

Này đôi nai vàng xa nhau,

Có tiếng gọi sầu thảm thiết.

Chim buồn xa khu rừng cũ,

Đồi núi trập trùng cỏ rêu.

Hai lòng nay đã thôi yêu,

Có tiếng suối chiều nức nở.

Em không nghe mùa thu hết ?

Em không xem nắng thu tàn ?

Trời ơi! Giọt lệ này tan,

Là lúc linh hồn anh chết !

– Tiếng hát : Vũ Khanh :   https://youtu.be/j_V0OyLWtqk

– Tuần Ngọc : https://www.youtube.com/watch?v=S5e5mwDYvaU

Sang Huỳnh chuyển tiếp

 

MỘT THOÁNG SAIGON

MỘT THOÁNG SAIGON

https://youtu.be/8ZHRDd-UVBc

Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ tiểu học lên đại học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông.

Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm.

Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe.

Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca :

“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng ?

Tà áo em bay theo giọt nắng vàng

Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm

Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng

Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối

Hai đứa bên nhau âu yếm không rời

Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi

Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi

Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn

Mai anh đi rồi còn nhớ em không?

Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi

Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi

Sài gòn bây giờ có buồn không em?

Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm

Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ

Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”

(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ của Võ Tá Hân, Trần Ngọc)

Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…

Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương.

Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa chạy về hướng bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,…  Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,…

Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,…

Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”,  hoặc “Saigonese”.

Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do  xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…

Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã  là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam.

Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…

Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.

Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.

Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…

Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ  nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình.

Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.

Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…

Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.

“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ ?

Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa :

Nhớ quá Sàigòn của thuở xưa

Ta từ Bưu Điện bước ngang qua

Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng

Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa

Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa

Gọi thầm khe khẽ tên ai đó

Đất khách trong lòng đang đổ mưa.”

 (Lê Sáng chuyển bài Việt Hải)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG ĐẤT NƯỚC CÓ NHIỀU

NGƯỜI ĐẸP NHẤT CHÂU Á

Phụ nữ ở đâu cũng đều xinh đẹp, nhưng tại các quốc gia này tỉ lệ bắt gặp những mỹ nhân thường cao hơn.

Tờ The Toptens đã mở ra một cuộc bình chọn để tìm ra những quốc gia nào ở châu Á sở hữu nhiều người đẹp tự nhiên nhất thông qua sự bình chọn của cư dân mạng. Tới hiện tại, cuộc bình chọn đã nhận được hơn 9000 lượt vote với vô vàn bình luận của độc giả để cùng nhau tìm ra 10 quốc gia may mắn sở hữu nhiều cô gái xinh đẹp tự nhiên nhất trong tổng số 42 quốc gia được đề cử.

1/. Philippines : Chiếm 20% trong tổng số lượt bình chọn đã giúp Philippines bứt phá, vươn lên dẫn đầu trong cuộc đua. Những năm gần đây, Philippines dần trở thành “cường quốc hoa hậu” với nhiều cái tên lần lượt lên ngôi ở các cuộc thi sắc đẹp đình đám thế giới. Thậm chí, ở đất nước này có cả một ngành công nghiệp chuyên đào tạo hoa hậu, giúp các cô gái có được phong thái quyến rũ, bước đi uyển chuyển hút hồn. Vẻ đẹp Philippines thường là sự hòa trộn giữa nét đẹp phương Đông và dòng máu phương Tây, toát lên sự sexy, khỏe khoắn.

H1: Mỹ nhân đẹp nhất Philippines giành số phiếu bình chọn nhiều nhất.

2/. Nhật Bản : Các cô gái xứ Phù Tang sở hữu vẻ đẹp tự nhiên rất riêng, vừa ngây thơ lại vừa quyến rũ. Rất nhiều người đẹp Nhật được xem là biểu tượng sắc đẹp, “thánh nữ” trong mắt mày râu như Kitagawa Keiko, Nozomi Sasaki, Misaki Ito, Reon Kadena… Ở Nhật cũng có rất nhiều cô gái lai với gương mặt đáng yêu như búp bê. Đa số những lời bình luận đều ca ngợi không chỉ vẻ đẹp ngoại hình mà còn cả tài năng của con gái Nhật Bản.

H2: Nhắc đến những mỹ nhân đẹp nhất Nhật Bản thì không thể không nhắc Kitagawa Keiko.

3/. Trung Quốc : Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới Trung Hoa khi thống kê những quốc gia sản sinh ra những nữ thần sắc đẹp tự nhiên. Vẻ đẹp của phụ nữ Trung Quốc là vẻ đẹp đậm chất truyền thống với các đường nét nhỏ nhắn, yêu kiều. Trong khi phái đẹp Hàn, Nhật thường toát lên nét đẹp dễ thương thì con gái Trung lại đẹp kiểu thùy mị, trưởng thành. Con gái Trung cũng rất thích để tóc đen cổ điển.

Vị trí thứ 4 trong BXH của Trung Quốc có vẻ khiến nhiều người không đồng tình, mà kì vọng ở một vị trí cao hơn:

H3: Lưu Diệc Phi à một trong những nhan sắc không tuổi được ngưỡng mộ nhất xứ Trung.

4/. Hàn Quốc : Làng giải trí xứ Hàn luôn ngập tràn các mỹ nhân sở hữu vẻ mặt thiên thần khiến các fan phải mê mẩn. Thế nhưng, hầu như công thức chung dành cho những khuôn mặt đình đám ấy đều nằm ở cụm từ “phẫu thuật thẩm mỹ”. Công thức này phổ biến trong showbiz xứ Kim chi đến mức, bất cứ cô nàng/anh chàng nào có vẻ đẹp hoàn hảo là đều bị đem lên bàn cân soi xét mổ xẻ quá khứ trước khi được “hô biến” thành thiên nga.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Hàn Quốc thiếu đi những sao có nhan sắc tự nhiên mà vẫn đủ sức tỏa sáng giữa rừng những nhan sắc nhân tạo. Và họ vẫn đẹp lên hàng ngày nhờ sự hoàn thiện bản thân và phong cách chứ không chỉ nhờ “dựa dẫm” vào dao kéo.

H4: “Mỹ nữ đẹp nhất Hàn Quốc” Kim Tae Hee

5/. Đài Loan : Các cô gái Đài Loan nổi tiếng là có làn da trắng hồng rạng rỡ, vẻ đẹp tự nhiên không cần dao kéo. Nhiều người đẹp Đài Loan như Thư Kỳ, Thái Y Lâm, Lâm Y Thâm… luôn nằm trong danh sách những ngôi sao khiến mày râu “khao khát” nhất.

Có lẽ cũng vì vậy mà đa số bình luận về những cô gái Đài Loan luôn đến từ các quý ông:

H5: Thư Kỳ cũng được xem là một trong những cô gái đẹp nhất nhì Đài Loan.

6/. Ấn Độ : Phụ nữ Ấn Độ có sự pha trộn hoàn hảo của vẻ đẹp và sự quyến rũ – điều hiếm thấy ở những đất nước khác. Với làn da nâu và đôi mắt sâu đặc biệt, phụ nữ Ấn Độ luôn cuốn hút mắt nhìn. Họ là đại diện của vẻ đẹp phương Đông thâm trầm, duyên dáng, kết hợp hoàn hảo với nét sexy toát lên từ ánh mắt trong veo và bí hiểm.

H6: Hoa hậu Ấn Độ 1994 Aishwarya Rai Bachchan còn được xem là “hoa hậu đẹp nhất thế giới”.

7/. Indonesia : Các người đẹp Indonesia thường xuyên đạt thứ hạng khá tốt khi chinh chiến ở các đấu trường sắc đẹp, đặc biệt là gần đây, Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2016 cũng là người Indonesia. Phụ nữ đất nước này mang vẻ đẹp lai, khỏe khoắn và quyến rũ, lại gây ấn tượng với bạn bè bốn phương bởi những đường nét hài hoà và tự nhiên:

H7: Ariska Putri Petriwi là hoa hậu Indonesia đầu tiên đạt danh hiệu Hoa hậu Hòa bình Thế giới vào năm 2016.

8/. Malaysia : Malaysia nổi tiếng với nhiều hot girl gây bão mạng khắp châu Á. Các cô gái đất nước đang phát triển này sở hữu vẻ đẹp năng động, đáng yêu. Họ cũng được biết đến như một quốc gia thiên về vẻ đẹp tự nhiên, ít dao kéo.

H8: Chloe Leong là hot girl số một tại đất nước Malaysia

9/. Thái Lan : Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt

Nhắc tới Thái Lan ngày nay, người ta thường hay gợi nhớ tới xứ sở của Phật giáo và là “thiên đường” với những người chuyển giới. Thế nhưng, Thái Lan còn là một trong những cái nôi sản sinh ra những mỹ nhân tự nhiên vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Vẻ đẹp của phụ nữ Thái Lan từ lâu đã được xem là biểu tượng của mà nhiều cô gái hướng đến.

Rất nhiều diễn viên, người mẫu xứ Chùa Vàng được hâm mộ vì có sắc vóc quyến rũ, nét đẹp pha trộn giữa sự e ấp phương Đông và vẻ nóng bỏng phương Tây. Những năm gần đây, Thái Lan cũng thường xuyên làm nên chuyện ở các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

H9: Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt  (Bùi Zín theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

GIÀNH GIẢI TRANG PHỤC ĐẸP NHẤT 

NHỜ MẶC BỘ VÁY ‘TRÁI SẦU RIÊNG’

Dù chỉ nhận được danh hiệu Á hậu 3 do lùm xùm ‘váy nhái’, Aoom Thaweeporn vẫn kịp bỏ túi giải thưởng Best National Costume của Miss Grand Thailand 2017.

Đêm chung kết Hoa hậu Hòa bình Thái Lan đã diễn ra gay cấn và sôi nổi tại sân vận động Indoor Stadium Huamark, Bangkok, Thái Lan tối 8/7/2017 do nước này là “cái nôi” của cuộc thi nhan sắc thuộc Top 5 thế giới. Kết quả, cô gái 23 tuổi Pamela Pasinetti, Miss Grand Krabi, đã vượt qua 77 người đẹp trên khắp các tỉnh thành của Thái Lan đoạt vương miện Miss Grand Thailand 2017.

Theo ban tổ chức, Pamela Pasinetti mang hai dòng máu Thái Lan và Ý. Tân hoa hậu năm nay 23 tuổi, cao 1,75m, thông thạo 3 thứ tiếng: Thái, Anh, Ý. Cô cũng sẽ đại diện cho Thái Lan trong cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2017 sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10 tới.

Á hậu 1 là Chatnalin Chotjirawarachat, Miss Kamphaeng Phet và Á hậu 2 thuộc về Sarucha Nilchan, Miss Prachuap Khiri Khan. Gây nhiều tiếc nuối có lẽ là thí sinh giành giải Á hậu 3 Aoom Thaweeporn, Miss Chanthaburi. Cô từng được kỳ vọng cho vị trí cao nhất nhưng sát ngày chung kết vướng phải lùm xùm mặc váy nhái một thương hiệu thời trang quốc tế. Điều này khiến Aoom Thaweeporn dừng chân ở vị trí thứ tư.

Tuy nhiên trang phục sáng tạo từ trái sầu riêng, trái cây nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng đã giúp người đẹp giành Best National Costume. Phần thi trang phục dân tộc cũng là điểm mạnh của Miss Grand Thailand 2017, cho thấy nước này là đối thủ nặng đáng gờm khi sang Việt Nam tranh tài vào tháng 10 tới.

Cùng ngắm một số hình ảnh của phần thi Trang phục dân tộc Miss Grand Thailand 2017 khiến dân mạng choáng ngợp : 

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

TẢN MẠN CHUYỆN TRÀ

GIAI THOẠI VÀ TẢN MẠN

CHUYỆN TRÀ

Có những thứ không chép nghiêm túc thành sách, nó nằm tản mác đâu đó trong mẫu chuyện hay câu thơ, nhưng không thể nói không phải là văn hóa.

Trà cũng vậy, có những văn hóa riêng xoay quanh nó, nếu ai đó tập hợp lại gầy dựng nên một triết lý khi uống trà thì gọi đó là ‘Trà đạo’ cũng không phải là sai.

Việt Nam chưa hề có một triết lý hoàn chỉnh về trà, nhưng bất chợt đó đây trong quán trà sang trọng hay quán cóc vỉa hè chúng ta đều có thể bắt gặp man man hồn trà trong những câu chuyện phiếm, vì vậy có câu : ”Tản mạn chuyện trà, la cà chuyện rượu”. Không kể lại vài giai thoại hay chuyện tản mạn e rằng đã mất đi một phần hồn trà của người Việt.

Giai thoại trà

Uống trà, nói chuyện trà mà thiếu những giai thoại về trà quả mất đi phân nửa hồn trà. Bao quanh những huyền thoại trà có những giai thoại nửa hư, nửa thực để ca tụng trà. Cái thú của giai thoại là cho chúng ta một nụ cười hóm hỉnh, một triết lý thâm trầm hay một câu thi phú đối đáp xuất thần. Dưới đây là một số giai thoại lượm lặt được:

1/- Người ta tương truyền vua Càn Long có tuổi thọ cao nhờ uống trà, vua thọ đến 88 tuổi. Khi bước vào tuổi 85, trong một dịp khuyên vua nên hạn chế việc chu du thiên hạ, một lão quan ngự y ra câu đối : “Quốc bất khả nhất nhật vô quân” (Nước không thể một ngày không vua); vua Càn Long dí dõm đối lại : “Quân bất khả nhất nhật vô trà” (Vua không thể một ngày thiếu trà). Câu đối không chỉnh, nhưng thể hiện rất rõ cá tính một vị vua mang máu giang hồ này.

2/- Độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân trong truyện “Những Chiếc Ấm Trà” để lại một giai thoại khá ngộ nghỉnh qua miệng một nhân vật trong truyện kể :

“Ngày xưa, có một người ăn mày cổ quái. Làm cái nghề khất cái là phải cầm bằng rằng mình không dám coi ai là thường nữa; thế mà hắn còn chọn lựa từng cửa rồi mới vào ăn xin. Có một lần hắn gõ gậy vào nhà kia, giữa lúc chủ nhà cùng một vài quý khách đang ngồi dùng bữa trà sớm.

Mọi người thấy hắn mon men lên thềm, và ngồi thu hình ở chân cột một cách ngoan ngoãn, mọi người không nói gì cả, để xem hắn định giở trò gì. Hắn chả làm gì cả, chỉ nhìn mọi người đang khoan khoái uống trà. Hắn đánh hơi mũi, và cũng tỏ vẻ khoan khoái khi hít được nhiều hương trà nóng tản bay trong phòng. Thấy mặt mũi người ăn mày đã đứng tuổi không đến nỗi bẩn thỉu quá, chủ nhân bèn hỏi xem hắn muốn xin cơm canh hay là hơn nữa, hắn lại muốn đòi xôi gấc, như kiểu người trong phương ngôn ! Hắn gãi tai, tiến gần lại, tủm tỉm và lễ phép xin chủ nhân cho phép hắn “uống trà tàu với !”.

Mọi người tưởng hắn dở người. Nhưng không nỡ đuổi hắn ra và còn gọi hắn lại phía bàn cho hắn nhận lấy chén trà nóng. Hắn rụt rè xin lỗi và ngỏ ý muốn được uống nguyên một ấm trà mới kia. Hắn nói xong, dở cái bị ăn mày của hắn ra, cẩn thận lấy ra một cái ấm đất độc ẩm. Thấy cũng vui vui và lạ lạ, mọi người lại đưa cho hắn mượn cả khay trà và phát than tàu cho hắn đủ quạt một ấm nước sôi, thử xem hắn định ăn vạ đến lúc nào mới chịu thôi.

Hắn xin phép đâu đấy rồi là ngồi bắt chân chữ ngũ, tráng ấm chén, chuyên trà từ chén tống sang chén quân, trông xinh đáo để. Lúc này không ai dám bảo hắn là ăn mày, mặc dầu quần áo hắn rách như tổ đỉa. Uống một chén thứ nhất xong, uống đến chén thứ nhì, bỗng hắn nheo nheo mắt lại, chép môi đứng dậy, chắp tay vào nhau và thưa với chủ nhà : “Là thân phận một kẻ ăn mày như tôi được các ngài cao quý rủ lòng thương xuống, thực kẻ ty tiện này không có điều gì dám kêu ca lên nữa. Chỉ hiềm rằng bình trà của ngài cho nó lẫn mùi trấu ở trong. Cho nên bề dưới chưa lấy gì làm khoái hoạt lắm”.

Hắn tráng ấm chén, lau khay hoàn lại nhà chủ. Lau xong cái ấm độc ẩm của hắn, hắn thổi cái vòi ấm kỹ lưỡng cất vào bị, rồi xách nón, vái chủ nhân và quan khách, cắp gậy tập tễnh lên đuờng. Mọi người cho là một người điên không để ý đến.

Nhưng buổi chiều hôm ấy, cả nhà đều lấy làm kinh sợ người ăn mày, vì con ở tay với ấm trà đánh đổ tung vãi ra mặt bàn, chủ nhân đã lượm được ra đến mươi mảnh trấu. Tưởng đấy là một giai thoại lý thú, nào ngờ nhân vật “cụ sáu” trong chuyện còn ghê gớm hơn nữa. Cụ bán những chiếc ấm gia bảo của mình với giá rẻ mạt nhưng không bán nắp; sau đó bán nắp ấm với giá trên trời. Ai đã mua ấm thiếu nắp rồi đành bấm bụng mua cái nắp vậy.

3/- Còn trà Đại Hồng Bào danh tiếng của tỉnh Phúc Kiến cũng có một giai thoại. Thời vua Khang Hy nhà Thanh có một học trò nghèo lên kinh ứng thí; sau khi vượt ngọn núi Vũ Di sơn thì đói và mệt ngất xỉu. May nhờ có một vị sư đi ngang cho uống một thứ nước nên chàng sĩ tử này khỏe lại. Kỳ thi đó chàng thi đậu và được bổ làm quan. Nhớ nghĩa cũ chàng về nơi thọ nạn tìm kiếm nhà sư đó.

Trong câu chuyện tạ ơn, chàng được biết đã được cứu mạng nhờ một loại trà. Xin được một ít, chàng hồi kinh nhậm chức và tiến vua lá trà đó. Đúng dịp đó hoàng thái hậu lâm bệnh nặng, các ngự y đều bó tay. Vua cho dùng thử lá trà đó thì thấy hiệu nghiệm và bệnh tình dần dần bình phục. Vua cảm kích ban thưởng cho một chiếc áo bào đỏ và từ đó trà này mang tên Đại Hồng Bào (Chiếc Áo Đỏ).

Trong câu chuyện này có nhắc đến núi Vũ Di Sơn; và tên núi này cũng là một giai thoại. Vũ và Di là tên hai anh em bỏ hết cả gia tài để đi tìm và thưởng thức trà quý. Hai anh em này vào vùng núi này tìm trà và tìm ra loại trà độc đáo sau này được vua Minh tặng cho Hồng Bào như đã kể ở trên. Sau để nhớ công người ta gọi núi này là núi Vũ Di.

4/- Trong Thiền học có một giai thoại khá lý thứ về trà, phản ảnh khá sâu sắc tư tưởng thiền của tổ Bồ đề Đạt Ma.

Ba thiền sư Nam Tuyền, Qui Tông và Bảo Triệt đến yết kiến thiền sư Cảnh Sơn, đi đường gặp một bà già bán quán trà, ngài Bảo Triệt hỏi thăm đường. Sau một hồi hỏi thăm đường và đối đáp qua lại, ba vị thiền sư này vào quán uống nước. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén chung đến nói : Hòa thượng nào có thần thông thì uống trà. Cả ba chưa biết đối phó thế nào thì bà già nói tiếp : Xem già này trình thần thông đây. Nói xong, bà cầm chung nghiên bình rót trà rồi đi.

Giai thoại này sau trở thành một đề tài tham cứu cho các thiền sinh.

5/- Một giai thoại bên cạnh trà mang hơi hướm huyền thoại là câu chuyện về một ấm pha trà ngự dụng. Ngày xưa có một vị hoàng đế Trung Hoa thích uống trà, vua cho sai một lò gốm sứ nổi tiếng trong nước làm một cái ấm hìng rồng từ loại đất và men quý hiếm. Dù là những người thợ lão luyện nổi tiếng cả nước, nhưng hàng chục lần đưa vào lò nung ấm đều bị nứt rạn. Chờ đợi quá lâu, vị hoàng đế này không còn kiên nhẫn ra lệnh : “Nếu trong tháng không làm ra được chiếc ấm sẽ chém đầu tất cả môi người trong vùng”. Ai nấy đều sợ hãi. Một người thợ gốm tên là Tống Bình bèn thắp hương bàn thờ tổ cầu nguyện, trai giới nhiều ngày. Đến ngày đốt lò nung mẽ gốm cho vua, người thợ này nhảy vào lửa hy sinh tế tổ. Quả nhiện mẽ gốm thành công và mọi người thoát chết.

Giai thoại này na ná huyền thoại hai thanh gươm Can Tương và …

6/- Huyền thoại Trung Hoa về trà có kể : Khi xưa Tần thủy Hoàng xuất quân chính phạt gặp phải cường địch là Sát Cáp Nhĩ. Viên tướng này bách chiến bách thắng nhờ có con thần mã chẳng kém gì con Xích Thố của Quan Công. Muốn thắng trước tiên Tần Thủy Hòang phải diệt con tuấn mã này trước. Nghĩ mãi vua mới ra kế sách: sai Lâm Phi, một ái phi sũng ái của ông, cải trang làm cô gái bán cỏ ngựa, lân la quyến rũ Sát Cáp Nhĩ. Viên tướng này quả nhiên say mê sắc đẹp của Lâm Phi. Khi được sũng ái, Lâm Phi mới bày ra chuyện cho ngựa ăn lá trà rồi mổ bụng lấy loại trà tuyệt hảo mà uống. Trúng kế Sát Cáp Nhĩ giết chết con ngựa của mình và kết cuộc là bại trận.

7/- Lục Vũ, tác giả cuốn Trà Kinh Trung Hoa, nổi tiếng là người pha trà giỏi; còn thiền sư Thái Chúc (cha nuôi của Lục Vũ) là người nổi tiếng biết thưởng trà. Nghe danh đã lâu, hoàng đế nhà Đường cho vời hai người đến nhưng không cho gặp mặt. Nhà vua mời nhà sư một ly trà. Nhà sư đưa lên miệng nhắp một ngụm, nhà vua hỏi “Trà này có pha ngon bằng trà của Lục Hồng Tiệm không ?”.

Nhà sư đặt tách xuống không nói gì. Đến tách thứ hai, do chính Lục Vũ pha, nhà vua lại hỏi như trước. Vừa nhấp một ngụm nhà sư vui mừng lên tiếng “Muôn tâu hoàng thượng, tuyệt, tuyệt hảo, Lục vũ chỉ có thể như thế này thôi…”. Vua cho là tài.

8/- Một giai thoại khác rất có vẽ thực liên quan đến một loài cây cũng gọi là trà nhưng thường người ta gọi là sơn trà hay trà mi. Giai thoại này liên quan đến một nhà thơ nổi tiếng Việt Namcụ Nguyễn Khuyến.

Vào năm 1905, tuần phủ Hưng Yên tên là Lê Hoan có tổ chức cuộc thi thơ “Vịnh Kiều”. Dù không muốn tham gia nhưng nhiều lần quan tuần phủ triệu mời nên cuối cùng đành tham dự ban giám khảo.

Trong cuộc thi này Chu Mạnh Trinh có gửi hai chục bài đến dự thi và đoạt giải nhất kỳ thi này. Tuy nhiên khi chấm thi Nguyễn Khuyến thấy thơ Mạnh Trinh có hai câu :

Làng nho người cũng coi ra vẽ,

Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay !

Là một nhà nho, cụ Nguyễn Khuyến rất nghiêm trong ý tứ câu đối, phê ngay :

Rằng hay thì thật là hay,

Đem nho đối xỏ lão này không ưa.

Tuy đoạt giải nhất nhưng lời phê này lọt đến tai Chu mạnh Trinh, Trinh để bụng không vui. Về sau khi làm án sát Hưng Yên, lúc đó Nguyễn Khuyến mắt đã lòa, Mạnh Trinh biếu cụ Nguyễn một chậu hoa trà (loài hoa chỉ có sắc mà không có mùi hương) với dụng ý châm biếm cụ Nguyễn không biết thưởng thức văn.

Cụ Nguyễn Khuyến cũng hiểu và viết một bài thơ gửi Chu Mạnh Trinh như sau :

Tết đến người cho một chậu trà,

Đương say còn biết cóc đâu hoa !

Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,

Áo tía đai vàng, bác đó a ?

Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,

Gió to luống sợ lúc rơi già !

Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi,

Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà !

Chu Mạnh Trinh đọc xong mới thấy hổ thẹn lòng nhỏ nhen của mình và càng khâm phục phẩm chất cụ Nguyễn.

Tản mạn chuyện trà

Bên cạnh những giai thoại truyền khẩu, người uống trà xưa nay cũng có những tản mạn không kém phần thú vị.

Ngày xưa ở Sài Gòn – Chợ Lớn có nhiều quán trà (bán thuần nước trà chứ không phải bán cà phê cho khách uống thêm trà như bây giờ) gọi là trà gia. Người nghèo lao động trong giây phút nhàn tản thường ngồi uống tách trà. Uống hết nước lại xin thêm nước sôi châm vào. Xin nhiều lần qua thì tiểu nhị (còn gọi theo âm Quảng Đông là phổ ky, tức người hầu bàn) than phiền, nhưng vẫn châm : “Pạt đầu trà a !”(Bạc đầu trà : trà đã lợt nước rồi).

Không biết học lóm từ đâu, người công nhân này nói rất triết lý : “Nị có biết Lâm Ngữ Đường chứ lị” Người tiểu nhị ngớ người chưa kịp hiểu, người khách thuộc giai tầng thấp trong xã hội thời trước nói luôn : “Lâm Tiên sinh có nói : Trà nước thứ nhất tựa như ấu nữ mười hai, mười ba, trà nước thứ hai như nữ lang đang độ mười sáu, trà nước thứ ba đã là thiếu phụ, vv và vv …”. Xin thêm nước sôi cũng triết lý đấy chứ !?

Lại có chuyện phiếm vui vui như sau : Một anh chàng nọ ngồi chung bàn với tía vợ. Vốn giữ phép con rễ anh chàng châm nước trà vào chén cho mọi người ngồi chung bàn. Sơ ý thế nào không biết, anh chàng này rót cho mọi người trước còn cha vợ ngồi kế bên rót cuối cùng. Trong bàn ấy người cha vợ cao tuổi và vai vế lớn nhất, nên bị mắng. Nhanh trí anh chàng này chữa lỗi bằng cách nói nhỏ với tía vợ của mình : “Tía ơi, con rót trước là rót nước rữa trà đó. Tía đừng buồn”

Anh chàng sinh viên gốc Hà Nội vừa vô nam quen được cô bạn gái dễ thương. Sau một hồi tán tỉnh mời được cô bạn đi uống nước, nhưng trong lòng thắc thỏm vì túi tiền quá mỏng. Tìm được một quán nước vỉa hề, hai người ngồi uống nước hàn huyên. Anh chàng vốn bệnh sĩ Hà Nội cao giọng kêu cô chủ quán : “Chị ơi cho xin hai ly chè”. Hai người tiếp tục hàn huyên nhưng chờ quá lâu mà chẳng thấy mang trà ra. Anh chàng hỏi lại. Cô quán nhiệt tình trả lời : “Dạ, em nhờ đứa em đi mua chè cho anh chị rồi”. Anh chàng chẳng hiểu gì, còn cô bạn gái phá lên cười. “Chè này là chè đậu nấu đường, thôi anh nán một chút ăn cho vui”, cô gái nói. Anh chàng trong bụng rầu thúi ruột nhưng ngoài mặt cố làm vui. Ngày mai lại ăn mì tôm mất rồi.

Một ông vào quán trà tươi ven làng, kêu một bát nước chè. Quán nghèo sạp lá chỏng trơ, bà quán rót một chén trà tươi, chiếc bát mẽ miệng. Ông khách thầm nghĩ, chỗ chén mẽ ít người ghé miệng vào đấy, mình uống ở đó là sạch nhất. Ông khách nâng chén và ghé miệng vào đấy uống một hơi. Thoải mái quá. Chợt nhìn qua thấy đứa con trạc 10 tuổi của bà chủ quán đứng nhìn mình cười. Ông khách ngạc nhiên hỏi :

– “Sao mày nhìn tao cười ?”.

Đứa bé tiếp tục cười, nói :

– “Cháu tưởng chỉ có mình u cháu uống vào chỗ mẽ thôi, nào ngờ hôm nay lại có thêm bác nữa” (khuyết danh)

Lan Hương chuyển tiếp

RƯỢU HỒNG ĐÀO : 

QUẢNG NAM SONG HỶ TỬU

– Phanxipăng

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say…

Bài ca dao nhiều dị bản 

Nhắc đến Quảng Nam – Đà Nẵng, thiên hạ nhớ ngay đôi dòng vừa dẫn. Tùy căn cơ mà kẻ nọ, người kia thay từ đã bằng đà, từ nhấm bằng nhắm. Lưu hành trong môi trường diễn xướng, tác phẩm văn nghệ dân gian ấy đầy đủ gồm 4 dòng. Chính 2 dòng kế tiếp sản sinh vô số dị bản.

Xin tạm liệt kê chục dị bản như sau:

1/. Em thương anh, cha mẹ không hay,

Như ngọn đèn giữa gió, biết xoay phương nào.

2/. Kể từ ngày đó xa đây,

Sầu đêm quên ngủ, sầu ngày quên ăn.

3/. Lòng ta như chén rượu đầy,

Lời thề nhớ tấc dạ này, bạn ơi!

4/. Thương nhau chưa đặng mấy ngày,

Đã mang ơn trọng nghĩa dày, người ơi!

5/. Đôi ta ơn trọng nghĩa dày,

Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương.

6/. Chàng về nằm nghĩ gác tay,

Coi ai ơn trọng nghĩa dày bằng em.

7/. Bạn về đừng ngủ, gác tay,

Nơi mô ơn trọng nghĩa dày, bạn theo.

8/. Anh hùng thước lụa trao tay,

Nước non một gánh vơi đầy, hỡi ai!

9/. Tình non nghĩa nước sâu dày,

Bờ Nam, cõi Bắc đã đầy nhớ thương.

10/. Dù ai ơn mỏng, nghĩa dày,

Nửa chén cơm lưng phải nhớ, một gáo nước đầy chớ quên.

11/. Nợ tiền, trả hết lại vay.

Chứ nợ duyên chồng vợ, trả mấy ngàn ngày cho xong? 

Soạn bài Tổng quan văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng đăng trên tạp chí Nguồn Sáng Dân Gian số 1 (tháng 11-2001), thạc sĩ Bùi Văn Tiếng phỏng định: “Có lẽ trong ca dao – dân ca Việt Nam, hiếm có câu ca dân gian nào có nhiều dị bản như câu Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm / Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say… Có thể ban đầu đây là một khúc hát trữ tình, với hai dòng sau được thay đổi cho phù hợp với cảnh ngộ riêng của từng chủ thể”.

Trong sách Quảng Nam – Đà Nẵng xưa và nay (NXB Đà Nẵng, 1996), nhạc sĩ Trương Đình Quang và Kim Viên đã ký âm điệu hò giã gạo Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm / Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say vang vọng nơi đất Quảng.

Điều khiến rất đông người, kể cả dân Quảng, bấy lâu nay thắc mắc: rượu Hồng Đào như thế nào ? Thậm chí, lắm kẻ tỏ ý nghi ngờ khi hỏi: có rượu Hồng Đào hay chăng ?

Hồng Đào qua một số nghệ phẩm

Hồng Đào được viết hoa tu từ, khéo đối ứng với hai chữ Quảng Nam về tự dạng, chứ căn cứ chính tả tiếng Việt hiện thời thì ghi hồng đào cũng được. Đây chẳng phải địa danh như một số người ngộ nhận. Thực tế thì xưa nay, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng không có làng, thôn, xã, phường, quận, huyện nào tên Hồng Đào.

Hồng đào 洪陶, trong tiếng Hán, là thợ đúc to lớn, là tạo hóa. Song trong tiếng Việt, hồng đào mang nghĩa gốc: hoa đào màu hồng. Hồng là đỏ nhạt. Đào là loài thực vật mang tên khoa học Persica vulgaris Mill. thuộc họ Rosaceae, thường trổ bông dịp xuân về.

Với Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798) đã viết:

Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái,

Đóa hồng đào hái buổi còn xanh.

Trên gác phượng, dưới lầu oanh,

Gối du tiên hãy rành rành song song.

Theo nghĩa phái sinh, hồng đào là cách gọi màu sắc đặc trưng: đỏ nhạt như quả đào chín hoặc như hoa đào nở. Do đó, một số cụm từ đã xuất hiện: nắng hồng đào, trứng hồng đào (vẫn bị nói sai thành trứng lòng đào), mận hồng đào, má hồng đào, môi hồng đào, v.v.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) từng sáng tác bài hát Môi hồng đào mà đây là ca từ đoạn đầu:

Một cuộc tình nhỏ bé

Bên đôi môi hồng đào

Đường đời xa lắm nhé

Em không nhớ tôi sao ?

Có kẻ trích thơ Đường: Hồng đào mỹ tửu dạ kim bôi. Ấy là trích sai, hoặc do vô tình, hoặc bởi cố ý. Đúng ra, đó là dòng khai mở bài thất ngôn tứ tuyệt kỳ 1 Lương Châu từ  涼州詞 nổi tiếng của Vương Hàn 王翰 (687 – 727):

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Lương Châu bây giờ là Võ Uy, thuộc tỉnh Cam Túc. Bản dịch của Trần Trọng Kim:

Rượu nho kèo chén lưu ly,

Uống thì trên ngựa tiếng tì giục sôi.

Say nằm bãi cát chớ cười,

Xưa nay chinh chiến mấy ai đã về.

Bồ 葡 là cây nho. Bồ đào 葡萄 là quả nho. Bồ Đào Nha 葡萄牙 là Portugal, đất nước trồng nhiều nho. Bồ đào tửu 葡萄酒 là rượu nho, là vang, tiếng Pháp ghi vin, tiếng Anh ghi wine. Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh cắt nghĩa như thế. Tự điển Hán – Việt của Thiều Chửu cũng giải thích tương tự. Còn rượu hồng đào chẳng phải rượu ngâm hoặc chưng cất quả hồng với quả đào, mà là bất kỳ rượu gì có màu hồng đào.

Lạ thay ! Lê Minh Quốc – tác giả bộ sách Hỏi đáp non nước xứ Quảng – bỗng viết bài Rượu Hồng Đào hoàn toàn không có thật đăng báo Thanh Niên thứ bảy 11-3-2006. Tuần sau, báo Thanh Niên thứ bảy 18-3-2006 công bố bài của Nguyễn Trung Dân phản biện mạnh mẽ: Rượu Hồng Đào cớ sao lại không có thật ? Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy 18-4-2006 lại in bài của Nguyễn Đông mang tiêu đề  Rượu Hồng Đào răng rứa hè? Cả ba đều là người Quảng.

Rượu Hồng Đào: chế biến & sử dụng

Thuở xưa, tại Trung Hoa và các quốc gia đồng văn, người người tổ chức dựng vợ gả chồng đều gắng theo Chu Công gia lễ hay Văn Công gia lễ do Chu Hy biên soạn vào đời Tống, gồm 6 lễ chính: nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tế, thân nghinh. Tại Việt Nam, hôn lễ được rút gọn còn 3 lễ chính: dạm / chạm ngõ, đám hỏi, đám cưới. Ngày nay, khá nhiều nhà trai với nhà gái cử hành giản tiện hơn: gặp nhau để bàn bạc, rồi gộp đám hỏi vào đám cưới. Dù phức tạp hay đơn sơ, đám cưới luôn chọn màu đỏ – màu may mắn – làm chủ đạo với nhiều sắc độ: thiệp hồng, pháo hồng, áo hồng, chữ song hỷ màu đỏ, khăn màu đỏ phủ các mâm lễ vật, v.v.

Thật sự, đám cưới bao gồm nhiều lễ nhỏ, trong đó có lễ rất quan trọng chỉ dành cho cô dâu chú rể: lễ động phòng hoa chúc, còn gọi lễ hợp cẩn. Tất nhiên, cô dâu và chú rể nép vào nhau vái van ông tơ bà nguyệt, nhưng nghi thức thì mỗi dân tộc mỗi khác.

Với tục lệ Trung Hoa xửa xưa thì hai vợ chồng son xơi mỗi người một tô mì trường thọ (lạp miến) rồi vào buồng riêng, lứa đôi cùng ăn bánh tử tôn (4 bánh tròn và 32 bánh bán nguyệt bằng bột mì có nhân thịt heo tai tái), cùng uống rượu theo lối độc đáo: hai cái nậm mà quai được buộc với nhau bằng chỉ đỏ, hai chiếc chung cũng buộc vào nhau bằng chỉ đỏ, cô dâu và chú rể phải khéo léo uống cạn mà chớ để đứt sợi chỉ.

Với tục lệ Việt Nam cổ truyền thì lễ động phòng cần có: chỉ đỏ hoặc chỉ ngũ sắc gọi là dây tơ hồng, đĩa muối với dăm lát gừng tươi, chai rượu Hồng Đào đính kèm một chiếc chung. Chú rể buộc tơ hồng vào cổ tay nàng dâu và ngược lại. Rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa. Xong, cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga :

Tay bưng đĩa muối chấm gừng,

Gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau.

Rượu Hồng Đào ở nhiều tỉnh thành khác ắt khỏi bàn : thường chọn rượu ngon có màu đo đỏ. Nhưng ở Quảng Nam, nhất là giai đoạn người Việt mới mở cõi, đại đa số cư dân nghèo khó, rượu trắng nấu bằng gạo (lắm phen phải nấu bằng sắn) dọn tiệc, riêng xị rượu dành cho tân lang với tân giai nhân hợp cẩn cần nhuộm màu hồng. Cách nhuộm “khỏe mà rẻ” thế này: lấy nắm chân nhang / hương nhúng vào rượu trắng. Không ít trường hợp, người ta lấy vỏ bao nhang thả vào rượu trắng. Chốc lát, rượu trắng ửng hồng. Rượu Hồng Đào dạt dào tình nghĩa xuất hiện (1).

Chú thích :

(1) Cũng cần biết rằng dùng để nhuộm chân nhang / hương bằng tre và vỏ bao hương bằng giấy là dòng phẩm basic. Đại đa phần chân hương thường được nhuộm đỏ; ngoài ra còn số ít được nhuộm hồng, lục, vàng.

Màu gì thì dòng phẩm mang tính kiềm này không đảm bảo an toàn thực phẩm; thế nhưng gian thương vẫn lấy phẩm basic để nhuộm hạt dưa, da heo quay, lạp xường / lạp xưỡng, v.v. Rượu Hồng Đào pha chế bởi phẩm basic, dẫu vài ngụm ít ỏi, song lại hại sức khoẻ ẩm giả !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (15)

SỐ PHẬN CÁC CON

LÝ TIỂU LONG

Cái chết uất ức và cuộc đời sóng gió của Lý Quốc Hào

Báo chí Hoa ngữ từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực khi viết về cuộc đời, sự nghiệp của ngôi sao tài năng, bạc mệnh Lý Tiểu Long. Câu chuyện cuộc đời vợ con anh cũng không nằm ngoài sự chú ý này. Trang Daily Hồng Kông từng thu hút sự chú ý từ dư luận khi đăng tải nhiều thông tin đáng quan tâm quanh chủ đề này, trong đó giới thiệu :

“Tiểu Long quen biết Linda Lee Cadwell khi cô còn đang là nữ sinh trung học, còn ngôi sao họ Lý là thầy giáo dạy võ thuật. Mối quan hệ thầy trò nhanh chóng nảy nở thành tình yêu, và năm 1963, hai người chính thức hẹn hò”. 

Năm 1964, Lý Tiểu Long và Linda kết hôn.Thời điểm bước vào cuộc sống hôn nhân, cô gái người Anh mới chỉ tròn 19 tuổi. Cặp đôi sống tại Washington và có hai con : Brandon Lee (Lý Quốc Hào )và Shannon Lee (Lý Hương Ngưng). Suốt gần 10 năm sau đó, Linda trở thành người phụ nữ của gia đình, từng bước chăm chút hậu phương cho chồng, trong khi Tiểu Long thành danh trên con đường sự nghiệp.

Vợ đẹp, con ngoan, bản thân lại là người nổi tiếng, giàu có và được khán giả khắp thế giới hâm mộ, cuộc đời Lý Tiểu Long những tưởng đã hoàn mỹ.Thế nhưng, có lẽ ông trời đúng là không cho ai có tất cả. Sau khi siêu sao võ thuật qua đời vào năm 1973, hưởng dương 32 tuổi cũng là lúc sóng gió bất ngờ ập đến với gia đình, vợ con anh.

Con trai Lý Quốc Hào : Ám ảnh về cái chết của cha suốt thời niên thiếu rồi qua đời uất ức bởi một tai nạn hi hữu.  

Lý Quốc Hào sinh năm 1965, là con trai cả của Lý Tiểu Long. Có người cha cực kì nổi tiếng và giỏi võ, không lạ lùng gì khi chỉ mới chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã bắt chước những động tác đánh đấm của cha. Năm 2 tuổi, cậu bé đã bắt đầu được học các chiêu thức võ thuật đơn giản và nhanh chóng bộc lộ năng khiếu thiên bẩm được kì vọng sẽ chẳng thua kém người cha tài năng. Lý Quốc Hào từng tâm sự : “Cha dạy võ từ năm tôi 2 tuổi. Trong mắt tôi, cha là một anh hùng”.

Cha là siêu sao võ thuật với nhiều mối quan hệ với những tên tuổi lớn nên từ thời còn “tay bồng tay bế”, cậu bé đã được tiếp xúc với nhiều huyền thoại khác, trong đó có võ sư Diệp Vấn.

Phát huy tài năng võ thuật, cậu bé họ Lý tiếp tục “hô mưa gọi gió” ở trường học bởi bản tính hiếu thắng, ngông cuồng của mình. Bà Linda – mẹ cậu không biết phải bao nhiêu lần lên tận trường xin lỗi thầy cô và cha mẹ các bé khác nếu chẳng may bị cậu con tung quyền cước đánh đập, bắt nạt.

Lên tiểu học, người ta cũng thấy tên Lý Quốc Hào là đã chạy xa bởi trước đó, danh tiếng chuyển trường tận 3 lần chỉ bởi những lời phê “ngỗ ngược, quậy phá, vô lễ” của cậu đã lừng danh khắp nơi.

Việc Lý Tiểu Long dạy võ cho Lý Quốc Hào quá sớm cũng là một trong những nguyên nhân góp phần khiến cậu bé trở nên nghịch ngợm và hiếu chiến. Không chỉ vợ mà ngay cả Lý Tiểu Long cũng chẳng biết bao nhiêu lần phải xấu hổ vì cậu con trai cưng. Vì lẽ đó mà anh quyết định sẽ không tiếp tục dạy võ cho cậu nữa mà chỉ tập cho cậu một số chiêu cơ bản để tự vệ.

Mặc dù vậy, Lý Quốc Hào vẫn chẳng hề có ý sửa đổi, thích phản kháng và không vâng lời. Nhiều người nói rằng đó chính là gen di truyền từ Lý Tiểu Long bởi trước đó ông cũng khiến cha Lý Hải Tuyền bao phen vất vả.

Đến năm lên 5 tuổi, Quốc Hào đã được cha mẹ đưa về Hồng Kông. Từ đây, sau những lần xuất hiện trên phim trường, cậu có cơ hội cùng cha tham gia một số bộ phim võ thuật và khiến công chúng ngạc nhiên vì khả năng tung quyền xuất chúng. Từ đó, cả hai cha con đều nổi đình nổi đám và thu hút được nhiều người hâm mộ yêu mến.

Cuộc sống yên bình được vây bởi ánh hào quang của Lý Quốc Hào chỉ tồn tại rất ngắn ngủi. Cái chết bất ngờ của Lý Tiểu Long vào năm 1973 đã khiến cậu con trai vấp phải một cú sốc lớn, dẫn đến tổn thương tâm lí, luôn ám ảnh cậu mãi về sau. Vì sợ cậu con trai duy nhất đi vào vết xe đổ của cha nên bà Linda kiên quyết ngăn cản chuyện học võ.

Thế nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Quốc Hào vẫn tích cực luyện tập và nhanh chóng sở hữu võ công đáng nể. Cậu dù bị ám ảnh bởi cái chết của bố, sốc trầm trọng một thời gian nhưng lại không thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ về bố, một con người vĩ đại nhường ấy nên kiên quyết học võ đến cùng.

Người ta nhìn từng động tác, các pha hành động trong phim hay cả bên ngoài đều có chung ý tưởng liên hệ đến Lý Tiểu Long, nhất là thần thái, cách ra đòn và cước bộ điềm tĩnh, vững vàng. Sau này, Lý Quốc Hào cũng tham gia đóng phim và được kì vọng sẽ trở thành một ngôi sao lớn của dòng phim võ thuật như bố. Những tác phẩm điện ảnh đánh dấu tên tuổi và sự nghiệp của Quốc Hào có thể kể đến như Kungfu the Movie, Logacy of Range (1986), Show Down in Lettle Tokyo (1991), Rapid Fire (1992).

Năm 1993, Lý Quốc Hào tham gia bộ phim The Crow, khởi quay tại Wilmington, Bắc California và bị một viên đạn thật bắn trúng người. 12 tiếng sau, các bác sĩ tuyên bố anh tử vong ở tuổi 28. Tai nạn được cho là cực kì hi hữu khi nó được gây ra bởi một khẩu súng đạo cụ. Chẳng biết vì nguyên do gì mà trong nòng súng lại bị lắp đạn thật, khiến Lý Quốc Hào qua đời đầy uất ức trên phim trường.

Con gái Lý Hương Ngưng: Thần đồng âm nhạc quyết tâm từ bỏ đàn ca để nối tiếp sự nghiệp võ thuật dang dở của cha và anh trai.

Khi Lý Tiểu Long đột ngột qua đời tại Hồng Kông vào ngày 20/7/1973, Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) mới 4 tuổi nên chưa cảm nhận được sự mất mát nhưng bắt đầu hiểu cuộc sống của mình đã thay đổi. Trong khi anh trai Lý Quốc Hào mải mê với những thế võ thì cô bé Lý Hương Ngưng dành trọn niềm đam mê của mình cho ca hát.

Năm 1976, bà Linda – vợ Lý Tiểu Long tái hôn với nhà văn nổi tiếng Tom Bleecker. Đi bước nữa sau khi Lý Tiểu Long mất chưa đầy 3 năm là quyết định mang tính hi sinh của bà Linda vì muốn 2 đứa con bé bỏng có một gia đình hoàn chỉnh.

Thế nhưng, mong ước của người mẹ đau khổ không được như ý, 2 năm sau, hôn nhân đổ vỡ, 3 mẹ con dắt nhau rời khỏi ngôi nhà cha dượng. Chính biến cố ấy đã khiến Lý Hương Ngưng trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn lứa tuổi của mình.

Hai năm sau khi anh trai nổi lên từ bộ phim Kungfu The Movie, Lý Hương Ngưng đậu vào trường Đại học Tulane (New Orleans, Mỹ) chuyên ngành Âm nhạc. Cho đến năm 1993, khi cô em gái còn chưa kịp trở về gặp và khen anh trai vì những biểu hiện xuất sắc của anh trên màn ảnh Hollywood, Lý Quốc Hào qua đời trên phim trường vì tai nạn súng.

Cái chết của Lý Quốc Hào khiến bà Linda và Lý Hương Ngưng đau đớn tột cùng. Mặc dù cảnh sát công bố kết quả điều tra cho rằng Lý Quốc Hào đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, bị bắn chết bằng một viên đạn thật trong khẩu súng đạo cụ nhưng Lý Hương Ngưng không tin điều đó. Cô lao vào tìm kiếm chứng cứ để chứng tỏ anh trai bị ám sát chứ không phải bị ngộ sát. Nhiều tháng ròng, Lý Hương Ngưng bỏ công việc, bỏ show diễn chỉ với mong muốn tìm ra hung thủ. Mãi cho đến khi được mẹ hết lời khuyên bảo, cô mới chịu kết thúc việc truy tìm nguyên nhân thật quanh cái chết của Lý Quốc Hào.

Suốt một thời gian sau đó, Lý Hương Ngưng nhốt mình trong phòng riêng, xem đi xem lại nhiều lần những bộ phim của cha và anh trai. Cô phát hiện, Lý Quốc Hào đã thừa hưởng nhiều tố chất của Lý Tiểu Long, đó là ý chí kiên cường và thái độ làm việc chuyên nghiệp cùng tình yêu dành cho võ thuật. Điều này cô đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt trong đời khi từ bỏ tất cả những thứ mình đang có, bắt đầu tập võ với mục tiêu trở thành một diễn viên võ thuật giống như cha và anh trai, tiếp nối những gì họ còn đang dang dở.

Quyết định của Lý Hương Ngưng bị bà Linda phản đối kịch liệt.Tuy nhiên cô vẫn kiên định với ước mong nối nghiệp võ thuật để giữ lại phần nào hình ảnh cha và anh trong lòng công chúng. Từng có một thời gian, Hương Ngưng bị dè bỉu, mỉa mai vì động tác ẻo lả, đánh võ như múa, thế nhưng cô chưa bao giờ từ bỏ sự nghiệp nối nghiệp cha anh của mình.

Tháng 8/1994, Lý Hương Ngưng kết hôn với họa sĩ Anthony Ian Keasler.Từ khi có gia đình ổn định, cô dành hết thời gian để thực hiện mong muốn của mình. Năm 1997, Hương Ngưng giành được vai nữ chính trong bộ phim High Voltage của đạo diễn Isaac Florentine.

Một năm sau, cô đi theo bước chân cha, trở về Hồng Kông cộng tác với Hãng phim Gia Hòa, tham gia bộ phim Enter The Eagles do đạo diễn Nguyên Khuê thực hiện, đóng chung với Viên Vịnh Nghi, Trần Tiểu Xuân, Vương Mẫn Đức.Lý Hương Ngưng tạo ấn tượng tốt khi đích thân thể hiện những pha nguy hiểm như nhảy tàu, nhảy lầu, cưỡi mô tô, bắn súng… Nỗ lực không ngừng nghỉ khiến Lý Hương Ngưng dần được công chúng đón nhận.

Sự nghiệp điện ảnh đang khởi sắc, tên tuổi vừa nổi lên nhưng Lý Hương Ngưng nhận thấy dù có cố gắng cách mấy cũng không thể trở thành một ngôi sao phim hành động, vì màn ảnh không dành chỗ cho những nữ anh hùng.

Vì vậy, năm 2002, sau khi hoàn thành tác phẩm She, Me and Her, cô chia tay phim trường, an phận với vai trò làm vợ, làm mẹ. Suốt từ đó đến nay, Lý Hương Ngưng quản lí Quỹ giáo dục Lý Tiểu Long và Hiệp hội phát triển Tiệt quyền đạo, bắt đầu một cuộc sống ổn định sau bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.

Sau cái chết của bố, hôn nhân đổ vỡ của mẹ, sự ra đi của anh trai và nhiều năm “lăn lộn” với phim trường, mãi đến những năm tháng tuổi trung niên, Lý Hương Ngưng dường như mới thực sự có một cuộc sống bình lặng, yên ả. (Thu Ngân theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

DIVA THÁI THANH

VÀ CHUYỆN TÌNH

3 NGƯỜI KINH ĐIỂN

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn của giới truyền thông hải ngoại, một nhà báo đã hỏi Thái Thanh có hay không mối tình giữa bà và nhà văn Mai Thảo, Thái Thanh đã trả lời :

“Có liên hệ tình cảm khi tôi còn ở với chồng và dù bỏ chồng rồi thì anh Mai Thảo vẫn quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi cổ lỗ sĩ lắm các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau”.

Theo cách nói của Thái Thanh thì chuyện họ có một thời yêu nhau là sự thật. Và Thái Thanh sẵn sàng sống phần đời còn lại với Mai Thảo sau một đám cưới, nhưng hình như Mai Thảo đã tránh né. Ông ta chỉ muốn sống như đã từng sống với vài người phụ nữ khác.

Cả ba người – Thái Thanh, Lê Quỳnh và Mai Thảo đều là những nhân vật nổi tiếng thuộc loại hàng đầu trong lãnh vực văn học – nghệ thuật tại miền Nam trước năm 1975. Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”. Giọng hát sang trọng và điêu luyện của bà được xếp trên cả Lệ Thu, Khánh Ly một bậc.

Chồng chính thức của Thái Thanh là diễn viên điện ảnh kỳ cựu Lê Quỳnh. Ông còn là một thiếu ta phi công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Do cá tính của mỗi người, cuộc sống hôn nhân của họ không được hạnh phúc, dù đã có với nhau 5 người con. Nhưng kẻ phá bĩnh cuối cùng, như giọt nước làm tràn ly, khiến Thái Thanh – Lê Quỳnh phải chia tay là nhà văn Mai Thảo, trong vai một kẻ trộm tình. Kết thúc “chuyện ba người” này là trận đánh ghen của Lê Quỳnh giành cho Mai Thảo từng gây xôn xao một thời trong giới văn nghệ Sài Gòn.

Cho đến hôm nay, trong lòng những người yêu dòng nhạc tiền chiến và âm hưởng tiền chiến thuộc nhiều thế hệ, vẫn chưa có tiếng hát nào thay thế được Thái Thanh ở sự ngọt ngào, truyền cảm, đầy chất kỹ thuật. Được thiên phú một chất giọng opera trong vắt, nhưng Thái  Thanh lại ảnh hưởng làn điệu dân ca chầu văn, quan họ, chèo… từ thủa nhỏ ở quê nhà, đã tạo nên phong cách đặc biệt của riêng bà.

Gần một thế kỷ, âm nhạc Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm bất tử, gắn liền với những giọng ca sống mãi với thời gian, như trường hợp Giọt mưa thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Buồn  tàn thu, Đàn chim Việt, Thiên thai của Văn Cao, Nương chiều, Bà mẹ Gio Linh, Kỷ niệm của Phạm Duy… Hầu hết những ca khúc kinh điển này đếu gắn liền với tên tuổi Thái Thanh.

oOo

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình gắn bó với âm nhạc. Thái Thanh là em ruột của ca sĩ Thái Hằng (vợ của nhạc sĩ Phạm Duy) và là em gái kế của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc). Bà còn có một người anh cùng cha khác mẹ khác là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung). Họ đã cùng nhau dựng lên ban hợp ca Thăng Long vang danh một thời.

Không thông qua một trường lớp đào tạo nào cả nhưng Thái Thanh, ngoài năng khiếu bẩm sinh ra, còn được các anh chị rèn luyện từ nhỏ, giọng bà có âm vực rộng, nên thể loại âm nhạc của bà rất phong phú, đa dạng.

Thời kỳ đầu bà theo chị là ca sĩ Thái Hằng tham gia kháng chiến, chuyên biểu diễn phục vụ ở các chiến khu. Nghệ danh Thái Thanh bắt đầu từ đó. Năm 1951, bà theo gia đình chị ruột là Thái Hằng – Phạm Duy vào Sài Gòn lập nghiệp, và tiếp tục ca hát. Thái Thanh trở nên nổi tiếng với những ca khúc tiền chiến được đông đảo quần chúng yêu thích, đặc biệt là giới trí thức. Tiếng hát của bà thống trị phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình và phòng trà ở Sài Gòn suốt hơn hai thập niên, dường như không có đối thủ cạnh tranh.

Người chồng tài tử xi nê

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với Lê Quỳnh, một trong số nam diễn viên nổi tiếng thuộc lớp đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Ông sinh năm 1934 tại Hà Nội (bằng tuổi Thái Thanh).

Năm 1952, Lê Quỳnh tốt nghiệp tú tài ban văn chương và gia nhập không quân của quân đội Pháp. Về sau chuyển thành không lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là thiếu tá. Năm 1954, Lê Quỳnh theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông không mấy thành công trên con đường binh nghiệp, nhưng cuộc đời diễn viên của ông lại là một chuỗi thành công rực rỡ, kể từ sau 1956 trở đi với hàng loạt vai chính trong các bộ phim tình cảm: Đất lành, Hồi chuông Thiên Mụ, Thiếu phụ Nam Xương, Vụ án tình, Ngàn năm mây bay, Đôi mắt người xưa, 11 giờ 30, Chờ sáng, Mùa thu cuối cùng, Bẩy ngầm…

Ngoài ra, Lê Quỳnh cũng xuất hiện trong vai thứ của một số phim quốc tế như: The Quiet American, A Night Of The Dragon, Transit A Saigon. Năm 1969, Lê Quỳnh bắt tay làm bộ phim Giã từ bóng tối trong vai trò đạo diễn, nhưng không được công chúng đón nhận và đó cũng là phim duy nhất mà ông làm đạo diễn. Cũng có thời Lê Quỳnh mon men bước vào con đường hoạt động chính trường khi ra ứng cử dân biểu quốc hội vào năm 1967 nhưng thất cử.

Lê Quỳnh chung sống với Thái Thanh được 9 năm (1956 – 1965) thì gãy gánh, sau khi đã có với nhau 5 mặt con, mà người con đầu là Lê Thị Ý Lan, sinh năm 1957, hiện là ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại, thường về biểu diễn tại Việt Nam (ca sĩ Ý Lan). Là một diễn viên có nét đẹp rất đàn ông, Lê Quỳnh được mô tả như một gã đa tình, nhưng tính tình lại rất ghen tuông.

Chính vì thế cuộc sống vợ chồng của họ luôn là những tháng ngày đầy sóng gió. Có lần, Thái Thanh đi hát cùng với hai người anh của mình là Hoài Trung, Hoài Bắc. Dù có xe đưa đón, nhưng Lê Quỳnh vẫn âm thầm bám sát để theo dõi, và ông đã ghen với cả người lái xe vì anh ta đã lịch sự mở cửa cho Thái Thanh. Tuy nhiên, việc Lê Quỳnh tặng cho nhà văn Mai Thảo một trận đòn ghen ở phòng trà Bồng Lai năm 1965 thì không phải là chuyện ghen bóng ghen gió.

Mai ThảoKẻ trộm tình”

Thật sự, chuyện Mai Thảo dan díu tình cảm với Thái Thanh là có thật. Sau này, chính Mai Thảo đã gần như dàn trải phần lớn tâm sự thầm kín của mình trong tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc. Cho dù ông không xác nhận, cũng không phủ nhận khi được phỏng vấn, có phải đã viết tác phẩm này cho Thái Thanh hay không, tuy nhiên, hầu hết bạn bè thân thiết của Mai Thảo và người đọc đều biết và thấy rõ bóng dáng của Thái Thanh trong đó.

Vào thời điểm này, vợ chồng Thái Thanh – Lê Quỳnh đang sống cuộc sống gia đình như địa ngục, với những xung đột tiếp diễn hàng ngày, và việc phải chia tay nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên Mai Thảo vẫn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Ông ta là nguyên nhân cũng là cái cớ cho màn ly dị với diện mạo của một kẻ trộm tình.

Mai Thảo có tên thật là Nguyễn Đăng Quý, gốc gác ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nhưng được sinh ra tại chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nhà buôn giàu có. Thơ ấu, ông theo học trường làng, nhưng khi lên trung học thì chuyển về học trường Chu Văn An, Hà Nội.

Năm 1945, ông rời gia đình vào Thanh Hóa để đi theo kháng chiến. Mai Thảo làm công tác viết báo và tham gia các đoàn văn công đi lưu diễn khắp Liên khu 3, Liên khu Tư và Liên khu Việt Bắc. Đến năm 1951 thì ông bỏ về thành đi buôn theo nghiệp cha.

Năm 1954, ông định cư hẳn ở Sài Gòn, và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng. Suốt đời Mai Thảo chưa một lần có vợ, nhưng già nhân ngãi non vợ chồng thì không kể hết. Ông được những bằng hữu thân thiết mô tả như một tay chơi có hạng, từng một thời không đêm nào là không có mặt tại vũ trường, sống trong trùng vây của rượu và gái.

Điều này, cũng được chính Mai Thảo viết rõ trong truyện Một đêm thứ bảy. Nhưng tiền ở đâu ra để Mai Thảo có thể ăn xài như một thiếu gia công tử ? Hãy nghe lời nhà thơ Thái Thủy, một người bạn thân của Mai Thảo nói về trường hợp này: “Văn nghệ sĩ Bắc Hà vào Nam được các cơ quan IRC, Asia Foundation và USIS của Hoa Kỳ giúp đỡ lập ra tờ Sáng Tạo và anh Mai Thảo làm chủ nhiệm. Thời bấy giờ Mai Thảo có khả năng tài chánh, viết nhiều feulletons ăn khách, và tờ Sáng Tạo được tài trợ vững. Anh có xe hơi Fiat hiệu Austin, có nơi ăn chốn ở, có danh vọng trong giới văn học và nổi tiếng ăn chơi hào phóng”.

Một trong những người phụ nữ đã chung sống với Mai Thảo nhiều năm là một cô vũ nữ xinh đẹp tên Cúc, hoa khôi của vũ trường Tự Do. Ngoài Cúc ra, vũ trường này còn có Mỹ (Mỹ “Khùng”) là một cặp bài trùng, thuộc hàng đào nhất ở đây. Có tiền, Mai Thảo vừa ăn ở với cô Cúc, nhưng lại lén lút trăng hoa với Mỹ “khùng”.

Nhưng theo nhà văn Văn Quang, thì nàng Cúc không biết gì về văn học nghệ thuật, không hiểu giá trị văn chương và có thể chẳng hề đọc Mai Thảo. Ông viết về mối tình này của bạn mình chỉ là tình yêu ma quái vũ trường chập chờn dưới ánh đèn màu lung linh và sóng nhạc dập dềnh. Cuộc tình chẳng mặn mà, chỉ là một kết hợp theo nhu cầu.

Tờ Sáng Tạo hết tài trợ thì nàng ra đi, được tài trợ thì nàng trở về, nhưng cũng chẳng kéo dài được ba năm. Và rồi, Mai Thảo tìm đến Thái Thanh, để biến thành một cuộc tình tay ba, giữa ba con người nổi tiếng, từng gây xôn xao dư luận một thời. Mai Thảo và một số bạn bè của ông ngụy trang cho tình yêu ngoài luồng này bằng cụm từ “tình yêu nghệ thuật”, “tình yêu ngà ngọc”.

Nhưng theo nhà thơ Thái Thủy thì: “Cuộc tình giữa Mai Thảo và danh ca Thái Thanh không phải là ngà ngọc mà chỉ là lãng mạn”. Điều này có thể đúng với tính chất của Thái Thanh vào thời điểm hạnh phúc gia đình đang bên bờ vực thẳm, đang rất cần một chỗ dựa tinh thần. Nhưng không thể đúng với một gã đàn ông như Mai Thảo.

Đánh ghen bằng nhẫn sắt

Cuối cùng, chuyện vụng trộm của Mai Thảo – Thái Thanh bị Lê Quỳnh phát hiện, ông đã kết thúc mọi việc bằng một trận đòn ghen vào một buổi tối thứ bảy năm 1965, tại phòng trà Bồng Lai. Lúc bấy giờ, Mai Thảo đang ngồi uống rượu với một vài bạn hữu thì Lê Quỳnh xuất hiện. Ông đã giáng một cú đấm như trời giáng vào mặt Mai Thảo nhưng trượt xuống vai.

Tiếp đến là bàn tay được Lê Quỳnh võ trang bằng chiếc nhẫn sắt để tặng cho Mai Thảo một vết sẹo trên má, rồi rút êm. Nếu không có quyền lực của ông  Nguyễn Cao Kỳ can thiệp, vì quý mến Thái Thanh, muốn giữ danh dự cho bà thì báo chí lúc bấy giờ đã làm rùm beng chuyện này lên rồi.

Sau sự cố này, Lê Quỳnh đã tỏ ra hối hận và tìm cách chuộc lỗi với Thái Thanh để tiếp tục chung sống. Nhưng Thái Thanh đã cương quyết từ chối. Sau khi hai người ly dị, ai cũng tưởng Thái Thanh sẽ đến với Mai Thảo, nhưng tất cả đã không diễn ra như thế. Có lẽ trong thời gian yêu nhau, Thái Thanh đã hiểu rõ hơn con người Mai Thảo, dù là một nhà văn nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ là một người tình lang chạ và tất nhiên sẽ không bao giờ là một người chồng tốt. Sau đó, Thái Thanh thành hôn với dân biểu Trần Quý Phong, chủ khách sạn Catinat.

Thái Thanh ngày nay

Bây giờ thì cả Lê Quỳnh, Mai Thảo đều đã thành người thiên cổ, và tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cũng qua ngưỡng cửa 80. Tất cả đã chìm vào quá khứ theo thời gian. Và những thăng trầm cuộc sống đã làm cho người ta lãng quên cho dù đó là chuyện tình giữa ba con người nổi tiếng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC THÁI THANH TRÌNH BÀY :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM

ALBUM NHẠC PHIM HÀI KỊCH (5)

BẠN XEM GÌ TRONG ALBUM :

1/- CA NHẠC

2/- HÀI KỊCH

3/- PHIM ẢNH

4/- ĐÓ ĐÂY

– Danh Ca Thái Thanh 80 năm cuộc đời vẫn hát

https://youtu.be/JIk49JzPWHE

“Mưa Sài gòn, mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương với ban hợp ca Thăng Long : 

https://youtu.be/F_-q370tkTQ

với Quỳnh Giao, Mai Hương và Kim Tước :

https://youtu.be/IwQhWQyeY18

– Những ca khúc Thái Thanh trình bày :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM

NHỮNG CA KHÚC MÙA THU

– Thu quyến rũ – Ánh Tuyết

http://www.youtube.com/watch?v=DJHeid5m2hQ&feature=related

– Nhìn những mùa thu đi – Khánh Ly

http://www.youtube.com/watch?v=gOY_fHWlqWg&feature=related

– Mùa thu cho em

http://www.youtube.com/watch?v=ByFnjjhqMVg

– Trưng Vương khung cửa mùa thu

http://www.youtube.com/watch?v=QqwcJGPtquo

– Mùa Thu không trở lại – Sĩ Phú

http://www.youtube.com/watch?v=qjPBKvQm6X4&feature=related

– Anh đã quên mùa thu – Nam Lộc, Tùng Giang – tiếng hát:Dalena

http://www.youtube.com/watch?v=L8byBhMz54g

– Mùa thu Paris

http://www.youtube.com/watch?v=z4R3fNOvzew

– Mùa Thu mây ngàn – Tuấn Ngọc & Thái Hiền

http://www.youtube.com/watch?v=oO0Nt9q92Gg

– Dáng Thu về

http://www.youtube.com/watch?v=niSFJeziiYk

– Thu Sài Gòn

http://www.youtube.com/watch?v=VdpyNzReq1s

– Chiếc lá Thu phai – Trinh Cong Son

http://www.youtube.com/watch?v=9UTkySHIjP8

– Thu ca

http://www.youtube.com/watch?v=9ishFIpSe-w

– Mua Thu lá bay

http://www.youtube.com/watch?v=cZPPieYZlzY

– Giọt mưa Thu – Đàn bầu

http://www.youtube.com/watch?v=37qw5vNyYzE

– Mùa thu cho em – Ngô Thụy Miên

http://www.youtube.com/watch?v=UVCQoGZw91k&feature=related

– Gọi mùa thu mơ – (Phạm Anh Dũng) Xuân Thanh

http://www.youtube.com/watch?v=fB9K5g_PgtM

– Thu trong mắt em – (Phạm Anh Dũng) Quỳnh Lan

http://www.youtube.com/watch?v=mHYa9Z0pOuc

700 CA KHÚC BOLÉRO THU ÂM TRƯỚC 1975

23 phần nhạc : 30 bài hát nhạc vàng bolero hay nhất

Phần 1 (2:23:39) https://www.youtube.com/watch? v=T0XDhLr0NSQ

Phần 2 (2:26:42) https://www.youtube.com/watch? v=hPzyCZ7RASA

Phần 3 (2:27:08) https://www.youtube.com/watch? v=IK2LrYebJhs

Phần 4 (2:10:32) https://www.youtube.com/watch? v=mH61wsjQ_Ek

Phần 5 (2:24:46) https://www.youtube.com/watch? v=XjawsrbxSKk

Phần 6 (2:30:03) https://www.youtube.com/watch? v=yvWPFzfuKgQ

Phần 7 (2:25:16) https://www.youtube.com/watch? v=PruAjvwD66E

Phần 8 (2:24:26) https://www.youtube.com/watch? v=GaEFSkXkRME

Phần 9 (2:26:57) https://www.youtube.com/watch? v=paQyW5IfGEs&index=4&list=RDa ICGxhO2Ufs

Phần 10 (2:26:39) https://www.youtube.com/watch? v=aICGxhO2Ufs

Phần 11 (2:19:21) https://www.youtube.com/watch? v=VJLPh8LGyJg

Phần 12 (2:23:42) https://www.youtube.com/watch? v=5vL49esZihg

Phần 13 (2:13:26) https://www.youtube.com/watch? v=GwWoJF8aiRc

Phần 14 (2:33:55) https://www.youtube.com/watch? v=p_auyqNyu6s

Phần 15 (2:29:52) https://www.youtube.com/watch? v=cX2fdikyslQ

Phần 16 (2:24:06) https://www.youtube.com/watch? v=bxvwYZQAoA4

Phần 17 (2:26:15) https://www.youtube.com/watch? v=vLezMFPJoE4

Phần 18 (2:26:35) https://www.youtube.com/watch? v=uysaqZgj3lg

Phần 19 (2:16:35) https://www.youtube.com/watch? v=M0kbfMmffls

Phần 20 (2:28:39) https://www.youtube.com/watch? v=XK79TDLflSI

Phần 21 (2:32:49) https://www.youtube.com/watch? v=9HXPAiLbRBQ

Phần 22 (2:14:59) https://www.youtube.com/watch? v=mFkLmnaIQ_8

Phần 23 (2:36:55) https://www.youtube.com/watch? v=796KUFw80wk

– Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Vũ Khanh (1:49’)

https://youtu.be/Ubfi8mIi89M

Những ông hoàng nhạc tình khúc hải ngoại bất hủ với thời gian  : 01/. Trăm Nhớ Ngàn Thương – 02/. Mắt Lệ Cho Người – 03/. Mưa Ngâu – 04/. Riêng Một Góc Trời – 05/. Biệt Ly – 06/. Cô Láng Giềng – 07/. Xót Xa – 08/. Riêng Một Góc Trời – 09/. Tiễn Đưa – 10/. Duyên Kiếp

11/. Tóc Gió Thôi Bay – 12/. Mười Năm Tình Cũ – 13/. Sang Ngang – 14/. Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài – 15/. Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về – 16/. Chiều Một Mình Qua Phố – 17/. Niệm Khúc Cuối – 18/. Tưởng Niệm – 19/. Đời Đá Vàng – 20/. Tình Thư Của Lính – 21/. Phôi Pha

– Những tình khúc nhạc vàng hải ngoại của Thiên Kim, Don Hồ (1:57’)

https://youtu.be/3ZNhe1n4nQA

List : 01/. Tình Chết Theo Mùa Đông – 02/. Tình Đơn Phương – 03/. Dấu Tình Sầu – 04/. Kiếp Đam Mê – 05/. Chuyện Tình Không Suy Tư – 06/. Đêm Vũ Trường – 07/. Sầu Lẻ Bóng – 08/. Tình Nhạt Phai – 09/. Anh Còn Nợ Em – 10/. Trái Tim Mùa Đông

11/. Niệm Khúc Cuối – 12/. Trái Tim Ngục Tù – 13/. Duyên Kiếp – 14/. Người Tình Trăm Năm – 15/. Phút Cuối – 16/. Vết Thương Cuối Cùng – 17/. Khúc Thụy Du – 18/. Vì Đó Là Em – 19/. Biển Nhớ = 20/. Lại Gần Hôn Em

21/. Phận Tơ Tằm – 22/. Cỏ Úa – 23/. Một Thời Đã Xa – 24/. Một Thuở Yêu Người

Trần Văn Trạch & những ca khúc trình bày :

– Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 :

https://youtu.be/kt-raWHjMU8

– Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch

https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975

https://youtu.be/iR157-oVKmY

– Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 Pre 1975) :

https://youtu.be/SsaR0YaNGIg

– Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Thu Âm Trước 1975 :

https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

–  Mùa Thu Chết (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Không (Nguyễn Anh 9) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w

– Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong)

https://youtu.be/-oqlEXaD1h4

– Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)

https://youtu.be/CYZqRCSfsNY

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Hài hước

https://youtu.be/HD5zURWzb8s

– Trả lại cho em

Nhạc Ngô Thụy Miên – Thơ Vũ Quỳnh Anh – Tiếng hát Quỳnh Lan. Mời quý vi nghe nhạc..

https://www.youtube.com/watch?v=9AZxGLw7MCA&feature=youtu.be

– Nỗi nhớ tặng riêng anh

https://youtu.be/cKsq1ls3f20

– 100 Tình Khúc Hòa Tấu Guitar RUMBA nhẹ nhàng (2:00’)

https://youtu.be/Sffma9ZIBTU

– Tiếc Thu tác giả Thanh Trang

https://youtu.be/vdFnbfjlmUU

https://www.facebook.com/hung.phamvan.315428/videos/738417333032015/

– Những ca khúc nhạc không lời của Vô Thường

50 plus videos playlist 

https://www.youtube.com/ playlist?list=PLiF_3MoAECgVh- TNedbSKKXzem-9Z-dZj

– Lâm Minh Thảo :

Nhạc Vàng Bolero Xưa Hay Tê Tái

https://youtu.be/WEdj4vxyI6w

– Thành phố buồn

Chế Linh & Tuấn Ngọc song ca

https://youtu.be/a-hl-Fa4EAQ

Hai kỷ niệm một chuyến đi

Sáng tác : Tuấn Khanh – Hoài Linh – Ca sĩ : Phương Anh (Á Quân Thần Tượng Bolero 2016)

https://youtu.be/ZtMEH9dQBzw

– Ban nhạc AVT – Trước năm 1975 (1:28’)

https://youtu.be/64A0rXoB-os?list=RDgzeYRD_hQMs

– Tứ Trụ Nhạc Xưa (1:54’)

Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, TrỊnh Công Sơn, Từ Công Phụng

https://youtu.be/iXdZeuSx5MQ

– Album dạ vũ nhạc ngoại Rumba Chacha Bebop (0:41’)

Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Lưu Hồng

https://youtu.be/6sxQdnRRYoY

– Tình khúc chiều mưa (0:50’)

https://youtu.be/IEWRMXwxpAg

Album gồm 10 Tình Khúc Nhạc Vàng Bất Hủ do các Ca sĩ: Kim Anh, Thanh Tuyền, Hương Lan, Khánh Ly, Tuấn Anh, Tuấn Vũ thể hiện rất hay

01/. Ai Đưa Em Về – Kim Anh – 02/. Tình Khúc Chiều Mưa – Thanh Tuyền – 03/. Tàu Đêm Năm Cũ – Hương Lan – 04/. Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà – Tuấn Anh – 05/. Trên Đỉnh Mùa Đông – Khánh Ly

06/. Tiếng Còi Trong Sương Đêm – Thanh Tuyền – 07/. Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi – Kim Anh – 08/. Anh Không Chết Đâu Anh – Tuấn Vũ – 09/. Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím – Hương Lan – 10/. Chiều Mưa Biên Giới – Tuấn Anh

– Những tình khúc vượt thời gian (2:09’)

Tiếng hát của Duy Quang, Elvis Phương

https://youtu.be/X1f7EN1_NPk

01/. Mười Năm Tình Cũ – 02/. Thà Như Giọt Mưa – 03/. Trăm Nhớ Ngàn Thương – 04/. Chuyện Hẹn Hò – 05/. Riêng Một Góc Trời – 06/. Lời Đắng Cho Một Cuộc Tình – 07/. Em Là Tất Cả – 08/. Mưa Chiều Kỷ Niệm – 09/. Đường Về Khuya – 10/. Huyền Thoại Một Chiều Mưa

11/. Linh Hồn Tượng Đá – 12/. Lại Gần Bên Nhau – 13/. Ai Cho Tôi Tình Yêu – 14/. Niệm Khúc Cuối – 15/. Những Đồi Hoa Sim – 16/. Bản Tình Cuối – 17/. Duyên Kiếp
18/. Anh Về Kẻo Mưa – 19/. LK Nhìn Nhau Lần Cuối – 20/. Bến Thượng Hải

21/. Tình Thư Của Lính – 22/. Mùa Đông Của Anh – 23/. Đêm Nguyện Cầu – 24/. Gặp Nhau Làm Ngơ

NHẠC PHẨM CỦA NS MAI TRUNG TÍN

– Lời tỏ tình lãng quên

Ca sĩ : Bích Hiền : https://youtu.be/BE2UVnfinuU

– Đường tình ngày xưa

Ca sĩ : Bích Hiền : https://youtu.be/TFen6q8jVBs

– Thà đừng biết nhau

Ca sĩ : Minh Phương : https://youtu.be/Ng6t7qrcAs4

– Bên em cafe đắng –  Trình bày Xuân Trường : https://youtu.be/Js3Vmst7FJY

Chưa xa đã nhớ –  Trình bày Việt Tuấn  : https://youtu.be/k-cUISMyaBY

– Đường về còn xa –  Trình bày Bích Hiền – Việt Tuấn :  https://youtu.be/XD_-QIOKVLI

– Theo chồng 16 tuổi –  Trình bày Bích Hiền :  https://youtu.be/6uDWHUO6Js8

– Nhớ anh gọi tên –  Trình bày : Ngọc Bích : https://youtu.be/iScgvnS9LSM

– Trả nợ tình anh

Thơ : Thanh Vân – Trình bày : Tâm Thư : https://youtu.be/tb0f_2EachU

– Đi thi tài năng (0:24’)

Cười bò lăn với tiểu phẩm của Hoài Linh

https://youtu.be/o07T-w6OW4g

– Áo em chưa mặc một lần (0:44’)

Thúy Nga, Bằng Kiều, Chí Tài, Bé Tí

https://youtu.be/iad3l7rip7A

– Đêm kinh hoàng (0:54’)

Bảo Quốc – Hữu Nghĩa – Chí Tài – Thúy Nga

https://youtu.be/kUeMJjADapQ

– Môn đăng hộ đối (0:38’)

Chí Tài, Hoài Tâm, Việt Hương, Hương Thủy

https://youtu.be/Py-kThk1C0w

– Mã Hỷ Tiểu Tử – lồng tiếng (1:33’)

Chung Tử Đơn, Nguyên Bưu – Phim hành động võ thuật

https://youtu.be/KyYJMJtlBiw

– Hiệp Tặc Cao Phi – lồng tiếng (1:33’)

Châu Nhuận Phát, Nhậm Đạt Hoa – Phim hành động Hồng Kông hay

https://youtu.be/FIgi-S2KAHE

– “Mảnh hổ trang” (1:23’)

Phim Võ Thuật Trung Quốc Gây Cấn, Hấp Dẫn (Thuyết Minh)

https://youtu.be/F3wJeOGS3Bw

– Sát Thủ Tam Giác Vàng (1:11’)

Phim Võ Thuật Đặc sắc

https://youtu.be/vDPHtMoBoXc

– Long Hổ Đặc Cảnh (1:33’)

Hồng Kim Bảo, Mạch Gia – Phim hành động võ thuật Hong Kong

https://youtu.be/u12sQpM9GgU

– “Đại Náo Thiếu Lâm” (1:03’)

Phim võ thuật Trung Quốc về Trương Vô Kỵ (Thuyết Minh)

https://youtu.be/d1ciPG8uSdo

– Bậc thầy túy quyền 2017 (1:31’)

Phim hành động võ thuật – thuyết minh

https://youtu.be/zGCWThlpCfk

Ăn mệt nghỉ trong vườn trái cây ở Miami, Florida  

https://youtube.com/embed/Q btw4nfwupg?rel=0

– Mộ các vị Vua Việt Nam trên đất Pháp

https://www.facebook.com/tran.tanh.7106/videos/1768019400134425/

– Những con vật từ bàn tay

https://www.facebook.com/viralineofficial/videos/1594227917548858/

– Thử trí ?!

Chín lần bảy chẳn sáu ba ? từ đâu lòi ra 3 con lẻ ? Xem rồi lú luôn,

https://www.youtube-nocookie.c om/embed/3PszMaZ5Ipk?rel=0

– Xem video một con voi sinh con

https://youtu.be/97CRwd_U2FU

– Hớt tóc chuyên nghiệp

https://youtu.be/TCgROVZB3Ps

– 13 mẹo cực hay trong cuộc sống

https://youtu.be/B8-zKmDJ9q0

– Mẹo trị thâm nách

https://youtu.be/ckrennUDq6U

Quế Phượng tổng hợp chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (14)

NGƯỜI MẸ

KHÔNG QUEN BIẾT

– Nguyễn Thị Thanh Dương

Người đàn bà lớn tuổi nhếch nhác tay cầm chiếc nón lá tay xách cái ba lô bộ đội màu đã cũ. Bà ghé vào một nhà hỏi thăm :

– Cô ơi cho tôi hỏi nhà ông bà Minh Vũ, họ đi đâu cả rồi ?

Nhà ông Minh Vũ sát nách nhà cô hàng xóm, sáng nay ông bà đi vắng nên cổng đã khoá. Cô nhìn qua cách ăn mặc người đàn bà và nghe giọng nói cũng đoán được :

– Bác từ ngoài Bắc vào thăm ông bà Minh Vũ hả, ông bà vừa đi vắng chốc nữa mới về.

– Ôi, thế thì tôi phải đợi thôi… tôi đáp tàu hỏa từ Bắc vào đây cô ạ.

– Vậy thì mời bác vào nhà cháu ngồi chơi đợi ông bà Minh Vũ về.

Cô rót một ly nước trà mời bà khách của nhà hàng xóm. Bà khách bắt chuyện ::

– Cô ở đây lâu chưa ? Ý tôi là cô hàng xóm với ông bà Minh Vũ lâu chưa ?

– Lâu lắm rồi bác, cháu chơi với Minh Tâm con út ông bà Minh Vũ từ ngày còn bé đến giờ. Tình hàng xóm giữa bố mẹ cháu và ông bà Minh Vũ rất thân thiết…

Bà khách hỏi lại :

– Thế thằng Minh Tâm cũng ở đây với bố mẹ từ ngày ấy đến giờ nhỉ ?

– Dĩ nhiên rồi, hai ông bà Minh Vũ đều thương yêu và cưng chiều Minh Tâm lắm, chưa ai sung sướng bằng Minh Tâm, con út mà cứ như con một ấy..

Người đàn bà thoáng đăm chiêu im lặng, Cô hàng xóm chẳng biết nói gì thêm

– Cô thấy thằng Minh Tâm thế nào ? Nó giống bố hay mẹ ?

– Cháu thấy Minh Tâm giống ông Minh Vũ ở cái cao ráo.

Bà khách nửa đùa nửa thật :

– Thế thử nhìn xem Minh Tâm có giống tôi tí nào không ?

Bây giờ cô hàng xóm mới nhìn người đàn bà kỹ hơn, Minh Tâm giống bà ở đôi mắt mí lót và cái miệng hơi rộng nhưng không kém phần duyên dáng dễ mến. Bà này tuổi trẻ chắc có một thời nhan sắc :

– Vâng, Minh Tâm có vài nét giống bác. Vậy bác là họ hàng về phía ông hay bà Minh Vũ ?

Bà khách Bắc lấp lửng :

– Họ hàng xa ấy mà…

Ông bà Minh Vũ về đến nhà thế là người đàn bà vội cám ơn và từ gĩa cô hàng xóm để sang bên ấy..

Ông bà Minh Vũ có 3 người con, một trai một gái lớn đã lập gia đình ở riêng, cả hai sự nghiệp vững vàng và giàu có chỉ còn hai ông bà với cậu con trai út Minh Tâm, bà ở nhà quán xuyến một cửa hàng tạp hóa ngay gian nhà trước, ông làm công chức nay đã nghỉ việc, kinh tế gia đình khá giả, cậu út tha hồ được bố mẹ cưng chiều.

Cậu út cũng thành đạt như anh chị, Minh Tâm tốt nghiệp bác sĩ y khoa xin được làm ngay tại bệnh viện đa khoa Bà Chiểu chẳng phải xa cha mẹ ngày nào. .Bà Minh Vũ thường hãnh diện nói với hàng xóm :

– Thằng Minh Tâm có hiếu lắm nó bảo sẽ ở với bố mẹ cả đời, cô nào lấy nó phải chấp nhận điều kiện ấy.

Minh Tâm đẹp trai học giỏi như thế, cha mẹ nhà cao cửa rộng như thế thì cô nào dám từ chối điều kiện thường tình ấy.. Nghe đâu Minh Tâm đang yêu một cô gái là ái nữ một bác sĩ chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn. Chuyện nhà ông bà Minh Vũ đẹp toàn vẹn như trong tiểu thuyết.

Cả ông bà Minh Vũ đều ngạc nhiên khi thấy người khách lạ bước vào nhà. Vài phút sau ông Minh Vũ vẫn còn ngờ ngợ :

– Có phải bà là… bà Thi ?

Bà Minh Vũ đã nhận ra :

– Chào bà Thi, mời bà vào nhà…

Bà khách chậm rãi lên tiếng :

– Vâng, tôi xin chào hai ông bà…

Bà khách kín đáo ngắm nghía quanh nhà, ngôi nhà cao ba tầng lúc nãy đã làm bà choáng bây giờ vào bên trong nội thất trang trí lịch sự sang trọng càng làm bà khách choáng thêm. Bà cay đắng nghĩ thầm : “Sao mà số họ cứ mãi giàu có sung sướng thế nhỉ…”

Bà Minh Vũ hỏi :

– Chắc bà vào Nam thăm người thân họ hàng và ghé thăm chúng tôi luôn thể, chúng tôi mừng thấy bà vẫn khỏe mạnh.

– Tôi chẳng có tiền bạc và thời gian đi vào tận đây thăm họ hàng nào cả..

Bà khách buông câu nói lửng lơ dường như để cho chủ nhà thấm thía rồi mới nói thêm:

– Nghe người làng vào Sài Gòn về kể ông bà khá gỉa, thằng Minh Tâm làm bác sĩ tôi mừng lắm, tôi không ngờ cuộc đời tôi lại có được người con tài giỏi như thế nên tôi mới lặn lội đường xa vào thăm con để xem mặt mũi nó ra sao…

Ông bà Minh Vũ cùng nhìn nhau, cùng một câu hỏi trong đầu không biết bà Thi vào thăm con hay vì mục đích gì qua câu nói vừa rồi… Khách Bắc vào thăm nhà ông bà Minh Vũ như những nhà khác sau năm 1975. Bà ở tại nhà ông.bà Minh Vũ vì không có họ hàng nào khác, họ tiếp bà như một người làng và hơn thế nữa như một người thân trong họ.

Ông Minh Vũ xưa là công tử con nhà giàu nhất làng, học giỏi nhưng cũng giỏi ăn chơi bay bướm, cha mẹ cưới cho ông một bà vợ con nhà gia giáo hiền thục để kềm giữ bước chân hoang đàng của ông nhưng không hiệu qủa gì, ăn ở với vợ hai mặt con ông Minh Vũ vẫn chứng nào tật ấy, ông mê đánh bạc và mê đàn bà, ông Minh Vũ đã gặp bà Thi trong một chiếu bạc, hai người kề vai tựa má nhau trong chiếu bạc mà nên tình.. Mối tình đắm say cả làng đều biết.

Bà Thi có thai đẻ ra thằng con trai, bà một mực bắt ông Minh Vũ cưới bà làm thê thiếp nhưng cha mẹ ông Minh Vũ đời nào chấp thuận một người đàn bà bị chồng bỏ vì ăn chơi bạt mạng rồi lang chạ với hết người này đến người kia về làm dâu con trong nhà mình dù là ngôi vị dâu thứ không chính thức.

Thế là bà Thi đem đứa con còn đỏ hỏn đến giao cho ông Minh Vũ, bà Minh Vũ đã giúp chồng, bà chấp nhận nuôi đứa trẻ thơ vô tội, bà cảm kích tình cảnh đứa trẻ bị mẹ bạc đãi, đã xem con chồng như con chính mình đẻ ra. Năm 1954 ông bà Minh Vũ và các con di cư vào Nam. Bà Thi biết trước, biết mình sẽ mất đứa con trai nhưng bà không phản ứng gì.

Thế mà hôm nay bà Thi lại vào Nam tìm thăm đứa con bà đã bỏ rơi. Khi Minh Tâm đi làm về bà Minh Vũ giới thiệu bà khách với con :

– Đây là dì Thi họ hàng bên mẹ. Dì Thi từ Bắc vào thăm gia đình chúng ta.

Minh Tâm đã quen với những khách từ Bắc vào thăm gia đình mình, nào người thân bên họ cha lại người thân bên họ mẹ nên chàng vui vẻ nhã nhặn :

– Cháu chào dì Thi đến chơi

Minh Tâm vô tư bao nhiêu thì bà Minh Vũ lo âu bấy nhiêu. Bà Minh Vũ cứ luẩn quẩn bên con, bà sợ sẽ mất con, bà Thi sẽ làm điều gì đó với thằng Minh Tâm của bà.

Ông Minh Vũ bây giờ không còn là ông Minh Vũ ngày xưa nữa, ông đã là người chồng người cha tốt. Gặp lại người xưa bệ rạc ông cảm thương dù trong thâm tâm ông vẫn oán trách bà Thi trong quá khứ đã lợi dụng đứa con làm tiền ông và đã phủi tay ruồng bỏ đứa con không thương tiếc.

Mỗi buổi sáng ông bà Minh Vũ đều đưa bà Thi ra hàng quán ăn điểm tâm, tiếp đãi lịch sự nay món này mai món khác. Sáng nay sau khi đi ăn phở ở đầu phố về thì cả ba người lại ngồi vào bàn hàn huyên chuyện trò, bà Thi đã kể chuyện đời mình::

– Cái số tôi lận đận chẳng ra gì, sau dạo chia tay ông Minh Vũ thì thời cuộc đến, gía mà tôi cũng di cư vào Nam như ông bà thì đỡ khổ thân tôi. Sau đó tôi lấy chồng, trời quả báo hay sao ấy thằng chồng này dữ dằn vũ phu, tôi chán nó mà không làm gì được nó, không dám bỏ nó, vợ chồng với 3 đứa con sống nghèo khổ trong căn nhà tềnh toàng, vất vả cực nhọc ruộng nương mà cũng chỉ ngô khoai vào bụng..

Bà Minh Vũ bùi ngùi :

– Thế rồi các cháu khôn lớn có khá hơn không ?

– Tài thánh gì má khá lên được hở bà ! 3 đứa con tôi có đứa nào được đi học đến cấp hai đâu, chữ nghĩa chỉ một rúm thì chỉ có đi làm ruộng, làm thuê, đời cha mẹ nghèo đời con cháu cũng nghèo theo, căn nhà vẫn nghèo xấu nhất làng…

Bà Thi than thở xong và thay đổi ngay thái độ :

– Nhưng hôm nay tôi đến đây không để nhận những lời an ủi suông của ông bà đâu nhé. Tôi có việc đấy…

Bà Minh Vũ giật mình:

– Bà nói thế là ý gì ?

– Tôi chẳng có nhiều thì giờ mà ở đây quanh co, nói toạc ra là tôi cần ông bà… giúp đỡ một món tiền về làm vốn…

Ông Minh Vũ nghiêm nét mặt :

– Bà muốn gì ? Bà đang làm tiền chúng tôi đấy hả ?

Bà Thi lạnh lung :

– Ông bà có tất cả những gì mà cả đời tôi không có, hạnh phúc và tiền bạc, thì cũng nên chia cho tôi hưởng chút ít phước đức của ông bà chứ. Hãy đưa tôi một món tiền thì không đời nào thằng Minh Tâm cũng như hàng xóm láng giềng của ông bà biết nó là đứa con già nhân nghĩa non vợ chồng trên chiếu bạc thâu đêm của tôi và ông Minh Vũ. Minh Tâm vẫn mãi là con yêu qúy của bà Minh Vũ và tôi mãi là bà dì họ như bà Minh Vũ đã giới thiệu.

Ông Minh Vũ tức giận :

– Bà đã bỏ rơi nó, đã tống của nợ cho tôi, nếu không có nhà tôi thì tôi không biết xoay sở ra sao. Vậy mà hôm nay …

Bà Minh Vũ ngắt lời chồng :

– Kìa ông, chuyện cũ đã qua bao nhiêu năm rồi…

– Nhưng nghĩ lại tôi vẫn còn hận lắm…

Bà Minh Vũ suy nghĩ một lúc lâu rồi ôn tồn nói với bà Thi :

– Tiền bạc là mồ hôi nước mắt của chúng tôi, nhưng tôi đồng ý, sẽ bàn với nhà tôi đưa bà một món tiền, trước xem như giúp đỡ hoàn cảnh nghèo khó gia đình bà sau là gia đình tôi đang êm ấm không bị xáo trộn, tôi không muốn thằng Minh Tâm bị cú “sốc”, bị tổn thương. Tội nghiệp nó.

Bà Thi hả hê :

– Vậy ông bà quyết định nhanh đi. Khi có tiền trong tay tôi sẽ rời khỏi nhà ra ga xe lửa về bắc ngay và hứa không bao giờ trở lại. Tôi đã ở đây ăn hại nhà ông bà mấy ngày, ông bà tiếp đãi tử tế lắm tôi cám ơn.

Bỗng Minh Tâm xuất hiện, chàng đang từ thang lầu bước xuống làm ông bà Minh Vũ và bà Thi cùng giật mình sửng sốt :

– Con chào bố mẹ, chào…dì Thi..

Bà Minh Vũ lắp bắp :

– Kìa con..con… chưa đi làm sao ?

– Vâng, sáng nay con mệt nên nghỉ ở nhà…

Bà Minh Vũ càng bối rối và lo lắng :

– Mẹ sơ ý qúa cứ tưởng con đã đi làm. Thế con..con.. đã nghe những gì rồi ?

– Tình cờ khi con vừa bước xuống vài bậc thang lầu nghe cha mẹ và dì Thi nói chuyện con càng tò mò nghe thêm và hiểu hết câu chuyện.

Không ai bảo ai cả ông bà Minh Vũ và bà Thi cùng nín lặng chờ đợi Minh Tâm nói tiếp, chàng hướng về phía bà Thi :

– Thưa dì, tôi xin lỗi phải gọi thế dù bây giờ tôi đã biết dì là ai, nhưng tôi khó có thể gọi dì là mẹ khi bỗng dưng một người mẹ không quen biết xuất hiện đã làm tôi ngỡ ngàng và cáng làm tôi ngỡ ngàng đau đớn khi người mẹ ấy đem tôi ra làm vật đổi chác bằng tiền. Ngày xưa dì còn trẻ, hư hỏng và nông nỗi bỏ rơi tôi, hôm nay dì đã bỏ rơi đứa con của dì thêm một lần nữa, vô tâm hơn, tàn nhẫn hơn…

Chàng xúc động nghẹn lời, mãi mới nói tiếp được :

– Bây giờ dì có ra ngoài đường hét to lên cho cả khu phố hay cả thế giới này biết tôi là đứa con nhân tình nhân ngãi của dì với cha tôi ngày xưa cũng không làm tôi xấu hổ hay đau đớn thêm nữa.

Minh Tâm lấy lại bình tĩnh hơn :

– Nhưng thưa dì, tôi vẫn thương cảm cảnh ngộ cuộc đời của dì. Ngoài bố mẹ tôi, tôi cũng sẽ giúp đỡ dì một món tiền để dì sửa chữa lại căn nhà.

Chàng đi lên lầu lấy tiền và mang xuống đưa cho bà Minh Vũ :

– Mẹ đưa số tiền này cho dì Thi giùm con. Bây giờ con phải đi làm còn hơn ở nhà con sẽ buồn thêm và mệt mỏi thêm.

Minh Tâm quay qua bà Thi :

– Chào dì. Chúc dì về nhà bình an.

Bà Minh Vũ gom số tiền của ông bà và Minh Tâm gói mảnh giấy báo và bỏ vào bịch ni lông gói ghém, cột lại cẩn thận trước khi trao tận tay bà Thi. Ngoài món tiền bà Minh Vũ còn mua mấy bộ quần áo mới làm qúa cho con cháu bà Thi. Cái ba lô cũ của bà Thi lúc mới đến lèo tèo vài bộ quần áo cũ nay đã căng đầy lại thêm một túi xách đầy qùa của chủ nhà.

Ăn bữa cơm trưa vội vã xong bà Thi gĩa từ ra về.

Khi bà Minh Vũ vào dọn dẹp lại căn phòng của bà Thi thì thấy gói tiền bọc trong bao ni lông vẫn nằm giữa giường. Tưởng bà Thi bỏ quên nhưng bên cạnh là một mẩu giấy ghi vài hang :

“Tôi xấu hổ qúa, có lẽ cuộc sống nghèo khổ và cái xã hội thiếu tình người bao nhiêu năm nay đã biến tôi thành con người xấu xa đê tiện, tôi ghen tức khi thấy ông bà hạnh phúc sung sướng, tôi tham lam mờ mắt khi thấy ông bà nhà cao cửa rộng.

Minh Tâm, con cho phép mẹ được một lần xưng hô với con thế này. Con đã được ông bà Minh Vũ nuôi dậy thành người tử tế, con tử tế gấp trăm, gấp nghìn lần mẹ. Hãy tha lỗi cho mẹ.

Tôi để lại