CHUYỆN KINH DỊ (4)

LẠNH GÁY 15 ĐỊA ĐIỂM

RÙNG RỢN NHẤT THẾ GIỚI

Những hầm mộ ngay bên dưới lòng đường Paris, đảo hoang chỉ toàn búp bê ma, lâu đài quỷ ám ở Ireland… là những địa điểm huyền bí, rùng rợn nhất thế giới khiến ngay cả những người can đảm nhất cũng phải ớn lạnh.

1/. Rừng Hoia Baciu ở Romania được xem là “Tam giác Bermuda” của tất cả các khu rừng vì sự đáng sợ, rùng rợn của nó. Rất nhiều người đi vào rồi mất tích và không bao giờ trở lại.

Người ta còn đồn thổi rằng, họ thấy rất nhiều đĩa bay của người ngoài hành tinh (UFO) xuất hiện trong khu vực này. Nhiều người cũng tuyên bố nhìn thấy ma quỷ trong rừng.

2/. Hầm mộ Paris : Nằm sâu dưới lòng đường Paris là hầm mộ Paris nổi danh đáng sợ, ghê rợn. Đây là một nghĩa địa nằm dưới lòng thủ đô nước Pháp vốn là hầm mỏ cũ, nhưng kể từ năm 1786 đã được dành để chứa hài cốt. Hầm mộ Paris có chiều dài 1,7 km, địa điểm mở cửa cho khách viếng thăm của hầm mộ nằm ở quảng trường Denfert-Rochereau.

3/. Chợ Voodoo (chợ tà thuật) ở châu Phi. Đây là khu chợ lớn nhất thế giới, nằm ở thành phố Lomé, thủ đô của Togo ở Tây Phi, là nơi bán những sản phẩm “kinh dị” từ đầu khỉ, tắc kè hoa, đầu linh cẩu cho đầu lâu sơn dương, đuôi voi hay những bộ xác còn nguyên vẹn của các loài sóc, chim hay cá sấu… để chữa bệnh, làm thuốc kích dục, hoặc đồ trang trí…

4/. Lâu đài ma ám Leap ở Bắc Roscrea, Ireland được xây dựng vào thế kỷ 15 được xem là một  trong những địa điểm bị ma ám nặng nề. Nơi đây lưu truyền tin đồn về các hồn ma vô cùng đáng sợ. Trong đó hồn ma gây kinh hãi nhất là hồn ma có kích thước to bằng con cừu có khuôn mặt bị thối rữa và có mùi nồng nặc của lưu huỳnh.

 5/. Giếng không đáy nuốt người Jacob ở Wimberley, bang Texas, Mỹ. Giếng này đã “nuốt” không ít người vào trong lòng hố sâu thẳm của mình. Nhiều người trong số này là những thợ lặn nhiều kinh nghiệm. Giếng Jacob nằm ở đáy con suối, chạy dọc xuống khoảng 10 m trước khi mở rộng phía trong lòng với nhiều ngóc ngách thêm 40 m độ sâu nữa.

Có một hệ thống hang động ngầm chằng chịt nằm trong nó, thu hút nhiều người lặn xuống khám phá. Nhiều người lặn xuống sâu rồi không thể quay lên được nữa. Các nhà khoa học cho rằng, tại những khu vực nguy hiểm nhất của giếng, con người dễ rơi vào trạng thái ảo giác do bị ngộ độc khí nitơ.

6/. Cổng địa ngục ở Derweze, Turkmenistan. Đây là một cái hố khổng lồ đường kính 70m cháy hừng hực cháy suốt hơn 40 năm qua và chưa có dấu hiệu sẽ sớm lụi tàn. Nguồn gốc của cổng địa ngục này là vào năm 1971, Các chuyên gia Liên Xô đã khoan và đào khu vực trên và chạm đến một cái hang lớn chứa đầy khí đốt tự nhiên. Lo ngại cái hố này sẽ dẫn đến rò rỉ khí độc hại, các chuyên gia quyết định đốt nó. Và kết quả là lượng khí đốt bên dưới quá dồi dào, khiến ngọn lửa trong hố cứ cháy mãi không tắt.

7/. Thành phố ma Oradour-sur-Glane (Pháp) bị bỏ hoang từ sau vụ thảm sát kinh hoàng do Đức Quốc xã tiến hành trong năm 1944. 642 người – phần lớn là phụ nữ và trẻ em – đã bị giết hại. Tướng Pháp khi đó là Charles de Gaulle đã tuyên bố cả thị trấn này sẽ bị bỏ hoang và trở thành đài tưởng niệm in đậm dấu ấn cho sự tàn ác của Phát xít. Ngày nay, thành phố vẫn không có người ở. Nhiều người khẳng định, họ nhìn thấy những bóng ma đi lang thang trong thành phố vắng tanh.

8/. Các hang động xác ướp Kabayan Mummy (Philippines). Các hang động này là bằng chứng văn hóa của tộc tộc Ibalois – nhóm tộc người bản địa sinh sống ở vùng miền núi Cordillera trên bán đảo Luzon, những người thực hành ướp xác trong suốt những năm 1200 đến 1500 trước công nguyên, cho đến khi thực dân Tây Ban Nha xâm chiếm Philippines, việc thực hành ướp xác đã bị cấm, người chết được đặt trong quan tài bằng gỗ táng tại bãi chôn lấp tự nhiên như hiện nay. UNESCO đã đưa Kabayan Mummy vào danh sách 100 di sản bị đe dọa nghiêm trọng trên thế giới.

9/. Đồi thánh giá Kryziu Kalnas ở Lithuania. Tại đây, người ta có thể thấy hơn 100.000 nghìn cây thánh giá với các kích cỡ khác nhau làm bằng kim loại, gỗ và đá granite được xếp chồng lên nhau, có cây cao tới 5m. Không ai biết chính xác phong tục để lại những cây thánh giá trên ngọn đầu bắt đầu từ khi nào. Sau đó, trong suốt thời kỳ đấu tranh giành độc lập của Lithuania, dân chúng dựng những cây thánh giá trên đồi như một hình thức tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì đất nước.

10/. Pháo đài ma Maunsell : nằm tại các cửa sông Thames và Mersey của Anh, các pháo đài Maunsell từng bảo vệ đảo quốc sương mù trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 trước những cuộc không kích của phát xít Đức. Maunsell có hai loại pháo đài – một loại dành cho lục quân, còn một loại dành cho hải quân. Mỗi pháo đài bao gồm 7 tháp, với một tháp ở trung tâm. Từng giúp quân đội đồng minh đánh chặn phi cơ chiến đấu của Đức Quốc xã trong chiến tranh thế giới thứ 2, song giờ đây Maunsell đã bị bỏ hoang, chỉ còn là những khối sắt hoen rỉ trên biển.

11/. Đảo ma Varosha nằm trên bờ biển của đảo Síp. Nhìn từ xa, hòn đảo trông giống như một thành phố sầm uất. Tuy nhiên, Varosha đã bị bỏ hoang từ khi cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra, cả thành phố nhanh chóng được sơ tán. Người dân không bao giờ quay trở lại hòn đảo này và nó thành đảo ma từ năm 1974.

12/. Khu nghỉ dưỡng San Zhi ở Đài Loan. Từng có thời gian San Zhi Resort  được xem là nơi nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí đa dạng, lý tưởng. Tuy nhiên, do có rất nhiều người tử vong trong quá xây dựng, hoàn thiện khu nghỉ dưỡng này nên nhà đầu tư đã từ bỏ dự án, biến San Zhi trở thành nơi hoang phế.

13/. Thành phố Centralia , Pennsylvania (Mỹ). Một thời, Centralia từng là nơi cư ngụ của gần 3.000 cư dân, với các cửa hàng bách hóa tổng hợp, nhà thờ, khách sạn và các quán bar… Centralia giàu có nhờ việc khai thác than ở các sườn đồi Pennsylvania. Nhưng cũng chính than đá về sau trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sự sụp đổ hoàn toàn của thành phố này và biến nó thành một thành phố ma như hiện nay.

14/. Đảo búp bê Isla de las Munecas ở Mexico. Nằm biệt lập giữa kênh đào Xochimico, trên khắp hòn đảo Isla de las Munecas đầy rẫy những con búp bê với chân tay, đầu tóc bị cắt rời, với những đôi mắt trống rỗng vô hồn treo lủng lẳng trên các cành cây hoặc cắm trên cọc nhọn. Nhiều câu chuyện được thêu dệt kể rằng, những con búp bê này di chuyển được, mắt chúng thỉnh thoảng lại mở ra để quan sát, chúng nói thầm với nhau trong đêm tối và dụ dỗ người tới đảo để giết hại…

15/. Ga ttàu điện ngầm ở Cincinnati (Mỹ). Trong những năm 1990, bên dưới đường phố nhộn nhịp của Cincinnati một dự án xây dựng hệ thống đường hầm cho tàu điện ngầm. Tuy nhiên, đang xây dựng dở thì dự án phải dừng lại vì hết tiền. Hệ thống tàu điện ngầm do đó cũng bị bỏ hoang, bầu không khí lạnh lẽo nơi đây khiến nhiều người sởn gai ốc khi tới đây. (Phương Đăng theo The Richest)

RÙNG MÌNH

TRƯỚC NHỮNG SINH VẬT

HUYỀN BÍ NHẤT THẾ GIỚI

Trái Đất với muôn vàn bí ẩn, là ngôi nhà chung của vô số các loại sinh vật, trong đó tồn tại không ít những giống loài huyền bí khiến chúng ta ghê rợn. Và cho đến giờ những cái tên sau đây vẫn là câu hỏi lớn của toàn nhân loại.

1/- Agogwe (Người rừng tí hon) Cơ thể sống này được biết đến lần đầu tiên vào năm 1900 ở Đông Phi bởi thuyền trưởng người Mỹ William Hitchens. Theo ông, Agogwe gần giống như người tí hon với bộ lông màu cam. Thuyền trưởng cho biết ông đã nhìn thấy một người đàn ông cao khoảng 120 cm.

Có một giả thuyết cho rằng, sinh vật quái lạ kia có thể là khỉ Bonobo hay còn gọi là tinh tinh lùn. Nó có hình dạng gần giống người, tay chân mảnh khảnh và bộ lông đỏ cam. Một số khác cho rằng nó là Australopithecus (Chi Vượn người phương Nam), loài linh trưởng từng sống ở châu Phi 4 triệu năm trước.

2/- Yeti (Người tuyết) Yeti được cho là từng xuất hiện ở khu vực Himalaya, được gọi bởi nhiều cái tên khác nhau như: người rừng, người gấu, người hoang dã, người tuyết… Người ta miêu tả đó là một sinh vật giống người vượn, lông trắng và cơ thể toát ra mùi tanh ghê tởm.

Yeti được cho là sinh sống ở các khu vực miền núi và sống biệt lập với thế giới của chúng ta. Đến nay, Yeti vẫn là một trong những sinh vật huyền bí nhất thế giới.

3/- Quái vật hồ Loch Ness (Nessie) Nessie có vẻ là con thủy quái nổi tiếng nhất mọi thời đại. Lần đầu tiên người ta trông thấy nó là vào năm 1802. Nhân chứng năm đó là anh nông dân Anderson, anh cho biết mình đã trông thấy một con vật khổng lồ, dài khoảng 45m, trồi lên trên mặt hồ.

Theo thống kê, trong 40 năm trở lại đây đã có hơn 3.000 lần Nessie được trông thấy. Không biết lời kể của các nhân chứng có thật hay không, tuy nhiên, tất cả những người chứng kiến đều có mô tả gần giống nhau.

Có rất nhiều bức ảnh chụp được Nessie nhưng hầu hết đều mờ mịt, không rõ ràng. Dựa vào những mô tả, nhiều người tin rằng nó là hậu duệ của khủng long. Câu chuyện về Nessie đến nay vẫn chưa có hồi kết và có lẽ nó thật sự chỉ là tưởng tượng của con người.

4/- Ogopogo (quái vật hồ Okanagan) Lại một thủy quái tương tự như Nessie. Nó được cho là đã xuất hiện ở hồ Okanagan (Canada). Ogopogo được mô tả phổ biến nhất là một con rắn biển có 40-50 chân, dài khoảng 12-15m. Các nhân chứng cho biết, nó là một sinh vật dài, tối màu, nổi lên ở giữa hồ. đến nay nó vẫn còn là bí ẩn của nhân loại.

5/- Jersey Devil (quỷ Jersey) Jersey Devil thực sự là một trong những sinh vật đáng sợ nhất từng được nhìn thấy. Mình và mặt nó trông giống như ngựa, cổ dài, đầu có sừng và có 2 cánh. Bàn tay có vuốt, móng guốc và đuôi thì chẻ ra làm hai. Sinh vật huyền thoại này được cho là sinh sống ở Pine Barrens, miền Nam New Jersey (Hoa Kỳ).

Sự tồn tại của nó bắt nguồn từ một truyền thuyết có từ những năm 1700, một người phụ nữ ở vùng này đã hạ sinh một đứa con bị nguyền rủa với mình ngựa, cánh dơi và đuôi chẻ đôi. Tuy sự thật về sinh vật này vẫn còn là ẩn số, nhưng đầu năm 1900, nhiều người dân khẳng định đã tận mắt thấy quỷ Jersey. Họ nói nó cao khoảng 1,8m, đi bằng 2 chân sau, đầu chó, mặt ngựa, cánh dơi và có sừng.

6/- Mothman (Người Bướm) Từ năm 1966, cư dân sống tại thung lũng Ohio (Tây Virginia, Mỹ) đã liên tục thấy một con vật đầy ma quái bay lượn trên bầu trời. Nó được mô tả là trông như một người đàn ông, cao khoảng 2m, có sải cánh dài 3m, lông màu xám, đôi mắt đỏ rực như lửa, có thể lao thẳng lên trời với tốc độ 160 km/h, tiếng kêu như tiếng chuột đang ré lên và gây nhiễu các đài phát thanh truyền hình.

John Keel, một người chuyên nghiên cứu các hiện tượng bí ẩn cho rằng nó là sinh vật ngoài hành tinh đến Trái Đất để khảo sát, nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại cho rằng đó là một loài cú có sải cánh rộng thường sống ở Ohio, chúng cũng có tiếng kêu khá ghê rợn nên làm mọi người hoảng sợ,

7/- Chupacabra (quỷ hút máu dê) Chupacabra là sinh vật được đồn đại nhiều ở Puerto Rico trong những năm 1990. Theo lời đồn thì sinh vật này khá giống kangaroo, sở hữu hàm răng sắc nhọn, da xám, tay đầy lông, lưng có những gai nhọn, 2 mắt đỏ ngầu, một vài người còn nói rằng chúng có cánh.

Các nhà nghiên cứu UFO (vật thể bay không xác định) lại nghĩ nó là sinh vật ngoài hành tinh. Số khác lại khẳng định, đây chỉ là một truyền thuyết thành thị, tất cả chỉ do con người thêu dệt nên.

8/- Owlman (Người Cú) Owlman được nhìn thấy lần đầu tiên ở Mawnan (Cornwall, Anh) vào năm 1976. Chúng được phát hiện đang lơ lửng trên các nhà thờ ở Manwan. Kể từ đó, người dân trong vùng đã nhìn thấy chúng khá nhiều lần cho đến năm 1978.

Mọi người bắt đầu truyền tai nhau, nếu nhìn vào đôi mắt của con “cú địa ngục” ấy thì sẽ lập tức hóa đá. Sau một thời gian thì chúng hoàn toàn biến mất nên không hề có thêm bằng chứng nào để chứng minh chúng có tồn tại hay không. Ở thời điểm xảy ra các sự việc lạ lùng trên, nhiều người cho rằng có thể nó thực sự chỉ là một con cú lớn.

8 ĐỘNG VẬT KỲ BÍ

NHƯ TỪ TRUYỀN THUYẾT

Những con vật được miêu tả trong các câu chuyện thần thoại luôn có hình dáng kỳ bí, có khi hung dữ, có khi tuyệt đẹp. Nếu từng tìm hiểu về loài rồng bạn sẽ thấy rồng được mô tả phổ biến như sau : Có mình như rắn, vảy như cá, bờm như sư tử, sừng như hươu và biết bay lượn như chim.

Vậy nên chúng ta có thể gọi rồng là một sinh vật lai. Sự tồn tại của rồng vẫn là một điều gây nhiều tranh cãi, nhưng liệu bạn có biết về những sinh vật lai tồn tại trong thực tế ?

8 loài vật lai tuyệt đẹp dưới đây sẽ làm bạn ngạc nhiên khi sở hữu ngoại hình vô cùng ấn tượng.

1/. Liger : Liger (Lion và Tiger) – Sư tử đực lai với hổ cái: Mặc dù có những lời đồn về sự tồn tại của Liger ngoài tự nhiên, nhưng những con Liger được biết tới chỉ tồn tại trong điều kiện nuôi nhốt, khi người ta ép sư tử đực phối giống với hổ cái. Những con Liger lớn cực nhanh, và là một trong những loài mèo lớn nhất thế giới. Nó cũng giữ kỷ lục trong thế giới mèo về cân nặng: 410 kg.

2/. Tigon ; Tigon (Tiger và Lion) – Hổ đực lai với sư tử cái : Tương tự như Liger, Tigon cũng tồn tại trong điều kiện nuôi nhốt. Và điều đáng chú ý là cả Tigon và Liger đều có thể sinh sản thế hệ tiếp theo trong điều kiện lai tạo này.

3/. Jaglion : Jaglion (Jaguar và Lion) – Báo đốm đực lai với sư tử cái : Đây là một cá thể lai khá đặc biệt, ảnh được chụp tại Ontario, Canada. 4/. Zonkey : Zonkey (Zebra và Donkey) – Ngựa vằn lai với lừa: Là một giống lai thuộc dòng Zebroid, cá thể lai giữa ngựa vằn với một loài ngựa khác cùng chung chi lớn. 5/. Coywolf : Coywolf (Coyote và Wolf) – Sói đồng cỏ lai với chó sói: Theo các nhà khoa học, khoảng 150 – 300.000 năm trước chúng mới bị phân tách thành 2 loài. Coywolf mang nhiều đặc điểm chung của loài sói đồng cỏ và chó sói.

6/. Zebroid :  Zebroid (Zebra và Equine) – Ngựa vằn lai với các cá thể cùng chung chi lớn: Những con Zebroid thường rất khó thuần hóa, và hung bạo hơn so với ngựa thông thường. 7/. Wholphin : Wholphin (False Killer Whale và Bottlenose Dolphin – Cá giả hổ kình đực lai với cá heo mũi chai cái: Hiện trên thế giới chỉ có duy nhất một con Wholphin đang được nuôi nhốt. 8/. Geep : Geep (Goat và Sheep) – Dê lai với cừu : Đây cũng là một cá thể lai hiếm vì chúng thường chết non.

KHÁM PHÁ NHỮNG HỒ NƯỚC

HUYỀN BÍ NHẤT THẾ GIỚI

Nước màu xanh trong veo, thậm chí màu hồng hoặc màu cam đó là cấu tạo của những hồ nước kỳ lạ nhất thế giới. PNNN ngày nay đưa bạn vòng quanh thế giới khám phá những hồ nước kỳ lạ này nhé.

1/- Biển Chết : Nằm giữa Jordan, Israel và Palestine Biển Chết là vùng biển có kiến tạo đặc biệt, nước biển rất mặn,  nồng độ cao gấp 9,6 lần so với nước biển bình thường. Nên khu vực này hầu như không có sinh vật nào sinh sống được cả, chỉ có một ít nấm và vi khuẩn. Với một hàm lượng muối và khoáng chất cao người ta cho rằng nước biển ở đây có thể chữa được một số bệnh nấm ngoài da. Nên nhiều người tìm đến đây để được ngâm mình trong nước và tận hượng cảm giác lạ.

2/- Hồ Berryessa, California : Berryessa là hồ thủy điện lớn nhất thuộc hạt Napa, California hồ nước không chỉ mang lại nguồn lợi thủy điện cho dân cư khu vực này. Mà đây trở thành điểm hút khách du lịch bởi những hố tròn nằm bên trong lòng hồ. Khi nước dâng cao, những hố tròn này tạo dòng chảy đẹp mắt.

3/- Hồ Crater : Hồ Cracter được hình thành bởi dung nham núi lửa phun trào cách đây 7.700 năm, hồ nước sâu hơn 2000 m được xem là hồ nước sâu nhất nước Mỹ, thứ 7 thế giới. Điều đặc biệt là hồ nước này không hề nối liền với bất cứ dòng sống, suối nào nên nguồn nước ở đây tinh khiết, không bị ô nhiễm. Trên hồ có hai hòn đảo, đảo wizard vàđảo Phantom.

4/- Hồ Baikal, Siberia : Theo nghiên cứu và khảo sát của các nhà khoa học Mỹ và Nga, hồ BaiKal có trầm tích lưu lại khí hậu cách đây khoảng 250.000 năm. Điều này chứng tỏ, hồ Baikal là hồ nước có từ lâu đời, cổ xửa nhất trong lịch địa chất, ước tính niên đại khoảng 25 – 30 triệu năm.

Mùa đông hồ đóng băng dày đặc, bạn có thể di chuyển chạy ô tô trên mặt băng mà không lo sợ băng tan, hồ đa dạng sinh học, với 80% loại động vật sinh sống và hơn 1000 loại thực vật phát triển mạnh. Hồ được UNESCO bình chọn là Di sản văn hóa thế giới năm 1996.

5/- Hồ Abraham, Alberta, Canada : Hồ Abraham là hồ nước nhân tạo ở Alberta, phía Bắc sông Saskatchewan Canada. Mùa hè nước hồ xanh biếc, mùa đông mặt nước bị đóng băng hoàn toàn, trên bề mặt nổi lên những băng tuyết hình bong bóng tuyệt đẹp.

6/- Hồ Green, Áo : Hồ Green là một trong những hồ nước kỳ lạ tại Áo, vào mùa đông nước rút gần cạn, nơi sâu nhất khoảng 2m, nên người ta tận dụng nó như một công viên có những chiếc ghế ngồi để thư giãn. Khi mùa xuân đến, băng tan, nước đổ xuống nhấn chìm tất cả cảnh quan, bao gồm cả ghế đó, nước ngập cả công viên. Tuy nhiên nước ở đây rất trong có thể nhìn thấy tận đấy hồ. Những người thợ lặn thích thú khám phá lòng hồ, thậm chí họ có thể ngồi thư giãn trên ghế đá, leo cây ở dưới lòng hồ.

7/- Hồ Taal, Batangas, Philippines : Là hồ nước ngọt lớn thứ 3 của Philippines thuộc tỉnh Batangas với khung cảnh hoang sơ, vẻ đẹp tự nhiên nơi đây được nhiều du khách tìm đến để ghi lại những bức hình đẹp nhất. Hồ được hình thành trên miệng núi lửa ngừng phun trào cách đây khoảng 100.000 – 500.000 năm. Do khu vực này lượng mưa lớn nên đã dập tắt núi lửa hoạt động.

8/- Cửu Trải Câu : Khu danh thắng Cửu Trại Câu thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, hệ thống hồ nước ở đây được thiên nhiên kiến tạo đẹp mặt, tựa như chốn bồng lai tiên cảnh. Là điểm đến yêu thích của khách du lịch.

9/- Hồ Hillier – hồ màu hồng ở Tây Úc : Lầ hồ nước nằm trên quần đảo Recherche ở Tây Úc, hồ nước này nổi bật với màu hồng đẹp mắt. Đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được vì sao hồ nước này lại có màu đặc biệt như vậy. Nhưng các nhà khoa học phát hiện hồ nước có chứa hàm lượng muối cao, rất mặn.

10/- Hồ Plitvice ở Croatia : Hồ Plitvice nằm bên trong công viên quốc gia Plitvice ở Croatia đồng thời là công viên lớn nhất đất nước này. Đây cũng là công viên lâu đời nhất khu vực Đông Nam châu Âu. Được đánh giá là hồ nước đẹp nhất thế giới, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1979. Mỗi năm nơi đây, thu hút khoảng 1,2 triệu khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đến thăm. Toàn bộ công viên có 16 hồ nước được xếp theo hình bậc thang, các hồ nước hình thành những con đập tự nhiên.

11/- Hồ Spotted ở British Columbia, Canada : Hồ Spotted hay còn gọi là hồ đa màu, bởi hồ có nhiều màu sắc đan xen nhau tạo thành một khung cạnh lạ lẫm, kỳ bí. Theo các nhà khoa học hồ chưa nồng độ cao các loại kháng chất  magnesium sulfate, canxi và sulfat sodium. Ngoài các khoáng chất nêu trên hồ cũng chứa nhiều khoáng sản trong đó cả một lượng đáng kể bạc và titan. Hồ nước này được cho có thể chữa bệnh. (theo Bình Nguyên)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN KINH DỊ (3)

CON MA Ở RẠP LIDO  

Văn Nhân là văn sĩ nổi tiếng đã có vài chục tác phẩm xuất bản. Nếu như sinh ra ở Hoa Kỳ hay Tây Phương thì chàng ta đã trở thành triệu phú, đời sống đế vương. Thế nhưng thị trường chữ nghĩa của người Việt hải ngoại thì nhỏ, “văn chương hạ giới lại rẻ như bèo”, báo free, báo biếu, báo chợ, báo cắt dán khơi khơi đăng truyện của chàng mà không phải trả nhuận bút, nhà xuất bản kiếm được mớ tiền khi xuất bản sách của chàng… thế nhưng chính tác giả lại nghèo kiết xác.

Bên cạnh viết văn là nghề tay trái, chàng lại phải có nghề tay phải là bán bảo hiểm để sinh sống. Thế nhưng văn nhân, nghệ sĩ mà chọn nghề bán bảo hiểm là chọn lầm nghề cho nên cuộc sống vẫn không khá. Vào những năm đầu của thập niên 1990 hải ngoại nở rộ phong trào trình diễn đại nhạc hội, thu hình rồi sản xuất băng Video, đáp ứng đúng thị hiếu giải trí của đa số người Việt lớn tuổi không sao thích nghi với nền văn hóa, văn nghệ xứ người và tiếc thương những gì của những ngày tháng cũ mà Hằng Nga là trung tâm độc quyền, nổi tiếng nhất.

Giới thiệu chương trình văn nghệ thì ai mà chẳng giới thiệu được. Thế nhưng nếu MC là một cô gái hay một cậu mặt mũi dễ coi, ăn nói duyên dáng thì cũng khá hơn là cứ phải nghe, phải nhìn những khuôn mặt khó coi, ăn nói rẻ tiền, xuất hiện trên sân khấu. Chính vì thế mà Trung Tâm Hằng Nga đã tìm tới Văn Nhân. Mới đầu thì Văn Nhân từ chối, vì nhà văn có khi nào lên sân khấu ? Ngay soạn giả tuồng cải lương cũng còn không lên sâu khấu nữa kìa. Nhưng vì bà vợ thúc ép quá cho nên Văn Nhân “Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Thử xem con tạo xoay vần tới đâu.”

Thế nhưng do “tổ đãi”, do tài ăn nói lưu loát, kiến thức rộng của nhà văn, ngôn ngữ có lựa chọn, dù đôi khi cứng nhắc nhưng không đến nỗi bình dân và rẻ tiền, lại biết cách làm việc, thêm đầu óc khôi hài dí dỏm… cho nên đã chinh phục ngay được khán giả. Ở hải ngoại, người ta mua băng Hằng Nga về để xem, làm quà biếu bạn bè, chiếu trong các quán ăn, quán nhậu, quán Karaoke, quán cà-phê và nhất là trên các chuyến xe đò xuyên bang… khiến Văn Nhân nổi tiếng như cồn, còn hơn cả tăm tiếng của nhà văn năm xưa.

Bề ngoài tiền bạc và danh vọng thì như vậy, nhưng bên trong không phải không có những xung đột nội tâm. Từ giã cuộc sống trầm mặc của nhà văn thường suy nghĩ về chiều sâu triết lý của cuộc sống, sẵn sàng tố cáo những cái kịch cỡm, thói hư tật xấu của xã hội… nay lao vào cuộc sống bèo bọt của thế giới âm thanh, khóc than, nói cười trên sân khấu… nhiều khi chỉ là những gì nhai lại, Văn Nhân không tránh khỏi những giây phút chạnh lòng, nhất là trong việc giới thiệu ca sĩ.

Cái khổ là Văn Nhân thường phải vò đầu, bứt  trán để “sáng chế” ra những mỹ từ sao cho thích hợp với từng người. Chẳng hạn, đối với ông bà ca sĩ nổi tiếng ngày xưa nay đã “sáu, bảy bó” nhưng vẫn còn lên sân khấu thì Văn Nhân phong cho câu “tiếng hát vượt thời gian”. Điều đó có nghĩa là “cái già chẳng ăn thua gì, ông bà đây vẫn hát hay, giọng vẫn trong trẻo, ngọt ngào như thời còn son trẻ.” Rồi thì “giọng hát mượt mà” để ai muốn hiểu sao thì hiểu, để phong tặng các ca sĩ có lẽ có thân hình “mượt mà” hơn là giọng hát.

Rồi “đây là ca sĩ đang lên”, “được ưa chuộng nhất” để giới thiệu các ca sĩ hạng vừa vừa, hát đệm trong chương trình. Rồi thì khi cô, cậu nào có giọng hát bình dân chuyên điệu Boléro… thì Văn Nhân hiểu rằng không còn cách giới thiệu nào hay hơn là cho họ danh hiệu “làm sống lại hình ảnh Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết của thập niên 1950”. Rồi còn các cô cậu ca sĩ lần đầu tiên được Trung Tâm Hằng Nga lăng-xê thì Văn Nhân tán “sự xuất hiện của… sẽ đem lại nhiều luyến nhớ cho khán  giả.”

Sống trong thế giới xô bồ, hỗn tạp của ca nhạc và ánh đèn sân khấu như thế, do bản tính trầm mặc cố hữu, Văn Nhân tránh các buổi tụ họp tán gẫu sau mỗi lần trình diễn của các ca sĩ. Hơn nữa tính của bà xã lại hay ghen, thỉnh thoảng bíp, sau này thì gọi cell phone để kiểm soát xem “thằng chả” có lẹo tẹo với cô nào không ? Nổi tiếng rồi thì mấy cô gái trẻ bám theo là chuyện thường lắm. Cứ cảnh giác cho chắc ăn.

Trung Tâm Hằng Nga thường tổ chức các show tại rạp hát Lido nằm ở 116 bis Avenues des Champs – Elysees của Paris là một hý viện cổ xây cách đây cả trăm năm nhưng cũng nổi tiếng vì có ma…. nhưng không phải ma Tây mà ma Việt. Các văn nghệ sĩ Tây, Đầm trình diễn ở đây bàn tán rằng họ thường xuyên thấy một thiếu phụ Việt Nam, ăn mặc theo kiểu quý phái của Sài Gòn – Gia Định những năm 1920.

Về đêm, trong những lúc vắng vẻ cứ từ phòng quản lý ở trên lầu thướt tha bước xuống. Rồi có khi con ma ngồi xuống bên cạnh hoặc đứng sau lưng các nghệ sĩ, im lặng không nói gì. Trong không khí chộn rộn ở hậu trường, người ra người vô nên chẳng ai để ý. Ai cũng cho đó là nhân viên của đoàn hát hoặc có thể một khán giả nào đó ái mộ các nghệ sĩ cho nên tìm cách vào hậu trường nhìn cho thỏa thích.

Thế nhưng khi giật mình, quay nhìn cho kỹ thì họ không thấy con ma đâu mà chỉ thấy một người đàn bà đang bước vội lên lầu rồi biến mất vào phòng quản lý. Thậm chí có người còn nói, những lúc về khuya đã trông thấy con ma lang thang trên sân khấu hoặc ngồi ủ rũ trên hàng ghế của khán giả một hồi lâu rồi biến mất.

Hôm nay, không giống như mấy show trước, sau buổi trình diễn, do mỏi mệt bởi chuyến bay đường dài xuyên lục địa, rồi nào là tập dượt và mất ngủ vì lạ nhà, Văn Nhân không theo đám văn nghệ sĩ kéo ra khu chợ Việt ở Quận 13 ăn cháo khuya, tán dóc.

Chàng tựa đầu vào một chiếc ghế bành và thiếp đi lúc nào không hay. Vừa chợp mắt được dăm ba phút chàng thấy từ trên lầu một thiếu phụ bước xuống. Thiếu phụ khoảng 25 tuổi, khuôn mặt thật đẹp nhưng vương vấn nét buồn diệu vợi. Đầu nàng vấn tóc trần với chiếc trâm bạc dắt ngang, cổ đeo kiềng vàng. Nàng mặc một chiếc áo nhung màu huyết dụ làm nổi bật chiếc cổ cao và đôi bàn tay trắng ngần. Thiếu phụ đi đôi hài nhung đen thêu chỉ vàng làm bước đi của nàng nhẹ như mây bay.

Tất cả vóc dáng, trang phục khiến con người thiếu phụ tỏa ra một vẻ đẹp quý phái lạ lùng. Trong đầu óc vừa mệt mỏi vừa mơ màng, khi nhìn thấy thiếu phụ, Văn Nhân nghĩ rằng đây có thể là một vũ công mà Trung Tâm thuê mướn, hóa trang, trình diễn phụ với các ca sĩ, dĩ nhiên là nhiều cô rất đẹp, cho nên chàng lên tiếng hỏi :

– Sao cô không đi ăn cháo khuya với mọi người ?

Bằng giọng nói rất nhỏ nhẹ, cô gái đáp :

– Em không phải là nhân viên của đoàn hát. Em là chủ nhân của hý viện này.

Nghe nói thế Văn Nhân giật mình hỏi :

– Cô còn trẻ quá, làm sao cô có thể làm chủ một hý viện to lón như thế này ?

Vẫn với giọng nói như trong mơ, cô gái đáp :

– Hý viện này đã qua bao đời chủ nhưng em là chủ nhân của nó cách đây khoảng 70 năm.

Nghe cô gái nói thế, Văn Nhân nổi da gà và giọng nói trở nên ấp úng :

– Thế thì cô là ma hiện về à ? Bởi vì nếu gần 70 năm thì cô phải là một bà lão chứ sao trẻ đẹp như thế này ?

Nghe hỏi thế cô gái đáp ngay :

– Phải, em là ma nhưng xin ông đừng sợ vì em chẳng hại ai cả. Em chẳng hiểu sao người ta lại sợ ma.

Rồi như thể câu nói đã gợi lên bao nỗi đau, cô gái bật khóc, nói :

– Em chết cách đây 70 năm. Đời em là một khúc nhạc bi thương. Em chưa hề kể chuyện ấy cho ai. Nay thấy ông là một nhà văn, có thể truyền đạt cho đời, cho nên em mới mạo muội kể ra. Ông có vui lòng lắng nghe không ?

Nói xong cô gái tự nhiên ngồi xuống chiếc ghế bành bên cạnh. Là một nhà văn, thích nghe cũng như quan sát chuyện đời rồi dặm mắm dặm muối thêm vào đó để viết thành tiểu thuyết. Hơn thế nữa câu chuyện lại lạ lùng cho nên đầu óc tò mò trấn áp cả nỗi sợ ma cho nên Văn Nhân nói cứng :

– Cô cứ nói đi. Tôi đâu có sợ ma. Tôi cũng là con… ma xó đây. (1)

Dù trong giấc mơ Văn Nhân vẫn còn đầu óc khôi hài. Cô gái nhìn Văn Nhân ra chiều cảm ơn. Rồi bằng giọng nói pha lẫn với nước mắt, nàng kể :

– “Em tên Mộng Quỳnh. Vào năm 1921 khi em còn là cô gái 19 tuổi sinh ra và lớn lên ở Gia Định thì Maurice Cognaq đã 52 tuổi và đang làm Công Sứ Định Tường. Do cha y làm chủ hý viện Lido này, quen lớn với những quan chức trong Bộ Thuộc Địa thường lui tới hý viện, đã chạy chọt để đề bạt Maurice lên chức Thống Sứ Nam Kỳ. Lúc đó cha em đang làm việc tại dinh thống sứ.

Ngày Maurice nhậm chức, y cho phép tất cả gia đình nhân viên phục vụ được tham dự tiệc vui và em cũng được cha em dẫn đi. Nhưng đâu có ngờ đây lại là ngày định mệnh oan nghiệt. Maurice là một gã rất háo sắc. Kể từ khi gặp em, Maurice mê mệt và theo mãi rồi cuối cùng xin cưới em vì bà vợ đầm của y chết cách đây hơn một năm.

Trước lời cầu hôn của Maurice cha mẹ em điếng cả người. Nếu lấy hắn thì trớ trêu quá. Còn nếu từ chối thì sinh mạng của em, của cha mẹ em không biết thế nào. Cuối cùng thì ông bà gạt nước mắt xin em hãy hy sinh để cứu mạng gia đình cũng như nàng Kiều bán mình chuộc cha năm xưa.

Trong thời gian đó em đã có bồ. Em và Công đã yêu nhau. Công 21 tuổi, học Trường Chasseloup Lauba và đang chuẩn bị thi Bac Deux. Công đẹp trai, con nhà nghèo nhưng hiếu học và yêu em hết mực. Em thường gọi Công với cái tên thân mật là Anh Tư vì Công là con thứ ba trong gia đình. Cha mẹ em cũng rất thương Anh Tư và hứa khi đậu xong, ông bà sẽ cho làm đám hỏi. Vào những ngày chủ nhật, em và Anh Tư thường đi Sở Thú chơi. Còn những dịp lễ lớn tụi em đi Lái Thiêu ăn trái cây. Mối tình của tụi em đẹp như hoa như mộng.

Nghe tin em phải lấy Maurice, Công chết lặng người, khóc hết nước mắt. Đã có lúc tụi em định ôm nhau nhảy xuống Cầu Bình Lợi tự vẫn nhưng Công trấn tĩnh lại nói em hãy ráng sống. Anh Tư nói hắn ta năm nay đã hơn năm mươi tuổi. Nhiều lắm là mười, hai mươi năm nữa hắn cũng chết. Dù thế nào anh vẫn thương em và chờ đợi em. Ngày em “lên xe hoa” cũng là ngày em “lên xe tang”. Giữa vòng vây phủ của dinh thống sứ, một con chim bay cũng không lọt, em không còn cách nào liên lạc với Anh Tư.

Vì quá nhớ thương ảnh, em nghĩ ra một kế, nói với Maurice rằng nay em đã là vợ quan thống sứ cần phải giỏi tiếng Pháp để giao dịch với bao giới thượng lưu Pháp. Nghe nói thế Maurice đồng ý ngay. Em nhờ ba em giới thiệu Công với Maurice. Vì ngay tình nên Maurice không nghi ngờ chi cả. Thế là kể từ đó mỗi tuần em được gặp Anh Tư nhưng có học hành chi đâu mà hai đứa chỉ ôm nhau khóc vùi. Những giây phút đắm đuối bên nhau như Ngưu Lang- Chức Nữ đó kéo dài được một năm.

Sau đó có lẽ do có người mách bảo Maurice nghi ngờ và thay bằng một bà giáo người Pháp. Rất may Maurice không ra lệnh cho mật thám giết Anh Tư. Cuộc sống trong cô đơn, buồn tủi  của em như  thế kéo dài năm năm.

Vào năm 1926, cha của Maurice ở Paris qua đời. Xác của ổng được lưu giữ trong phòng lạnh để chờ Maurice về thọ tang. Lúc này Phong Trào Bình Dân ở Pháp thắng thế, chính sách thuộc địa thay đổi đôi chút cho nên địa vị của Maurice chưa chắc đã giữ được. Chính vì thế mà Maurice đệ đơn từ chức đồng thời đưa em về Pháp. Ngày em xuống tàu rời Cảng Sài Gòn, cha mẹ em coi em như đã chết. Em không biết trong số ông Tây bà Đầm và quan chức Việt Nam tiễn đưa quan thống sứ về nước có Anh Tư lẫn trong đó không ?

Về tới Paris, thọ tang cha xong, Maurice thay cha làm chủ hý viện. Trong những lúc Maurice bận rộn hoặc phải đi xa, em thay hắn làm quản lý. Căn phòng trên lầu là nơi em làm việc và nghỉ trưa. Qua tới đây em không còn sợ Maurice như xưa. Vì quá nhớ thương Anh Tư, em lén gửi thư cho ảnh và nhờ ba em chuyển.

Thế nhưng thơ đi thì có, thơ về thì không. Em nghĩ Anh Tư mòn mỏi trông chờ trong tuyệt vọng đã lập gia đình với người khác. Thế nhưng vào một ngày kia, khi em đang ở trong phòng quản lý thì một người gõ cửa bước vào. Người đó không ai khác hơn là Anh Tư.

Nhìn thấy ảnh em cứ ngỡ đây là giấc mơ. Nhưng khi Anh Tư ôm chặt và hôn tới tấp lên mặt em thì em hiểu rằng đây là sự thực. Rồi qua dòng nước mắt Anh Tư kể cho em nghe cuộc đời ảnh sau khi bị Maurice đuổi không cho làm précepteur nữa. Kể từ đó, sợ mật thám bắt, anh cắt đứt liên lạc với ba em và đổi địa chỉ.

Sau khi lấy xong Bac Deux, năm năm sau tốt nghiệp kỹ sư công chánh, ảnh xin được việc làm tại Sở Tràng Tiền. Lúc này ảnh cũng đã lớn cho nên ba má ảnh giục cưới vợ nhưng ảnh cương quyết chờ đợi em. Khoảng năm sau, ảnh bỏ công việc này và xin làm chuyên viên cơ khí cho con tàu Marseille chuyên chạy đường Thượng Hải, Hongkong, Sài Gòn, Singapore và Pháp để thực hiện ước mơ gặp lại em.

Sau khi dành dụm được một số tiền và phần nào rành đường đi nước bước ở Pháp, ảnh trốn ở lại và lên Paris tìm em. Và ngày hôm nay đây…. ảnh đã đạt được giấc mơ đó. Trong vòng tay ấm áp của Anh Tư em thấy đời em như sống lại và em đã khóc… khóc hết nước mắt, nhưng đó là những giọt nước mắt hoan lạc. Và em đã hưởng được những giây phút tuyệt vời bên Anh Tư dù em đã làm vợ Maurice hơn  bảy năm.

Thế rồi dưới sự sắp xếp của em, lợi dụng những lúc Maurice đi xa hoặc bận công việc, Anh Tư đều lên đây gặp em. Tụi em cũng đã bàn tính đến chuyện cùng trốn sang Thụy Sĩ để sống với nhau. Cuộc ái ân vụng trộm như thế kéo dài được ít tháng thì một ngày kia khi hai đứa còn đang ở trong phòng thì Maurice mở cửa bước vào.

Theo em, Maurice hoàn toàn ngay tình, không biết gì cả. Nhưng có lẽ hôm đó hắn thay đổi chương trình hoặc quên một món đồ gì đó nên quay lại lấy. Thật oan nghiệt! Khi thấy em đang trong vòng tay của Công, Maurice nhận ra ngay người thanh niên năm xưa đã kèm em học ở Dinh Thống Sứ.

Y giận điên người và rút trong người ra khẩu súng lục, chĩa thẳng vào Công. Trước tình thế nguy cấp đó, em gỡ tay Công ra rồi thét lên “Không được bắn !” Rồi em nhào lên đứng trước mặt Công, không ngoài mục đích mong Maurice, vì không nỡ giết em mà Công có cơ hội chạy thoát. Thế nhưng khi em vừa nhào tới trước mặt Công thì một phát đạn nổ vang. Khi thấy em ôm ngực, lảo đảo thì chính Maurice cũng kinh hoảng nhìn trừng trừng vào đôi tay của hắn và khẩu súng rớt xuống sàn.

Maurice không ngờ chính hắn đã giết vợ hắn. Theo em nghĩ, Maurice không hề có ý giết em. Nhưng có lẽ lúc hắn bóp cò cũng chính là lúc mà em đã đứng án ngữ để che chở cho Công cho nên em đã chết thế cho Công. Vì em chết oan và chết vào giờ linh. Hơn thế nữa vì em lúc nào cũng còn thương nhớ Anh Tư và những giây phút mặn nồng bên ảnh, khiến em không đầu thai được và cũng không thể lìa xa căn phòng này. Đã gần bảy mươi năm qua em chưa hề thố lộ chuyện này với ai. Nay cơ duyên gặp anh và thấy anh là nhà văn vốn đa cảm cho nên em nhờ anh một chuyện, không biết anh có vui lòng giúp cho không ?”

Nghe câu chuyện thương tâm như thế. Dù không biết hậu quả tốt xấu thế nào, dĩ nhiên là  không thể từ chối cho nên Văn Nhân nói :

– Chuyện gì tốt lành cho cô thì tôi sẵn sàng.

Nghe Văn Nhân nói thế, cũng bằng cái nhìn thật biết ơn, cô gái nói :

– Anh làm ơn đến chùa, thỉnh một vị sư tu hành đức độ, xin cho em một thời kinh siêu độ để em có thể đi đầu thai. Có như thế thì kiếp sau em mới có hy vọng gặp lại Anh Tư. Nếu còn như thế này thì chỉ làm khổ em, khổ Anh Tư và khổ người ta.

Cô gái vừa nói đến đây thì từ ngoài cửa, những tiếng tru tréo bỗng vang lên :

– Anh Văn Nhân ơi ! Bộ anh chê tụi em sao mà không chịu đi ăn với tụi em ? Anh ở đây để nói chuyện với ma hay sao ?

Đấy là những tiếng lá ó của mấy cô ca sĩ, nhân viên đoàn hát ăn cháo khuya xong kéo về. Và cũng là lúc Văn Nhân giật mình thức dậy. Vừa dụi mắt, lắc nhẹ đầu cho tỉnh táo, Văn Nhân đưa mắt nhìn lên căn phòng quản lý. Căn phòng vẫn đóng cửa im lìm và Mộng Quỳnh cũng biến đâu mất. Thấy chàng chẳng trả lời trả vốn chi cả, mấy cô gái lại lên tiếng chọc ghẹo :

– Trông anh sao ngơ ngác như bị ma nhập vậy !

Rồi những tiếng cười chọc ghẹo lại rộ lên. Không một phản ứng, Văn Nhân lặng lẽ đứng dậy, đi vào phòng vệ sinh rửa mặt cho tỉnh táo. Sáng hôm sau, lấy cớ bận chuyện riêng, chàng một mình tới ngôi chùa Việt Nam cũng ở Paris thuật lại cho sư cụ nghe câu chuyện tối qua. Nghe xong sư cụ thở dài nói :

– Đời là bể khổ bến mê ! Hiện nay các nhà ngoại cảm đã tiếp xúc được với nhiều hồn oan nơi cõi âm. Rất nhiều người không sao siêu thoát được vì họ đã chết một cách oan khiên, nghiệt ngã. Cứu độ chúng sinh sao cho “Âm siêu, dương thới” là bổn phận của nhà Phật. Xin ông đừng lo.

oOo

Ba ngày sau, trong căn nhà ấm cúng tại Thành Phố Melbourne, Úc Châu, Văn Nhân ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành, với một ly nước cam uống cho lại sức. Còn bà vợ thì lăng xăng sắp xếp lại vali, quần áo của chàng và nấu một nồi phở là món “tủ” mà Văn Nhân ưa thích.

Chuyến trình diễn đường dài như thế lần nào cũng khiến chàng mệt mỏi và thèm ngủ. Đầu dựa ngửa vào chiếc ghế và chàng thiếp đi lúc nào không hay. Chàng vừa chợp mắt được vài phút thì từ ngoài cửa một người đàn bà bước vào. Trong giấc ngủ trưa mệt mỏi và chập chờn, chàng cứ tưởng đó là người bạn của bà xã tới chơi nhưng khi người đàn bà đến gần và lên tiếng thì chàng nhận ra đó là Mộng Quỳnh. Vẫn trong bộ trang phục quý phái, nhưng hôm nay khuôn mặt của nàng có tươi hơn một chút. Nàng nói :

– Cám ơn anh. Nhờ có anh nói với sư cụ mà em được hưởng một thời kinh siêu độ. Pháp Phật đã làm em giác ngộ và em đã trả lại tất cả những gì gọi là ảo ảnh vô thường của trần gian và được đi đầu thai. Em cũng cầu xin kiếp sau sẽ không còn gặp những chuyện oan trái nữa và nguyện được ăn đời ở kiếp với Anh Tư để đáp lại những ân tình mà Anh Tư đã dành cho em.

Nói xong nàng mạnh dạn nắm lấy đôi tay của Văn Nhân, lắc nhẹ. Hình như đôi mắt bồ câu của nàng long lanh vì nước mắt. Trước tình thế đó, Văn Nhân không còn cách nào hơn là lên tiếng an ủi :

– Mộng Quỳnh ! Không có chi Mộng Quỳnh à. Đó chỉ là bổn phận thôi.

Nghe nói thế, bằng một giọng rất tỉnh táo, Mộng Quỳnh nói tiếp :

– Em nhờ anh, với văn tài, xin anh viết lại truyện này để người đời biết được những chuyện đau thương dưới thời đất nước bị cai trị bởi Thực Dân Pháp.

Nói xong nàng từ từ lùi xa rồi bóng nàng biến mất sau khung cửa. Ngay lúc đó những tiếng eo éo bỗng vang lên :

– Anh mớ gì dữ vậy ? Mộng Quỳnh ! Mộng Quỳnh là con nào ?

Đó là tiếng la của bà vợ, cùng với những những cái lắc mạnh vào vai đã làm Văn Nhân tỉnh giấc. Vì còn đang mơ màng cho nên Văn Nhân chưa hiểu chuyện gì thì bà vợ lại đay nghiến:

– Gớm thật ! Mới có vài ngày lại thêm con Mộng Quỳnh nữa. Nó là con nào vậy ?

Văn Nhân đưa đôi mắt ngơ ngác nhìn vợ. Và có lẽ cũng phải mất ít phút sau chàng ta mới tỉnh táo hẳn. Chàng nhận ngay ra rằng bà vợ “sư tử Hà Đông” của mình lại ghen bóng ghen gió bởi vì trong cơn mê vừa rồi miệng chàng đã thốt ra những tiếng “Mộng Quỳnh, Mộng Quỳnh”. Bằng giọng thật dịu dàng và có vẻ nịnh vợ, chàng nói :

– Mộng Quỳnh là con ma. Thôi “honey” cho anh ăn phở đi. Anh đói bụng lắm rồi. Vừa ăn phở anh sẽ kể cho “honey” nghe.

Bà vợ dù có ngúng ngoảy, ra oai thêm đôi chút nhưng rồi cuối cùng cũng thương thằng chả, bằng cách quay lại bếp, dọn ra hai tô phở. Mùi thơm của phở, vị béo của thịt bò, giá sống hành trần, cái nóng còn bốc hơi của nước dùng làm Văn Nhân tỉnh người. Vừa ăn, chàng lấy lại tự tin và cứ thành thật kể lại tất cả những gì chàng nghe và thấy trong giấc mơ xảy ra tại Hý Viện Lido. Kể xong, Văn Nhân tin tưởng rằng bà vợ sẽ xúc động và cảm thương cho cuộc đời trái ngang của Mộng Quỳnh. Thế nhưng bà vợ “Xì” một cái nói :

– Tin ông thì đổ thóc giống ra mà ăn ! Ông là nhà văn, ông viết gì chẳng được. Có lần trên sân khấu nghe ông khen mấy cô ca sĩ, về nhà tôi hỏi ông ‘có thực vậy không anh ?’ thì ông nói ‘Anh phịa đó !’ Vậy thì chuyện này biết đâu ông thích con Mộng Quỳnh nào đó rồi phịa ra chuyện ma ? Ông không thích nó sao trong giấc ngủ ông còn  ‘Gọi thầm tên em ?’. Ông định chối hả ? ”

Nghe vợ nói thế Văn Nhân cụt cả hứng. Bằng sự thông minh vốn có còn rơi rớt lại Văn Nhân “ngộ” ra rằng, một khi đàn bà đã ghen, dù ghen bóng ghen gió, nếu cứ dùng lý luận giải thích thì “từ chết tới bị thương”. Thôi thì chịu thua cho êm chuyện. Nở một nụ cười như mếu, Văn Nhân nói :

– Em của anh thánh thật ! Chẳng cái gì qua mặt được em. Chuyện Con Ma Ở Rạp Hát Lido là chuyện anh phịa đó. Còn Mộng Quỳnh là tên cuốn thiểu thuyết anh đang thai nghén. Toàn chuyện phịa thôi em ơi !

Nghe Văn Nhân đấu dịu thế, dường như bà vợ cũng đã nguôi ngoai. Khẽ nguýt một cái bà nói:

– Ông tưởng qua mặt được tui hả. Còn khuya ! Nè, nhất vợ nhì Trời đó nghe ông ! (Đào Văn Bình – trích tuyển tập Mê Cung sắp xuất bản)

(1) Ma xó nằm ở một góc nhà cho nên biết hết mọi chuyện.

Dung Dung chuyển tiếp

CỨU NGƯỜI…

Vừa xong tại cầu Chương Dương có một cô gái trẻ nhảy xuống cầu, chơi vơi giữa dòng nước đỏ ngầu. Lúc này trên cầu mọi người đang nháo nhác đứng nhìn, người thì hô hoán nhiều người thì đưa điện thoại ra quay clip, chụp hình vv. Nhưng tuyệt nhiên không có ai nhảy xuống cứu phần vì không biết bơi, phần thì sợ độ cao của cây cầu.

Và bỗng nhiên ầm một cái, mình chỉ kịp nhìn thấy một thanh niên lao xuống, vươn những sải tay tới gần cô gái rồi kéo cô gái vào, vật lộn một hồi hai người cũng vào được tới bờ với sự hò reo thán phục, cùng lúc đó có Anh phóng viên giơ máy lên chụp hình và phỏng vấn chàng trai:

– Anh thật là dũng cảm !!! Động cơ nào thúc đẩy anh ko sợ nguy hiểm đem tính mạng mình lao xuống cứu người ???

Chàng trai thở hổn hển tóc tai ướt bù xù hai hàm răng va mạnh vào nhau nói ko ra hơi: “Mẹ kiếp động cơ cái cứt. Bố mà biết thằng nào đẩy bố xuống thì bố giết” !

Câu chuyện này vẫn chưa kết thúc, A phóng viên quay sang hỏi cô gái tại sao lại tự tử. Cô gái trả lời: tự tử cái cứt ở nhà mất điện nóng ra sông tắm bị thằng chó này túm tóc lôi vào bờ …

Yên Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN KINH DỊ (2)

ĐẠI ÁN RÙNG RỢN KHIẾN

1.100 NGƯỜI “BỐC HƠI”

KHÔNG DẤU VẾT

Nổi tiếng những năm 1990 và được viết lại thành sách, hồ sơ mang tên “Vụ mất tích 411″ khiến hơn 1.100 người “bốc hơi” không dấu vết khiến ai cũng rùng mình khi nghe đến.

David Paulides, một cảnh sát về hưu đã viết một cuốn sách vô cùng nổi tiếng ghi lại những vụ mất tích kỳ lạ mà mình gặp phải trong nghề mang tên “Missing 411″ (Vụ mất tích 411). Cuốn sách là tuyển tập những vụ án ly kỳ và hóc búa cũng như đầy bí ẩn chưa có lời giải. Với hàng ngàn vụ mất tích mà đến nay người ta vẫn không tìm ra manh mối gì.

Trong hàng ngàn vụ mất tích khó hiểu, có 2 vụ án đáng chú ý và nổi tiếng nhất, nổi cộm nhất trong thời kỳ đầu những năm 1990 thuộc “đại án” “Missing 411″:

1/. Vụ án 1: Cậu bé khuyết tật : Vụ mất tích bí ẩn của cậu bé người Mỹ Casey Holiday 11 tuổi là vụ án không lời giải khi mất tích vào ngày 14/10/1990 trong khoảng thời gian 10h sáng gần nhà thuộc thành phố Maries, bang Idaho, Mỹ.

Điều đặc biệt khiến vụ án càng gây chú ý là cậu bé vốn là trẻ khuyết tật, sống cùng người bác già trong một căn hộ nhỏ cách Maries 8 dặm về phía Nam. Cậu bé mất tích với chú chó của mình gần khu vực Alder Creek. Vì điều kiện khí hậu khắc nghiệt lúc bấy giờ nên chó nghiệp vụ cũng không thể tìm ra manh mối gì.

Với hơn 100 người được huy động để tìm kiếm, nhưng kết quả là con số 0 tròn trĩnh, tưởng như cuộc tìm kiếm đã đi vào bế tắc thì bất ngờ 2 ngày sau, cậu bé lại xuất hiện đúng nơi mà cậu đã mất tích ! Tuy nhiên, cậu bé rơi vào tình trạng hoảng loạn, ăn nói lảm nhảm và như bị mất trí nhớ, không ai biết tại sao cậu bé lại xuất hiện ở nơi mà hơn 100 người đã… cày nát vẫn không có dấu vết gì và lại có thể sống sót trong thời tiết lúc bấy giờ với chân không mang giày.

Liệu ai hay thứ gì đứng đằng sau vụ mất tích bí ẩn này và động cơ là gì ? Tất cả chỉ là những câu hỏi không có lời giải đáp cho tới tận ngày nay.

2/. Vụ án 2: Vụ mất tích của hơn 1.100 người ở công viên Quốc gia Mỹ : Giống như bị “quỷ dữ” bắt đi, hàng ngàn người đã bốc hơi trong công viên đầy cây cối rộng hơn 84 triệu héc ta này, cả khách tham quan và dân bản địa xung quanh đều biến mất mà không có dấu vết gì để lại.

Thậm chí, nhiều nạn nhân còn mất tích ngay trước mắt mọi người trong nhóm, ông kể rằng trong một lần điều tra mất tích ở khu rừng này, ông nghỉ lại qua đêm ở một phòng trọ gần đó. Buổi tối hôm đó, 2 nhân viên kiểm lâm đã tới gõ cửa và muốn ông lắng nghe. họ đã làm việc tại nhiều công viên khác trước đó cũng như tham gia tìm kiếm nhiều vụ mất tích trong rừng.

Thế nhưng, ở khu rừng quốc gia này thì đó lại là điều hoàn toàn bí ẩn và kỳ lạ, nhiều vụ mất tích thậm chí còn không được điều tra và như bị che giấu sự thật đằng sau vậy. Bigfoot, người ngoài hành tinh, thế lực siêu nhiên hay chính con người đứng đằng sau vụ mất tích của hơn 1.100 người ? Sự thật của bức màn bí ẩn này sẽ vẫn là một màn đêm mờ mịt.

KHÁM PHÁ CÂU CHUYỆN KINH DỊ

NHẤT NƯỚC MỸ

‘AMERICAN HORROR STORY’

Tháng 10 tuyệt đẹp cũng là tháng 10 u ám, khi những “hồn ma” bắt đầu vất vưởng nơi các rạp chiếu để chờ ngày Halloween về. Trên truyền hình, nổi bật nhất là series American Horror Story – Chuyện kinh dị Mỹ ra mắt tới mùa thứ 5 với tên gọi Hotel – Khách sạn hiện nay đã ra mắt tới tập 3.

Lấy bối cảnh ở một khách sạn quái dị tên là Cortez ở ngay giữa lòng Los Angeles, California, American Horror Story bắt đầu quá trình “hút hồn” fan hâm mộ bằng cảnh hai cô gái Thụy Điển “checking-in” (tên tập 1) vào khách sạn. Tại đây, họ cảm thấy bất an với những điều kỳ dị quái gở nhưng không rời đi, cho tới khi cả hai bị bắt lại và giết chết dã man.

Bà chủ khách sạn Elizabeth (do Lady Gaga thủ vai) là một kẻ chuyên uống máu người để duy trì sắc đẹp, đồng thời có những sở thích bệnh hoạn trong tình dục. Phục vụ cho bà ta gồm có một bartender không rõ giới tính (Denis O’Hare), một bà quản gia làm nhiệm vụ tiếp tân (Kathy Bates) có con trai Donovan (Matt Bomer) là tình nhân lâu năm với bà chủ, một phụ nữ chuyên giặt ủi ga giường là Ms Evers (Mare Winningham) và sự có mặt của con nghiện Sally (Sarah Paulson), người đã chết từ 20 năm trước. Ngoài ra, trong khách sạn còn nhiều nhân vật ma quái chưa lộ rõ mặt.

Trong khi đó, cảnh sát John Lowe (Wes Bentley) đang sống cùng vợ và con gái đã “ngửi” thấy mùi nguy hiểm từ khách sạn này. Gia đình anh đang bị đe dọa bởi một kẻ lạ mặt giỏi công nghệ, hơn thế anh cho rằng kẻ này có thể liên quan tới sự mất tích của con trai anh vài năm trước. John Lowe đã dọn đến khách sạn Cortez để tập trung tìm kiếm con trai anh, mà cái đích dường như rất gần bởi chính mắt con gái anh đã nhìn thấy anh ruột mình ở đó.

Chưa biết John Lowe sẽ đối đầu với các thế lực đen tối trong khách sạn Cortez để tìm con trai như thế nào, nhưng khách sạn này đã được sang tay cho một thương nhân, đồng thời là người thiết kế thời trang Will Drake (Cheyenne Jackson), ông chuyển đến đây cùng con trai là Lachlan (Lyric Lennon), cậu bé nhanh chóng được bà chủ khách sạn dẫn đi thăm quan và cũng rất nhanh kết bạn với Scarlett Lowe (Shree Crooks). Điều này sẽ mở ra những khả năng để bố con nhà Lowe tìm ra chân tướng sự việc.

Sau hai tập phim Checking – in Chutes và Ladders, ở tập 3 mang tên Mommy, chúng ta thấy Tristan (Finn Wittrock), người tình mới của bà chủ khách sạn và March (Evan Peters), chủ cũ, đang có âm mưu thủ tiêu Drake vì ý định cải tạo lại khách sạn Cortez.

Tuy thế, Nữ bá tước Elizabeth ngăn anh ta lại bởi chính bà muốn hạ thủ với Drake, sau khi cưới anh ta. Donovan, người tình vừa bị bỏ rơi của Elizabeth, bị Ramona Royale (Angela Bassett) vốn là kẻ thù lâu năm của Elizabeth, bắt cóc nhằm lên kế hoạch trả thù. Trong khi đó, vợ của Lowe là Alex đưa đơn li dị cho anh bởi không dứt sự ám ảnh về Holden, đứa con trai mất tích của họ. Cuối phim, trước sự ngạc nhiên của Alex, Holden xuất hiện.

Theo diễn biến phim, chúng ta sẽ đặt câu hỏi có thể Holden đã chết từ nhiều năm trước và thể xác cậu được Nữ bá tước nuôi làm công cụ lọc máu, nhưng không biết có cách nào cứu cậu lại không. Cha con nhà Drake đang là mục tiêu của nhiều người trong khách sạn, số phận của họ thế nào sẽ được trả lời trong các tập tiếp.

Xuân Mai chuyển tiếp

ĐẰNG SAU SỰ “BỐC HƠI” BÍ ẨN

CỦA 100.000 NGƯỜI NHẬT MỖI NĂM

Nếu những vụ tự sát hàng loạt được xem là cách phổ biến để thoát khỏi cuộc sống áp lực trong xã hội Nhật Bản thì ngày nay càng có nhiều người dân nước này lại chọn cách “bốc hơi” hay chạy trốn thay vì tìm cách giải quyết vấn đề.

Phong trào “bốc hơi” nhen nhóm từ sau Thế chiến II và thịnh hành sau các sự kiện khủng hoảng tài chính hồi 1998 và 2008 khiến nhiều người lao đao. Kể từ giữa những năm 1990, ước tính có khoảng 100.000 người Nhật Bản “bốc hơi” mỗi năm. Tuy hiện tượng người biến mất tại các quốc gia khác không phải là hiếm, nhưng tại Nhật nó lại là một vấn nạn cần lưu ý tồn tại song song với hiện tượng tự tử đang ngày một gia tăng.

Nguyên nhân của sự “bốc hơi” này chủ yếu xuất phát từ quan niệm xã hội Nhật. Quốc gia này chú trọng sự thống nhất, cầu toàn và sẽ loại bỏ bất cứ thứ gì khác biệt với số đông. Nếu ai không thể chịu đựng được áp lực trong cuộc sống như thi trượt, nợ nần, mất việc,… họ sẽ tự “đạo diễn” cho sự biến mất của mình để tìm tự do, bên cạnh lựa chọn tự kết liễu đời mình..

Vì Nhật Bản khá lỏng lẻo trong việc quản lý dữ liệu dân cư, trong khi đó, việc truy cập vào sao kê tài khoản ngân hàng là phạm pháp nên sự “bốc hơi” diễn ra khá dễ dàng dưới sự thao túng của thế giới ngầm yakuza. Những người này thường sống trong các khu ổ chuột Sanya tại Tokyo hay Kama ở Osaka với nghề mưu sinh là những công việc chân tay giá rẻ. Cuộc sống tại đây khá tù túng, với những khách sạn nhỏ, bẩn thỉu, không có Internet hay nhà vệ sinh riêng và hầu hết đều “giới nghiêm” sau 6h tối.

Kinh Kazufumi tự Kuni từng là một tay môi giới chứng khoán thành công, tuy nhiên khoản đầu tư rủi ro cao đã khiến ông mất 400 triệu yen (khoảng 80,5 tỉ đồng). Bị cấp trên đổ toàn bộ trách nhiệm, còn khách hàng thì săn lùng nên vào một buổi sáng năm 1970, Kuni biến mất. Ban đầu, ông tá túc tạm ở nhà một người bạn học và “bốc hơi” hoàn toàn nhờ vào dịch vụ dành cho những người không còn lối thoát.

“Tôi không hề nghĩ đến việc làm lại cuộc đời. Tôi chỉ muốn chạy trốn, vậy thôi. Đương nhiên đó là cách chẳng vẻ vang gì. Không tiền, không địa vị xã hội, nhưng miễn là còn sống”, Kuni tâm sự. Thay vì là một doanh nhân có tiếng tăm, giờ ông chỉ là một công nhân làm thuê, rửa bát theo thời vụ với số tiền đủ sống, với tung tích được giữ kín. Cha ông đã cố gắng tìm con trai hàng năm trời nhưng đều thất bại.

Một vài năm sau khi “bốc hơi”, vào lúc 38 tuổi, Kuni thuê được một căn hộ bằng tên giả và lập công ty chuyên thu gom rác thải, nhưng đó chỉ là cái vỏ. Thực tế, việc chính của những nhân viên là thực hiện lại điều người chủ từng trải qua: đáp ứng những ai có nhu cầu biến mất. Kuni không tiết lộ quy trình nghề nghiệp, nhưng có cho biết rằng các nhân viên thường sắp xếp để hành động ban đêm, và họ sẽ thực hiện dịch vụ “trọn gói” bảo đảm cả đời, như dùng thông tin giả như địa chỉ ma để đánh lạc hướng nỗ lực tìm kiếm của người thân khách hàng.

Cũng giống như Kuni, Norihiro, 50 tuổi, chọn cách biến mất 10 năm trước sau khi mất công việc kỹ sư được trọng vọng. Ông giả vờ ra khỏi nhà đi làm như mọi khi, dành thời gian ngồi trong ô tô, không ăn uống. Tới kì trả lương, là lúc ông phải đem tiền về nhà, Norihiro tới thẳng Sanya mà không nói một lời. Kể từ đó tới giờ, ông sống trong căn phòng chật chội, chỉ hút thuốc và nghiện rượu nặng. “Tôi không muốn gia đình nhìn thấy mình thế này. Thử nhìn xem, tôi thấy thật khốn khổ. Nếu ngày mai tôi chết, tôi không muốn ai nhận ra mình”, ông nói.

Với nhiều người tại đất nước mặt trời mọc, việc “bốc hơi” không phải là kết thúc hoàn toàn mà là một cơ hội để họ thay đổi tình hình thực tế mà không muốn cắt đứt hoàn toàn với gia đình và bạn bè. Họ sống theo cách kì quái, làm bạn với những người giống như mình hoặc chìm đắm trong một thú vui nào đó. Như Matt, một thanh niên trẻ cho hay: “Chạy trốn không hẳn là phải rời đi”. (Lê Trúc  theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

SÁU THANH KIẾM SAMURAI

NỔI TIẾNG NHẤT NHẬT BẢN

Tương truyền rằng Nhật Bản thời cổ đại có hai thanh bảo kiếm rất nổi tiếng, một thanh kiếm có tên là Muramasa, còn thanh kiếm kia hẳn nhiều người cũng biết đến, đó là thanh Masamune.

Chúng đều là những thanh kiếm danh bất hư truyền, người ta từng làm thí nghiệm để so sánh sức mạnh của hai thanh kiếm này. Họ nhúng hai thanh kiếm xuống suối, sau đó thả một chiếc lá lên lưỡi kiếm, kết quả thí nghiệm trên thanh kiếm Muramasa khiến người ta phải trầm trồ thán phục, ngay khi chạm vào lưỡi kiếm, chiếc lá đã dễ dàng bị cắt làm đôi. Điều này chứng tỏ thanh Muramasa thực sự là một thanh kiếm tốt.

Tuy nhiên thanh kiếm Masamune còn lợi hại hơn, theo truyền thuyết thì những chiếc lá khi bơi đến gần thanh kiếm này đều phải tránh xa, vì chúng sợ bị cắt đứt. Sự sắc bén của thanh Masamune lợi hại đến nỗi ngay cả chiếc lá cũng không dám đến gần. Tất nhiên đây chỉ là truyền thuyết, hôm nay chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả 6 thanh bảo kiếm nổi tiếng nhất của Nhật Bản.

1/. Thanh kiếm yêu thuật Muramasa : Đây là thanh kiếm do Muramasa – học trò của nghệ nhân rèn kiếm nổi tiếng Okazaki Goronyudo Masamune tạo nên. Tương truyền rằng do Muramasa tâm không chính, cũng bởi không được Masamune truyền lại bí quyết kiểm soát nhiệt độ khi nung kiếm nên anh ta ôm hận trong lòng, liền ăn cắp bí quyết của thầy để tự rèn kiếm cho mình. Sau khi phát hiện ra sự việc, Masamune đã tức giận cho một nhát kiếm chặt đứt cổ tay của cậu học trò. Muramasa bỏ đi mang theo quyết tâm sẽ đánh bại thanh kiếm do người thầy Masamune rèn.

Do đó tâm địa độc ác của anh ta đã nhập vào thanh kiếm, từ đó Muramasa đã trở thành một cái tên không tốt đẹp chút nào. Ngoài ra, vào thời kỳ chiến quốc, Nhật Bản có nhu cầu kiếm rất lớn, nhưng Muramasa chỉ sản xuất những thanh kiếm tinh xảo nhất dùng trong giao đấu trực diện. Cũng có lẽ vì nó quá sắc bén nên vào thời đại Edo nó đã bắt đầu có những tên gọi như “tà kiếm”, “yêu kiếm”, và bị người ta kỳ thị, trong số những thanh yêu kiếm thời đó nó cũng được mệnh danh là “thanh kiếm yêu thuật”.

2/. Masamune : Thực ra phần lớn các thanh kiếm Nhật Bản đều mang tên của nghệ nhân rèn ra nó, Masamune có tên đầy đủ là Okazaki Goronyudo Masamune. Tương truyền, thời kỳ đầu Masamune được gọi là “thiên tài đặc biệt” trong giới nghệ nhân rèn kiếm, bởi vì ông cảm thấy tính cách của cậu học trò rất kỳ dị nên ông đã giữ bí quyết nung kiếm nhà nghề mà không truyền cho cậu ta, không ngờ rằng bí quyết của ông lại bị cậu học trò ăn cắp được. Sau đó ông tức giận chặt đứt cổ tay của cậu ta và đuổi cậu khỏi trường học. Cậu học trò vì không cam tâm đã thề nguyện sẽ chế tác ra những thanh bảo kiếm vượt khỏi trình độ của thầy.

Quả thật, những thanh kiếm Muramasa sau này đã trở nên nổi tiếng thế giới nhờ độ sắc bén không gì sánh nổi. Tuy nhiên những thanh kiếm Masamune vẫn luôn chiếm vị trí cao hơn Muramasa nhờ vào tính chính thống của nó.

3/. Nagasone Kotetu : Giống như phần lớn các thanh kiếm Samurai, Kotetu không chỉ là tên của thanh kiếm mà cũng là tên của nghệ nhân chế tác ra nó. Nghệ nhân Kotetu sinh ra ở thành Sawayama, thời nhỏ, trong trận hợp chiến Quan Nguyên ông phải chạy nạn đến Kanazawa, chính ở nơi đây, danh tiếng của những thanh kiếm Kotetu do ông rèn ra đã bắt đầu lan truyền. Từ đó, chúng trở nên quen thuộc trong trí nhớ của những người trung niên Nhật Bản.

Thời kỳ đầu, Kotetu tự xưng là “cổ thiết”, vì ông dùng các loại mũ sắt, đinh ốc sắt bỏ đi nung chảy ra để rèn thành kiếm. Nghe nói những thanh kiếm qua tay của Kotetu đều được làm rất cẩn thận, chúng vô cùng sắc bén, những hình điêu khắc trên thanh kiếm cũng rất tinh xảo. Dù dùng để chiến đấu hay để trưng bày thưởng thức thì đây quả là những thanh kiếm có nghệ thuật rất độc đáo.

Võ sư trưởng của hội Shinsen (một tổ chức duy trì trật tự trị an ở Tokyo thời đó) là Isami Kondo, đã luôn mang theo bên mình thanh kiếm này. Trong một số vở kịch và tiểu thuyết đương đại cũng thường nhắc đến hai cái tên này. Nhưng cũng có người cho rằng thanh kiếm của Isami Kondo không phải thanh Kotetu mà là thanh kiếm Kiyomaro có giá trị đắt nhất cho đến nay, giá trị của nó còn vượt qua cả thanh Kotetu. Trong lịch sử thanh kiếm này đã từng đổi tên hai lần là “cổ thiết” và “chất thiết” (sắt có chất lượng).

4/. Cúc Nhất văn tự : Vào thời đại Kamakura, Hoàng đế Toba đã ra lệnh cho Ichimonji (Nhất văn tự) rèn ra thanh kiếm Samura này. Thanh kiếm dài 78,48cm, lưỡi kiếm rất dài, thân kiếm dài và mỏng. Gần tay cầm có khắc hình bông hoa cúc 16 cánh biểu tượng của hoàng gia (có người nói rằng hình hoa cúc được khắc trên chuôi kiếm), bên dưới còn khắc một chữ nhất (一) nên được đặt tên là Cúc Nhất văn tự. Thanh kiếm này đến nay đã có lịch sử hơn 700 năm.

5/. Mikazuki Munechika : Thanh kiếm thứ năm đại biểu cho Nhật Bản, là thanh kiếm nổi tiếng Mikazuki Munechika – một trong Thiên hạ ngũ kiếm, đây là kiệt tác của Sanjo Munechika – một trong những nghệ nhân rèn kiếm sớm nhất Nhật Bản. Thanh kiếm này được đánh giá cao cả về tính mỹ thuật cũng như chất liệu, nó đã được chính phủ Nhật Bản phong là quốc bảo.

Thanh kiếm dài 80cm, với độ dài tiêu chuẩn của kiếm Samurai. Độ cong tập trung ở phần dưới của lưỡi kiếm và gần như không cong ở phần trên. Thanh kiếm có hình dạng phần eo phình ra này là cấu trúc tạo hình đặc thù trong thời đại Bình An, thanh kiếm Munechika cũng được coi là biểu tượng của Nhật Bản trong thời đại Bình An.

6/. Doujigiri : Truyền thuyết kể rằng, trong thời kỳ thống trị của Thiên hoàng, võ sỹ Minamotos Yorimitsu thuộc gia tộc Minamotos đã dùng thanh kiếm này để giết con yêu quái ăn thịt người Shuten Douji trên núi Oeyama ở nước Tanba. Nhờ câu chuyện nổi tiếng này, cái tên Dojigiri mới bắt đầu được biết đến.

Thanh kiếm này đã chuyển từ tay Ashikaga Yoshihide sang cho Toyotomi Hideyoshi, sau đó đến tay Tokugawa Ieyasu, rồi lại truyền sang cho Tokugawa Hidetada. Khi con gái nhà Tokugawa lấy Matsudaira Tadanao, con trai trưởng của họ đã kế cận quá trình truyền thừa này, cuối cùng con riêng của ông – Sakushu Tsuyama tiếp tục việc truyền thừa trong gia tộc. (theo Letu – Nhã Thi)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

NHỮNG CON CÁ KHỔNG LỒ

GÂY SỐT ĐẦU NĂM 2017

Rất nhiều con cá khổng lồ đã sa lưới ngư dân, thu hút nhiều sự chú ý trong 3 tháng đầu năm 2017 vừa qua.

1/. Chi 140 triệu, “rước” cá hô khủng từ Campuchia về Hà Nội : Trưa 11/1, một con cá hô “khủng” đánh bắt ở sông Mê Kông (Campuchia) đã được vận chuyển bằng đường hàng không về tới Hà Nội. Chủ một nhà hàng ở quận Cầu Giấy này cho hay, con cá khổng lồ này nặng 72kg, dài gần 1,6m.

“Chúng tôi mua con cá hô khổng lồ này với giá 140 triệu đồng từ ngư dân ở Campuchia. Ngay khi cá về, nhân viên nhà hàng đã xẻ thịt bán cho thực khách. Hiện tại chúng tôi đã bán được khoảng 50kg thịt cá, với giá 2.900.000 đồng/1kg”, chủ nhà hàng này nói. Theo chủ nhà hàng, cá hô là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá chép, thường sinh sống ở những sông lớn như Mê Kông. Loài cá này có thể dài tới 3m, nặng khoảng 300kg. Thịt cá hô có nhiều lớp sụn mỏng, vừa ngon vừa dai, không bở như các loài cá khác.

2/. Đồng Tháp : Cá đuối khủng nặng 115kg, dài hơn 3,5m : Một ngư dân ở khu vực biên giới Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã bắt được con cá đuối nước ngọt với chiều dài hơn 3 mét rưỡi, nặng gần 110 kg. Ngay sau đó, đã có nhiều người đặt mua thịt cá do đặc trưng của loài cá này là nhiều thịt và sụn nhiều, không xương, giàu chất dinh dưỡng.

3/. Cá hải tượng dài gần 2m xuất hiện ở Hà Nội : Cá hải tượng dài gần 2m, nặng 81kg vừa được vận chuyển bằng đường hàng không về Hà Nội để phục vụ thực khách. Tối 22/2, một nhà hàng ở Hà Nội đã đưa một con cá hải tượng “khủng” về làm thịt phục vụ thực khách. Theo anh Hoàng Nghĩa, chủ nhà hàng, cá hải tượng nặng 81kg, dài gần 2m. Cá hải tượng do một ngư dân ở miền Tây nuôi sau đó bán lại cho thương lái. “Khi biết thông tin chúng tôi đã liên hệ với thương lái ở Sài Gòn hỏi mua giá hơn 60 triệu đồng. Sau đó, cá hải tượng được vận chuyển bằng đường hàng không ra Hà Nội”, anh Nghĩa nói.

4/. “Rước” cá hô 20 năm tuổi từ sông Tiền về Hà Nội : Tối 20/3, một nhà hàng ở Hà Nội đã “săn” được một con cá hô “khủng”. Chủ nhà hàng cho hay: “Con cá hô nặng 65kg, dài 1m được mua cá hô của một ngư dân đánh bắt ở sông Tiền (tỉnh An Giang)”. Sau đó, chủ nhà hàng này đã vận chuyển con cá bằng đường hàng không về Hà Nội. Ghi nhận của phóng viên, cá hô có hình dáng giống cá chép, vảy dày, màu đen.

Giáo sư Mai Đình Yên của Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, chuyên gia chuyên nghiên cứu về cá – cho hay, cá hô là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá chép, thường sinh sống ở những sông lớn như Mê Kông. Loài cá này có nhiều nhất ở sông Mê Kông (đoạn chạy qua Campuchia và Lào). Cá hô thường ăn tạp bao gồm rong, tảo, cỏ.

5/. Kinh ngạc cá mú khổng lồ, dài gần 2m “vẫy vùng” ở Sài Gòn : Chiều 28/3 một con cá mú nghệ còn sống khỏe mạnh, nặng đến 127 kg, dài gần 1m8. Con cá khủng này do ngư dân tại khu vực đảo Phú Quốc đánh bắt được trong lần ra khơi mới đây

Biết tin, một chủ nhà hàng tại Sài Gòn đã tới tận nơi để thu mua và vận chuyển con cá mú nghệ khủng, còn sống này về. Đây được xem là món ăn giàu chất dinh dưỡng và cực ngon miệng thu hút sự chú ý đặc biệt của thực khách.

Chứng kiến con cá còn sống, vẫy vùng ngay trong bể kính tại Sài Gòn khiến không ít người tỏ ra lạ lẫm, thích thú. Con cá tỏ ra khá khỏe mạnh khi quẫy nước văng tung tóe tại nhà hàng này. Có không ít cá khủng được các nhà hàng tại Sài Gòn mua về, nhưng một con cá khủng còn sống thì rất hiếm gặp.

Lan Hương chuyển tiếp

TRUYỆN KINH DỊ : MA XEM HÁT

Giới thiệu

nhà văn nhà thơ, nhà báo

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

& truyện “MA XEM HÁT”

– Bài Nguyễn Việt

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mới là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ.

Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu.

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai, Tia Sáng… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập.

Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Bát Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện).

Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết).

Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy, Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn

Nguyễn Việt

Sau đây xin giới thiệu đến các bạn một truyện ngắn của nhà văn Trương Đạm Thủy :

MA XEM HÁT

Mới đó mà gần hết mùa đông, chỉ còn hơn mươi ngày nữa đã đến xuân rồi. Đêm càng thêm lạnh. Mấy đứa trẻ ngồi làm một vòng tròn cạnh ngoại Bảy dưới mái hiên nhà ngoại. Ngọn đèn bão treo trên cây xà đỡ mái hiên lắc lư trong ngọn gió bấc hắt hiu. Ngoại Bảy têm miếng trầu nhai tóp tép như để nhớ lại chuyện đời xửa đời xưa…

Gánh hát nghèo

– Hồi đó ngoại còn nhỏ lắm, như tụi bây thời bây giờ. Mẹ ngoại, tức bà cố cũng làm bà đỡ như ngoại. Chuyện bà cố đi đỡ đẻ về khuya gặp ma quỉ yêu tinh coi như chuyện cơm bữa bởi hồi đó làng mình còn hoang vu lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau năm sáu tiếng hú mới có người nghe. Hồi đó có một gánh hát nghèo, cố nói gánh đó thường di chuyển trên ghe, nay làng nầy mai làng khác hát để kiếm cơm nuôi đoàn nghệ sĩ cũng nghèo như gánh. À, đó là gánh hát của ông bầu Hớn.

Hôm đó mới hơn ba giờ chiều từ xa trên con sông chảy qua làng mình đã nghe thấy tiếng trống hiệu vang lên. Người lớn, trẻ em đều náo nức reo lên: “Gánh hát về ! Có gánh hát về !”. Nửa giờ sau có hai chiếc ghe lớn cặp bến chợ. Bầu Hớn nhảy lên bờ chạy lên Nhà Việc, tức là nơi các ông hương chức hội tề làm việc, xin phép tắc. Dễ thôi, chỉ cần dành nguyên hàng ghế mời danh dự cho hương cả, hương chủ, hương thân, hương hào, hương quản… là xong thôi.

Gánh hát Bầu Hớn nhìn qua đã thấy nghèo rồi, từ bầu gánh đến đào kép đều quần áo lôi thôi. Phông màn của gánh hát thì cũ kỷ có cái rách dọc ngang phải đắp vá nhiều chổ.

Ngoại Bảy nhả miếng trầu châm một điếu thuốc. Ngưng nghỉ giây lâu ngoại tiếp:

– Được làng xã chấp thuận cho hát xong bầu Hớn vội vả cho dựng sân khấu ngay trong lòng chợ. Bảng quảng cáo tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” được dựng ngay trước cửa chợ. Trống và phèn la cũng được các “cậu chài” nổi lên inh ỏi.

Năm đó các làng xã bị hạn hán thất mùa nên gánh bầu Hớn đã đi hát một tháng ròng mà đào kép đói vẫn đói bởi chẳng có ai có tiền để đi coi hát. Đến làng nầy bầu Hớn hy vọng khán giả khá hơn để toàn thể nhân viên còn có cơ may chịu đựng. Trời sụp tối trống phèn la càng thúc giục nhưng chỉ ngoài đám trẻ con quần áo lôi thôi lếch thếch ra chẳng thấy có một người lớn nào đến xem.

Mặt mày bầu Hớn nhăn nhó thảm hại. Nếu như đêm nay ế khách thì ngày mai đào kép lấy gì ăn? Ông Hớn cứ đi ra đi vào cửa chợ ngóng khách, cũng chẳng thấy ai ngoài một ít người kẻ chợ lác đác trước sân chợ.

Đám trẻ chắc lưỡi :

– Tội nghiệp ông bầu quá hả ngoại ?

Ngoại buồn buồn :

– Ờ, tội nghiệp đời xướng ca ba chìm bảy nổi quá. Đêm ấy ngoài các ông hương của làng xã và năm ba khán giả khá giả ra cả rạp hát trong lòng chợ vắng hoe vắng hoắc. Bầu Hớn đành cho diễn mà trong bụng khóc ròng. May sao tuồng diễn hay quá nên các ông hội tề thương tình hùn nhau cho mấy bao gạo và chục con gà con vịt cho đào kép có gì lót dạ qua đêm.

Đêm hát vãng, bầu Hớn rầu rỉ đi ra ngoài sân chợ rồi thẫn thờ đi xuống bến sông. Chợ làng khuya càng thêm vắng vẻ, con trăng khuyết đầu tháng trôi bềnh bồng trên nền trời như con thuyền vô chủ đứt dây neo. Bỗng từ đâu đó dưới bến sông đi lên một người dàn bà mặt hoa da phấn. Vừa đến gần bầu Hớn người dàn bà đã lên tiếng :

– Có phải ông đây là bầu Hớn ?

Bầu Hớn mau mắn :

– Ừ, tôi là bầu Hớn đây.

Người dàn bà mỉm cười :

– Tôi biết gánh hát của ông đang ế nên đến giúp ông. Mai ông lui ghe đi đến hát chỗ làng tôi đi, bảo đảm có hơn trăm khách. Mà không lo, tui bao dàn.

– Làng của cô đây là làng nào, ở đâu ?

– Tui chỉ cho. Mai lúc nước lớn ông cho ghe đi ngược về phía dòng nước, đi đến lúc trời sụp tối sẽ thấy có người cầm đuốc ra bờ sông đón. Đừng lo, sân khấu đã có người dựng sẵn, đến là hát ngay lại có gà qué, heo cúi để các người ăn khuya. Đây, tui đặt trước cho lượng vàng, ngày mai nhớ làm đúng lời tui dặn.

Bầu Hớn mừng rỡ :

– Dạ dạ, ngày mai đúng giờ nước lớn chúng tôi sẽ lui ghe.

Hôm sau mới sáng bầu Hớn đả cho nhân viên chuẩn bị hòm trấp đưa lần xuống ghe. Đến trưa chợ vắng người thì đưa tiếp phông màn xuống. Đào kép thì di chuyển từ người một. Họ lui ghe mà như đi ăn trộm vì sợ các ông hội tề cản trở bởi xin phép hát mười ngày cớ sao mới một đêm mà lặn mất ?

Đến giờ nước lớn nhớ theo lời dặn bầu Hớn cho lịnh lui ghe. Chẳng biết có ma quỉ nào che chở không mà bầu đoàn đào kép của gánh bầu Hớn có cả ba bốn mươi người ra đi lúc mới xế chiều mà cả chợ, cả ban hội tề cũng chẳng ai thấy chẳng ai hay.

Mặt trời xế dần, xế dần… Hai chiếc ghe của gánh bầu Hớn bắt đầu đi vào một đoạn sông cây dừa nước, cây bần, cây tạp mọc um tùm. Chiều dần xuống đoạn sông càng hoang vắng. Lũ chim nghe mái chèo khua động cất cánh bay tán loạn. Cảnh vật hoang vu quá làm ai nấy trên thuyền đều lo sợ. Riêng bầu Hớn nhờ có cây vàng lận lưng nên vẫn hớn hở chỉ tay cho thuyền đi tới.

Rồi mặt trời cũng thấp dần, thấp dần. Phía trước mũi thuyền đỏ như máu màu nắng quái hoàng hôn. Hai bên bờ sông cây cối đã chìm lẫn vào bóng tối mờ ảo. Bản thân bầu Hớn cũng bắt đầu lo lắng tự hỏi : “Hay là bọn cướp dụ mình đến đây để cướp của giết người ? Nhưng bây giờ cũng chẳng làm sao quay ghe lại được. Vàng của người ta mình đã nhận, dành một liều một ăn một thua”.

Đang nghĩ vẫn vơ như vậy đột nhiên phía bên phải thuyền trên bờ sông đã thấy có người mặc toàn đồ trắng tay quơ quơ ánh đuốc. Bầu Hớn mừng rỡ ra lệnh cho thuyền cặp vào. Lại xuất hiện thêm hàng chục người cùng xuống thuyền khuân vác hộ rương trấp phông màn.

Theo chân đoàn người tiếp đón, đoàn bầu Hớn đi dưới ánh đuốc qua một đoạn rừng cây thưa thì bỗng trước mắt đoàn hiện ra một thôn xóm sầm uất, nhà ngói tường vôi san sát, đèn sáng như sao sa. Đi thêm một khắc đã thấy một rạp hát bề thế, đèn “măng sông” treo hàng chục chiếc. Chung quanh rạp lại treo đầy đèn lồng ánh sáng tỏa ra thật đẹp. Người thiếu phụ hôm qua xuất hiện chào đón nồng nhiệt bầu Hớn. Thiếu phụ tươi cười :

– Rạp, sân khấu, phông màn đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi. Đêm nay ông cho diễn luôn hai tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” và “Phụng Nghi Đình” cho làng xem cho thỏa mãn.

Bầu Hớn cười khổ :

– Làm sao một đêm mà diễn được hai tuồng ?

Nữ nhân khoát tay :

– Không lo, đêm nay sẽ dài lắm. Cứ diễn, diễn hết một tuồng sẽ có cháo gà, cháo vịt chiêu đãi để lấy sức. Rồi còn heo qué muốn ăn thứ gì có người lo thứ đó.

Đoàn bầu Hớn vào rạp đã thấy choáng váng bởi cảnh trí rực rỡ ở đây. Sân khấu với phông màn cực kỳ lạ mắt. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, lại nghe một mùi hương gì đó như hương nhang cúng. Được một lát thì đàn sáo nổi lên rôm rả như nhạc đám ma. Rồi từng đoàn, từng đoàn khán giả đủ cả già trẻ lớn bé có cả trăm người lần lượt vào rạp.

Nhìn khán giả đông đảo chất kín rạp làm bầu Hớn vô cùng hoan hỉ. Vị nữ nhân xuất hiện căn dặn :

– Bây giờ ông cho diễn đi, đừng lo gì cả. Hôm nay tui bao dàn. Ngoài tiền mua dàn, diễn hay còn có thưởng hậu.

Quá sướng bầu Hớn cho lệnh diễn. Được tin sẽ có nhiều tiền ban thưởng nên ai nấy đều ra sức ca diễn sao cho thật hay. Cứ mỗi lớp tuồng hay đều được khán giả phía dưới ném tiền lên ào ào như bươm bướm, bầu Hớn cho người ra sân khấu lượm ôm cả ôm không hết.

Xong vở Phạm Công – Cúc Hoa ra sau rạp hát đã thấy bày dãy tiệc đầy thịt thà gà cháo cho các nghệ sĩ giải lao. Ai nấy no nê lại thấy tiền thưởng quá nhiều nên mọi người lại nức lòng diễn tiếp tuồng hai, rồi đền tuồng thứ ba. Mà lạ quá, sao đoàn hát cứ diễn hoài mà đêm vẫn chưa hết, hình như đêm vẫn còn dài lắm. Song cứ diễn, cứ ăn uống, cứ có tiền thưởng nên ai nấy đều hưng phấn phô diễn hết tài năng.

Hết Phạm Công – Cúc Hoa đến Lưu Kinh Đính Giải Giá Thọ Châu lại đến Lữ Bố Hí Điêu Thuyền rồi Tôn Tẩn Giả Điên mà trời vẫn chưa sáng. Dù được cho ăn uống thỏa thuê nhưng các diễn viên tài tử, nghệ sĩ của gánh hát bầu Hớn đều quá mệt mỏi. May sao khi họ sắp hết hơi thì tiếng gà ran trong thôn xóm mé Đông đã chợt gáy.

Đám khán giả nháo nhác đứng dậy. Nữ nhân bao dàn nhét vội vào tay bầu Hớn mấy thỏi vàng lớn rồi biến mất. Cả đoàn hát sau đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ say sưa chưa từng có. Từ bầu gánh cho đến đào kép, nhân viên đều lăn ra sân khấu ngủ say như chết, tiếng mớ, tiếng ngáy vang lên khắp nơi.

Mãi cho đến tận trưa mới có người đến lay bầu Hớn :

– Chú Hớn, chú Hớn dậy đi, sao cái gì lạ quá !

Bầu Hớn dụi mắt nạt :

– Lạ lạ cái gì, tao đang ngủ mà.

– Dậy, lạ lắm chú ơi !

Bầu Hớn mở mắt ra nhìn quanh rồi kêu “Trời” một tiếng đoạn ngất xỉu. Bởi lạ thật ! Chung quanh xóm làng nhà ngói tường sơn, rạp hát lộng lẫy đâu biến mất hết rồi. Cả đoàn hát, từ đào kép đến mấy cậu chài đều đang nằm ngủ say như chết giữa một bãi tha ma mồ cao mả thấp, bia mộ cái đứng cái xiêu. Chung quanh những người nằm ngủ thì la liệt những tờ giấy tiền âm phủ.

Khi bầu Hớn tỉnh dậy ông sờ túi thấy còn mấy thỏi vàng liền mở ra, ai ngờ chỉ là vàng mả. Sợ hết cả hồn ông gào lên :

– Lui ghe mau lên, đêm rồi chúng ta hát cho những con ma ở nghĩa địa nầy. Lui ghe lẹ lên.

Cả đoàn chạy ra hai chiếc ghe thì thấy cả hai chiếc ghe đang nằm chơ vơ trên một bãi sông cùn chung quanh đầy lau sậy không một bóng người… Ngoại kể một hơi rồi kết :

– Nhưng nghe nói sau đêm diễn tuồng cho ma coi thì gánh hát của bầu Hớn bắt đầu phất lên, diễn ở đâu là có đông khán giả đến đó. Có khán giả không muốn đi xem hát rồi cũng như bị ai ám vẫn phải kiếm tiền mua vé đi xem cho bằng được. Có người trong đoàn hát nói là những con ma mê tuồng hát đã trả ơn cho gánh hát của bầu Hớn. Có người còn luận : Ma coi vậy chớ cũng có tình nghĩa, làm ơn cho nó, nó chẳng quên ơn…

Trương Đạm Thủy

CHUYỆN KINH DỊ (1)

logo-kinh-di

9-doc-ac-1-phan-noNHỮNG PHỤ NỮ ĐỘC ÁC

NHẤT TRONG LỊCH SỬ 

Cái ác tưởng chừng như chỉ xuất hiện ở những người đàn ông mạnh tay mạnh chân, không ai có thể tưởng tượng được những người phụ nữ chân yếu tay mềm lại có thể gây ra tội ác khủng khiếp làm chấn động loài người.

1/- Sinh ngày 7/10/1923 ở Wrechen, bang Mecklenburg-Strelitz, Đức, Irma Grese là nữ nhân viên tại các trại tập trung của Đức Quốc xã là Ravensbruck và Auschwitz, và cũng là một nữ cai ngục ở trại tập trung Bergen-Belsen. Người phụ nữ này từng tra tấn và sát hại nhiều tù nhân bằng những phương pháp man rợ. Năm 1945, Grese lĩnh án tử hình vì những tội ác chống lại nhân loại tại phiên tòa Belsen. Qua đời khi mới chỉ 22 năm 67 ngày tuổi, 9-doc-ac-2Grese là người phụ nữ trẻ nhất bị hành quyết đúng theo luật Anh trong thế kỷ 20. Người ta gọi ả là “quái vật của Belsen”, “nữ quái vật”, “thiên thần tóc vàng của Auschwitz” và “linh cẩu của Auschwitz”.

2/- Myra Hindley (sinh năm 1942) là một kẻ sát nhân hàng loạt người Anh. Cùng với đồng phạm Brady, Myra phạm tội hiếp dâm và sát hại 5 đứa trẻ ở Manchester, Anh trong thập niên 1960. Hai quái vật bị buộc tội bắt cóc, lạm dụng tình dục, tra tấn, giết hại ba đứa trẻ dưới 12 tuổi và hai đứa trẻ 16, 17 tuổi. Nhờ sự mách nước của người em họ, cảnh sát đã bắt Hindley vào năm 1965. Mặc dù không nhận tội trong phiên tòa xét xử sau đó, Hindley vẫn bị kết tội giết người và nhận án tù chung thân. Năm 2002, người đàn bà độc ác chết trong tù.

3/- Isabella (1451-1504) là nữ hoàng của Castilla và Leon. Cùng với chồng, Fernando II của Aragon, bà đã có công trong việc mang lại sự ổn định cho các vương quốc này 9-doc-ac-3và làm cơ sở cho việc thống nhất Tây Ban Nha. Ngoài ra, Isabella cũng là người tài trợ cho hành trình tìm ra châu Mỹ của nhà thám hiểm Christopher Columbus. Tuy nhiên, bà cũng là người lập ra tòa án dị giáo để khủng bố và trục xuất khoảng 150.000 người Do Thái ra khỏi Tây Ban Nha nếu họ không chịu cải sang Thiên chúa giáo.

4/- Nữ y tá Beverley Allitt là một kẻ giết người hàng loạt ở Anh và mang biệt danh “Thần chết”. Tòa án kết tội ả giết 4 đứa trẻ, âm mưu sát hại 3 trẻ em khác và gây thương tích thêm 6 đứa bé. Tội ác của Allitt diễn ra trong vòng 59 ngày (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1991) tại nhà trẻ ở Grantham và bệnh viện Kesteven ở Lincolnshire. Trong thời gian này, Allitt tiêm insulin (chất làm ngừng hoạt động của tim) vào cơ thể nhiều đứa trẻ. Tháng 5/1993, ả phải nhận bản án 13 năm tù. 9-doc-ac-4Allitt chấp hành án phạt trong một bệnh viện ở Nottinghamshire, Anh để điều trị hội chứng Munchausen.

5/- Elizabeth Bathory (7/8/1560 – 21/8/1614) là một nữ bá tước thuộc dòng họ quý tộc Bathory người Hungary, nổi tiếng là xinh đẹp và tàn ác. Bà ta là một trong số phụ nữ giết người nhiều nhất được ghi nhận trong lịch sử tính đến thời điểm hiện nay.

Thậm chí bà  ta có biệt danh “nữ bá tước máu” vì thích tiêu khiển bằng cách tra tấn, giết người khác. Năm 1611, Tòa án Tối cao hoàng gia kết án tử hình Elizabeth. Tuy nhiên, nhờ dòng máu hoàng gia và công lao của chồng là bá tước Nadasdy Ferenc, Elizabeth chỉ bị giam suốt đời tại lâu đài Csejthe.

6/- Delphine LaLaurie (1775-1842) là một phụ nữ giàu có, xinh đẹp và nổi tiếng ở New Orleans. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ đẹp hoàn mỹ đó là một con người độc ác và ẩn chứa những bí mật kinh hoàng. Tội ác của Delphine LaLaurie bị phơi bày ra ánh sáng sau khi biệt thự của ả xảy ra hỏa hoạn trong lúc tổ chức tiệc.

Khi nhân viên cứu hỏa tới dập lửa, họ kinh hoàng phát hiện hai nô lệ bị xích ở bếp. Thậm chí, nhân viên cứu hỏa còn nghe thấy tiếng kêu thất thanh của hàng chục người 9-doc-ac-5ở trên gác mái đang bị lửa vây đốt. Những người này cũng bị xích, khiến họ không thể chạy thoát khỏi đám cháy dẫn đến mất mạng.

Họ còn phát hiện nhiều xác nô lệ tại biệt thự của Delphine LaLaurie tử vong do bị tra tấn, giam cầm. Sau khi sự thật được phơi bày, Delphine LaLaurie đã bỏ trốn và không phải trả giá cho tội ác đã gây ra.

7/- Mary Ann Cotton (1832 – 1873) là một trong những phụ nữ tàn ác nhất lịch sử khi giết hại 21 người, trong đó có 12 người là con đẻ, chồng và mẹ đẻ của ả. Nữ sát nhân máu lạnh này đã giết hại chồng con để lấy tiền bảo hiểm nhân thọ của các nạn nhân. Sau khi giết người chồng đầu tiên cùng với con cái, ả tái hôn nhiều lần và tiếp tục ra tay sát hại họ. Tội ác của Mary Ann Cotton bị phát giác sau khi người chồng thứ tư bị giết.

9-doc-ac-6

Cơ quan chức năng đã phát hiện những dấu hiệu khả nghi và tìm ra bằng chứng phạm tội của nữ ác quỷ này trong suốt thời gian đó. Cuối cùng, ả bị treo cổ ở nhà tù Durham năm 1873 với tội danh giết người bằng thạch tín.

8/- Ilse Koch (1906 – 1967) được biết đến với biệt danh “phù thủy ở Buchenwald”. Ả là vợ của Karl Koch 9-doc-ac-7– chỉ huy trại tập trung Buchenwald và Majdanek. Lợi dụng quyền hành của chồng, Ilse Koch đã tra tấn, hành hạ tù nhân một cách dã man để thỏa mãn thú vui bệnh hoạn của mình. Ả là một trong những nữ đồ tể tàn ác nhất của phát xít Đức khi có sở thích ghê rợn lột da tù nhân để lấy hình xăm làm đồ lưu niệm.

Sau Chiến tranh thế giới 2, ả bị bắt và đem ra xét xử. Trong thời gian ngồi tù, Ilse Koch đã tự sát tại nhà tù Aichach vào ngày 1/9/1967.

9-mai-tang-2NHỮNG KIỂU MAI TÁNG

RÙNG RỢN NHẤT THẾ GIỚI

Có bao giờ bạn tự hỏi tục lệ chôn cất người chết bắt nguồn từ đâu? Tại sao chúng ta chôn cất người chết? Ở các quốc gia khác người ta có chôn người chết không? Và nếu không chôn cất thì họ sẽ làm như thế nào? Dưới đây chính là câu trả lời cho những câu hỏi trên:

1/. Pháo đài của sự im lặng : Những tín đồ của thần lửa tin rằng cơ thể là vật không tinh khiết và không nên làm ô nhiễm Trái đất bằng cách chôn cất hoặc hỏa táng. Chính vì vậy, họ đã dựng lên một pháo đài của thị trấn, nơi họ đưa những người chết lên đỉnh tháp, sau đó những loài kền kền cùng các yếu tố thời tiết sẽ giúp phân hủy những xác chết này. Sau khi thi hài người chết đã bị mặt trời tẩy trắng da và sấy khô xương thì họ nhặt lại và hòa tan chúng trong vôi. Điều đó giúp cho con người ta cảm9-mai-tang-1 thấy rằng họ là người có ích, ngay cả sau khi đã chết.

Đạo thờ hỏa giáo là nguồn gốc cổ xưa của Hồi giáo, nó cũng được coi là tôn giáo lâu đời nhất. Người ta tin đó là nguồn gốc của các tôn giáo khác như Do Thái giáo, Kitô giáo và cuối cùng là đạo Hồi.

2/. Mai táng trên cây : Những người dân bản địa của Autralia đưa những người chết lên trên cây. Giống như với các tín đồ của thần lửa, họ nhờ tới thời tiết và động vật trong rừng để phân hủy xác của những người thân của mình.

3/. Chôn cất trên tàu cướp biển : Vì những kẻ cướp biển đã sống và chết trên biển, thế nên xác của họ nằm trên một con tàu đầy vàng bạc giá trị và lênh đênh trên biển khơi. Bạn có nghĩ rằng những người này cần phải được chuyển vào bờ để chôn cất? Hoàn toàn không, bởi nhiều người cho rằng, những xác chết bị thối rửa này sẽ ngày đêm trôi dạt trên biển và bị chính những động vật của biển cả “làm thịt”.

9-mai-tang-3

4/. Treo lên cao : Người Trung Quốc cổ đại treo quan tài người chết trên những tản cây cao hoặc vách đá. Các quan tài được thiết kế để trông giống như một đèn chùm khổng lồ. Những quan tài này được treo ít nhất 10 mét so với mặt đất, ngoài ra có một số quan tài được treo đến 130 mét. Nếu là người khôn ngoan, thì khi bạn đi đến đây, đừng bao giờ nhìn lên phía trên nếu không muốn đau tim !

5/. Chôn trong đầm lầy : Đây là cách người châu Âu chôn cất thân nhân của họ trong thời Trung cổ thả trong một đầm lầy. Vào ngững năm cuối của thời Trung Cổ, người ta bắt đầu biết đến cách chôn xác chết dưới đất và từ đó cũng đã xuất hiện nhiều ngôi mộ. Tuy nhiên, đám tang vẫn chỉ là nghi thức dành cho giới thượng lưu thời đó.

9-mai-tang-46/. Thiên táng của người Tây Tạng : Cũng giống như những tín đồ thần lửa, họ đặt các loại hoa quả và thực phẩm bên cạnh xác chết để thu hút các loài động vật như kền kền, với hy vọng chúng sẽ bay đi và mang những người thân của họ lên… thiên đường.

7/. Tự thiêu theo người chết : Người Hindu tin rằng khi một người đàn ông chết, người vợ cũng phải tự thiêu để về đoàn tụ cùng chồng. Đó được xem là một sự hy sinh cần thiết ở thời bấy giờ, và dù hành động này đang bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng cho đến ngày nay vẫn được một số người áp dụng.

8/. Chôn hai lần : Ở Melanesia, cư dân của quần đảo Trobriand chôn người chết đến hai lần. Đầu tiên, họ chôn những người chết xuống đất, sau một thời gian, họ lại đào lên và dùng xương để làm thành các vật dụng gia đình như thìa (muỗng), hay các đồ dùng khác.

Những cư dân này sẽ đặt những đồ dùng làm từ xương người chết trong các hang động đối diện với biển. Họ tin rằng đây là một hành vi hiếu thảo. Vì sau này khi con cái bạn hỏi về một người nào đó đã khuất, bạn chỉ cần nói rằng cha ông của chúng là một cái thìa và nhìn hướng ra biển. Như vậy người ta sẽ không có gì phải sợ hãi mỗi khi nhắc đến những người đã mất.

9-mai-tang-5

9/. Phong cách của người Aztec : Người Aztec có tập tục làm đám tang rất “phong cách”. Đầu tiên, họ sẽ quấn những người thân yêu đã qua đời của họ trong một bộ trang phục bằng giấy và nếu đó là một kẻ xấu xa thì họ sẽ hỏa táng người đó cùng với một con chó. Điều này sẽ làm cho người xấu phải sống trong một thế giới đầy tội lỗi, xấu xa và đau đớn. Còn đối với những người tốt, họ sẽ chôn cất cẩn thận và không quên đặt hình các vị thần núi bên cạnh.

10/. Ăn thịt người chết : Những bộ lạc ở Amazon có một nghi lễ mai táng rất khủng khiếp, đó là… ăn người chết. quy-suHọ tin rằng điều đó sẽ thể hiện tình yêu với người quá cố, họ cũng sẽ đạt được trí tuệ và tài năng của người chết. Bạn có muốn được trở nên tài năng như những người đã mất ???

11/. Khiêu vũ với người quá cố : Sẽ chẳng có gì lãng mạn và tình cảm hơn khiêu vũ với gia đình thân yêu và nhất là những người bạn vô cùng thân thiết. Những người ở Madagascar cho rằng linh hồn không hoàn toàn rời khỏi cơ thể cho đến khi nó bị phân hủy một quá trình mà có thể mất một vài năm xác người mới phân hủy xong. Vì vậy, một khi cơ thể đã hoàn toàn bị phân hủy, họ sẽ đào lên và gói bằng dây văng lụa một cách cẩn thận, và người thân sẽ nhảy xung quanh. Trông cảnh tượng không khác gì một buổi tiệc sinh nhật. (tổng hợp)

sg-xuan-maiRÙNG RỢN

NHỮNGTÁC PHẨM “QUÁI VẬT”

Monsterpalooza được coi là ngày hội đặc biệt của những nghệ sĩ hóa trang. Tại đây tất cả các họa sĩ sẽ trưng bày những tác phẩm kinh dị nhất chỉ có trong viễn tưởng hay trên màn ảnh. Năm nay sự kiện được gọi tên là “The art of monster / Nghệ thuật của quái vật” vừa được tổ chức tại Burbank, Los Angeles.

Tham gia triển lãm tại ngày hội này là các tác phẩm hóa trang kinh dị, các mô hình tượng và các tác phẩm nghệ thuật kì quặc.

Một số hình ảnh những tác phẩm có mặt tại triển lãm :

9-rung-ron-1

Loạt hình 1: Những mô hình được sáng tạo giống hệt với các nhân vật trong các bộ phim khoa học viễn tưởng. Từ người ngoài hành tinh cho đến các quái thú và những nhân vật khổng lồ.

9-rung-ron-2

Loạt hình 2: Nhiều tác phẩm nhìn thấy đã rùng rợn và kinh dị. Những tác phẩm nghệ thuật này được gọi chung là “nghệ thuật của quái vật” như người Navi trong siêu phẩm Avatar

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

logo-bay-gio-ke

9-kim-tu-thap-1KHÁM PHÁ PHƯƠNG PHÁP

XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP

CỦA NGƯỜI AI CẬP

Ước tính để xây dựng Kim tự tháp, người Ai Cập phải sử dụng khoảng 2,3 triệu khối đá, mỗi khối nặng từ 2 – 4 tấn, đôi khi lên đến 15 tấn.  

Kim tự tháp là một tên gọi chung dành cho các kiến trúc có hình chóp và đáy vuông, các bên mặt là tam giác đều. Đa số mọi người đều nghĩ rằng, Kim tự tháp chỉ có ở Ai Cập, tuy nhiên, dạng công trình này có ở rất nhiều nơi trên thế giới. Với mỗi nền văn hóa khác nhau, Kim tự tháp sẽ có các đặc điểm phù hợp với những mục đích khác nhau. Với Ai Cập, Kim tự tháp được sử dụng như lăng mộ dành cho vua chúa. Khi một vị vua lên ngôi, họ sẽ xây dựng một Kim tự tháp cho riêng mình.

Kim tự tháp Kheops của Ai Cập là một trong những kì quan thế giới vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Theo nghiên cứu từ những kí hiệu bên trong công trình thì Kim tự tháp được xây dựng vào khoảng những năm 2580 – 2560 trước Công nguyên. Và Kim tự tháp cũng là một trong những bí ẩn gây ra tranh cãi giữa các nhà khoa học.

9-kim-tu-thap-2

H1: Đường dẫn nước giúp vận chuyển các khối đá vào Kim tự tháp. H2: Hình ảnh minh họa cho cách làm trên. H3: Đá sẽ được gia công và vận chuyển bằng lực đẩy của nước.

Nếu không đề cập đến các câu chuyện huyền ảo về Kim tự tháp, thì chúng ta có rất nhiều câu hỏi đặt ra về trình độ phát triển khoa học và kĩ thuật của người Ai Cập xưa. Họ có thể di chuyển những khối đá thiên nhiên nặng từ 2 – 4 tấn, đồng thời gọt giũa và ghép chúng lại với nhau một cách hoàn hảo, dù không hề sử dụng những vật liệu như xi măng của hiện đại nhưng vẫn vững chắc và tồn tại theo thời gian. Khi hoàn thành, ước tính chiều cao của Kim tự tháp là 146,59m.

9-kim-tu-thap-3

H4: Những khối đá được buộc vào phao. H5: Các khối đá sẽ được di chuyển vào các đường dẫn nước. H6: Không mất quá nhiều sức lực, người công nhân vẫn có thể vận chuyển vật liệu.

Theo trang Phượng Hoàng (Trung Quốc), hiện đã có một chuyên gia nhận định rằng bên trong Kim tự tháp vẫn còn tồn tại những đường dẫn nước. Dựa theo giả thuyết của chuyên gia này thì trong quá trình xây dựng, ngoài việc sử dụng một lực lướng lớn nhân công, người ta đã tạo ra những con kênh nhỏ giữa khu vực xây dựng với sông Nile, nhằm mục đích tận dụng lực đẩy của nước để di chuyển 2,3 triệu khối đá.

9-kim-tu-thap-4

H7: Các khối đá sẽ được di chuyển vào từng cửa khẩu. H8: Sau đó sẽ đóng các cửa khẩu tương ứng và các khối đá sẽ di chuyển lên trên vào từng vị trí tương ứng. H9: Một thí nghiệm chứng minh cho giả thuyết trên.

Các khối đá được gia công từ một công trường rất xa khu vực xây dựng. Công nhân sử dụng những tấm da động vật để thổi khí, sau đó buộc chặt lại bằng dây thừng làm thành phao để vận chuyển các khối đá từ kênh vào Kim tự tháp.

Có thể đồng ý rằng người Ai Cập sử dụng sức nước nhưng điều này sẽ khả thi hơn khi vận chuyển trên mặt phẳng hoặc dẫn nước xuống dốc, nhưng làm thế nào có thể nâng những viên đá lên cao và vào đúng vị trí tương ứng khi Kim tự tháp cao đến hàng trăm mét?

9-kim-tu-thap-5

H10: Bốn đường dẫn nước từ 4 hướng khác nhau sẽ đưa vật liệu vào vị trí tương ứng. H11: Các công nhân sẽ gia công đá bằng sức nước. H12: Các cửa khẩu được lắp đặt sẵn.

Câu trả lời của chuyên gia đưa ra giả thuyết này là trong các con kênh, người ta lắp đặt thêm cửa khẩu, sau đó di chuyển các khối đá qua từng cửa khẩu, sử dụng áp lực của nước để nâng các tảng đá di chuyển lên cao.

Nếu áp dụng với nguyên lí trên, người Ai Cập có thể đưa đá vào công trình từ cả bốn hướng của Kim tự tháp. Các khối đá sẽ được di chuyển bằng cách làm đầy hoặc thoát nước tại các đường rãnh vào Kim tự tháp. Khi đó, công nhân chỉ cần tháo các bao khí, khối đá sẽ được hạ xuống một cách an toàn.

9-kim-tu-thap-6

H13: Toàn cảnh một trong những cửa khẩu của Kim tự tháp. H14: Các góc được tính toán kĩ lưỡng. H15: Với góc 53 độ sẽ đảm bảo các đường dẫn nước không quá dốc, có thể vận chuyển các khối đá lên cao.

Các đường dẫn nước sẽ được hình thành dần khi Kim tự tháp được xây dựng lên cao. Tất cả sẽ được xây theo chiều hướng lên trên theo một góc 53 độ. Những góc này đã được tính toán kĩ lưỡng để không quá dốc, và các mặt của Kim tự tháp cũng được xây dựng theo góc này.

Việc phát hiện các khối đá có dính vật chất trên sông lại càng làm cho giả thuyết người Ai Cập xưa sử dụng sức nước để xây dựng Kim tự tháp có thêm cơ sở chứng minh. Trước đó, nhiều chuyên gia cũng đã khai quật được các đường dẫn nước vào Kim tự tháp.

9-kim-tu-thap-7

H16: Đường dẫn nước được khai quật. H17: Đền Angkor Wat ở Campuchia. H18: Vết lồi được phát hiện trên một khối đá.  H19: Việc vận chuyển dễ dàng hơn khi có những vết lồi này.)

Trên thế giới cũng có các công trình sử dụng phương pháp này để xây dựng, cụ thể là đền Angkor Wat ở Campuchia. Người Khmer đã vận dụng các con kênh đào để vận chuyển 5 tấn sa thạch bằng cách để chúng vào bè gỗ và di chuyển theo sông, hồ vào khu vực xây dựng đền. Nhờ phương pháp này, họ đã rút ngắn thời gian xây dựng, hoàn thành công trình trong vòng 35 năm thay vì cả trăm năm theo tính toán trước đây của các nhà khoa học.

sg-ph-tat-daiNgoài ra, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện trên những khối đá có nhiều vết lồi do bàn tay con người tạo nên, có thể vết này giúp cho việc vận chuyển được dễ dàng hơn.

Với những lí luận trên cùng các thực nghiệm đã chứng minh rằng phương pháp trên là có khả năng, nhưng suy cho cùng đây cũng chỉ là một giả thuyết được đưa ra để tham khảo. Kim tự tháp Ai Cập là một trong những bí ẩn lớn được đưa ra nghiên cứu từ nhiều năm nay, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có giả thuyết nào được xác định là hoàn toàn hợp lí và chính xác nhất. (theo thegioitre)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp