THẾ GIỚI QUANH TA (14)

SUÝT NGẤT VỚI MUÔN KIỂU

ÔN BÀI CỦA SĨ TỬ MÙA THI

Có lẽ, sự nghiệp học hành chưa bao giờ gian nan đến thế mỗi khi mùa thi về. Tùy theo khả năng hấp thu “vitamin kiến thức” mà mỗi đứa sẽ chọn một kiểu “nạp bài” khác nhau. Vậy các sĩ tử sẽ chọn sắc thái ôn thi nào dưới đây để “vượt vũ môn” an toàn toàn nhất ?

H1: Khi kì thi bắt đầu đúng vào mùa nước lũ thì có lội nước cũng phải… học.  H2: Học, học nữa, học mãi, học mọi lúc, mọi nơi.  H3: Một trong những phương pháp hệ thống lại kiến thức.

H4: Nỗi lòng sinh viên ở trọ ôn thi mùa nắng nóng.  H5: Đậu thì cùng đậu mà rớt thì cùng rớt ha.  H6: Thanh niên cứng của năm, chưa học bài đủ là chưa ngủ, chưa đi chơi.  H7: Nét đẹp ôn thi của sĩ tử xứ sở nông nghiệp.

H8: Lớp học phút chốc trở thành bệnh viện, vừa học vừa… truyền nước.  H9: Trẻ không học già hối hận. H10: Không phải ai cũng có quyết tâm cao như cô gái ấy.  H11: Gió mưa là chuyện của trời, ôn thi là chuyện cả đời sinh viên !

H12: Sĩ tử trước và sau mùa thi.  H13: Làm thế nào để ngồi học được như vậy nhỉ ?  H14: Sau động đất, nhà sập thì dựng lều ôn thi.  H15: Nếu không muốn bị hói đầu sau mùa thi thì đừng dại… ngủ gật.  (theo Hồng Vi –  the gioi tre)

MANDALAY,

NƠI… ĐỨC PHẬT

ĐẶT CHÂN ĐẾN

Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Miến Điện ra đời vào thế kỷ 19 (năm 1857) với Mandalay Hill là ngọn đồi cao nhất thành phố. Theo truyền thuyết Miến Điện, người ta tin rằng Đức Phật đã có lần đặt chân đến ngọn đồi thiêng này.

Có thể vì vậy, một vị vua Miến Điện vào giữa thế kỷ 19 muốn xây dựng một kinh thành mới ngay dưới chân ngọn đồi Mandalay Hill để kỷ niệm 2,400 năm đạo Phật hiện diện trên thế gian. Đó là vua Mindon Min, người mang tham vọng biến khu vực này thành một “kinh đô Phật Giáo của Burma.” Vì thế, Mandalay bỗng dưng trở thành vừa là kinh đô vương triều Burma, vừa là một trung tâm văn hóa Phật Giáo lớn nhất của Miến Điện trong thế kỷ 19-20.

Những ai đã có dịp viếng thăm Miến Điện đều nhận thấy rằng đây là xứ sở của Phật Giáo Tiểu Thừa hết sức phong phú và được xem như là quốc giáo. Đâu đâu người ta cũng thấy các bảo tháp Phật Giáo được xây cất khắp mọi nơi, trên những ngọn đồi nhỏ, trên các đỉnh núi cao, ở các vùng sông hồ và biển. Có lẽ người dân Miến Điện tin vào công đức cúng dường Tam Bảo mỗi khi họ hoàn thành được một ngôi bảo tháp trong kiếp sống hiện tại.

Mindon Min lên ngôi vua lúc ông đã 45 tuổi, ông trị vì Miến Điện trong suốt 25 năm từ năm 1858 đến 1883. Ông là một nhà vua có đời sống hoàng gia rất sung túc, ông có đến bốn hoàng hậu và bốn mươi chín thứ phi. Về con cái, ông có bốn mươi hoàng tử và hơn sáu mươi công chúa. Nhưng đặc biệt, vua Mindon rất tôn sùng đạo Phật. Ông là người có công rất lớn khi biến thành phố Mandalay thành “một trang kinh” khổng lồ trong cuốn kinh điển Phật Giáo Miến Điện vĩ đại.

Cũng giống như tất cả những thành phố khác trong xứ Miến, trong mọi ngõ ngách thành phố Mandalay đâu đâu cũng là chùa, là bảo tháp. Nhưng nổi bật nhất là ở Madalay Hill và Sagaing Hill, đây là hai ngọn đồi rất đẹp với vô số những bảo tháp tường trắng, đỉnh tháp vàng nhọn in trên nền rừng xanh lá với ánh nắng chói chan của mùa hè hoặc màu mây trắng xám của mùa mưa.

Chung quanh thành phố, các di tích lịch sử như các bảo tháp Kuthodaw và Mahamuni Pagoda, tu viện Golden Palace Monastery, hay cung điện Mandalay Palace cộng thêm những con phố điêu khắc tượng Phật đã biến Mandalay thành “một trang kinh khổng lồ” trong cuốn sách kinh điển của Phật Giáo Miến Điện. Các di tích này như là những “chữ biếc” tuyệt vời nằm giữa “trang kinh thơm Mandalay.”

Mỗi một di tích vừa là một nghệ thuật kiến trúc, vừa là một di tích văn hóa lịch sử Phật Giáo được vua Mindon đích thân sáng tác chăm lo. Có đến Mandalay dừng chân thưởng ngoạn di tích Kuthodaw Pagoda, lữ khách mới thấy được nét đẹp “chữ biếc giữa trang kinh Mandalay” thấm đậm dần vào tâm tư sâu lắng của mình.

Kuthodaw Pagoda ở chân đồi Mandalay Hill là một ngôi chùa bảo tháp Phật Giáo được vua Mindon Min cho xây dựng cùng một lúc với thành phố Mandalay năm 1857. Bảo tháp Kuthodaw cao 57 mét và dưới chân bảo tháp có 729 bia đá vây quanh, mỗi bia đá được đục khắc các trang kinh của bộ kinh Phật Giáo Tiểu Thừa. Một mặt bia được khắc bằng ngôn ngữ Miến Điện, một mặt khác của bia được khắc bằng chữ Phạn. Đây là những “thạch bia kinh/ kinh điển khắc trên bia đá” lớn nhất thế giới.

Bộ kinh này có tất cả 729 trang kinh, nghĩa là có 729 bia kinh được dựng lên và mỗi bia kinh đều được đặt trong một “đình nhỏ” che chở nhằm bảo tồn với khí hậu mưa nắng của thế gian. Đình nhỏ này có bốn cửa ra vào bốn bên để bất cứ ai cũng có thể ra vào đọc những dòng kinh khắc viết trên bia đá. Tuy nhiên, ngày nay người ta đã cho làm các song cửa sắt, giảm bớt sự ra vào của tín đồ.

Thâm ý của vua Mindon Min muốn kéo dài thời gian hiện hữu của kinh điển Phật Giáo Miến Điện cho hậu thế. Cũng có thể nhà vua không muốn tạo lòng tham cho những người phương Bắc (Trung Hoa) thường hay đến đánh chiếm hay phá hủy đi kinh điển Phật Giáo của xứ sở ông như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Sự mộ đạo của nhà vua đã khiến ông tạo ra một số công trình cho Phật Giáo Miến Điện vào giữa thế kỷ 19. Công trình “Thạch Bia Kinh” to lớn này phải mất đến tám năm mới hoàn thành và đã làm kinh ngạc mọi người. Năm 1993, UNESCO chọn Kuthodaw Pagoda là một di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ.

Năm 1871, vua Mindon Min là người đã tổ chức triệu tập hội nghị Phật Giáo Tiểu Thừa Miến Điện lần thứ năm tại Mandalay. Cũng trong năm này, nhà vua còn “cúng dường Phật pháp” bằng cách cho trùng tu lại Đại Kim Tháp (Shwedagon Pagoda) tại Yangon thành một bảo tháp mới, có mạ vàng và nạm thêm đá quý kim cương trên đỉnh và Đại Kim Tháp này cao gần 105 mét.

Nhà vua mất năm 1878, thọ 70 tuổi.Ông là một nhà vua vào cuối thế kỷ 19 và được người dân Miến Điện kính trọng. Người con lên kế vị là vua Thibaw. Tuy nhiên, vua Thibaw là một vị vua tầm thường đã để đế quốc Anh thôn tính Miến Điện vào năm 1885. Chế độ vương triều Miến Điện cáo chung từ đó.

Trong tác phẩm “Con Đường Mây Trắng” do nhà văn Nguyễn Tường Bách biên dịch của tác giả Anagarika Govinda có một chương nói về sự tái sinh “U Khanti: Nhà Tiên Tri Trên Núi Mandalay,” câu chuyện nói về một nhân vật ẩn tu tạm gọi là (Mr.) U Khanti.

Sau khi đế quốc Anh chiếm đóng Miến Điện, khu vực Mandalay Hill bị bỏ hoang phế, không còn con người lui tới vì giặc giã cướp bóc đầy dẫy nơi đây.

Nhưng, bỗng một ngày người ta thấy có một người lạ mặt không ngại sự hiểm nguy cướp bóc, ông đã đến ẩn tu tại đây và bỏ hết công lao tâm sức trùng tu lại công trình Kuthodaw Pagoda của vua Mindon Min lúc đó đã bị hư hại xuống cấp trầm trọng. Người ẩn tu U Khanti đã thành công trong việc bảo tồn kho tàng “729 trang bia đá kinh” của Kuthodaw Pagoda.

Người ta cho rằng ông chính là “người tái sinh” của vua Mindon Min, nhà vua trở lại thế gian để hoàn tất công trình mà kiếp trước ông vẫn chưa hoàn tất. Câu chuyện quả thực hết sức linh động trong đời sống tâm thức dành cho những ai tin vào kiếp sống luân hồi.

Những người như nhà ẩn tu U Khanti, không biết còn được bao nhiêu người ở thế kỷ 21 này. Viếng thăm các ngôi đền chùa ở Miến Điện nói chung, nhìn các Phật tử thành tâm tụng kinh lễ Phật trong sự trang nghiêm làm tôi chợt nhớ đến một thánh địa Phật Giáo bên xứ Ấn. (theo Trần Nguyên Thắng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NHỮNG PHÁT MINH CỦA NGƯỜI ÚC

LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Úc là quốc gia rất nổi tiếng với tính sáng tạo và có những phát minh tác động mạnh mẽ đến thế giới. Dưới đây là những phát minh của nước Úc giúp toàn thế giới tiến bộ.

1/. Hộp đen máy bay : Vào năm 1961, Dave Warren đã tạo nên các hộp đen ghi lại hành trình, tiếng nói từ buồng lái, dữ liệu máy bay. Những chiếc hộp này được thiết kế để phát lại những khoảnh khắc cuối cùng trước khi máy bay gặp nạn, tiết lộ những điều bí ẩn. Ngày nay, ở mỗi chiếc máy bay thì hộp đen được gắn ở mặt sau máy bay để giảm nguy cơ hư hỏng sau vụ tai nạn. 2/. Google Maps : Từ năm 2003 – 2004, anh em Lars và Jens Rasmussen đã phát triển nền tảng cho Google Maps.

3/. Tiền giấy Polymer : Tiền giấy nhựa đã được phát triển trong nỗ lực kết hợp của Ngân hàng Dự trữ Úc và CSIRO. Chất liệu polymer rất bền và chống làm giả. Những đồng tiền đầu tiên từ chất liệu này được lưu hành lần đầu tiên tại Úc vào năm 1988.

4/. Máy khoan điện : Kỹ sư điện người Úc Arthur James Arnot đã được cáp bằng sáng chế cho chiếc máy khoan đầu tiên trên thế giới vào năm 1889. Phát minh ban đầu được thiết kế để khoan đá và đào than. 5/. Bè và bơm hơi thoát hiểm : Jack Grant của Qantas đã phát minh ra bơm hơi thoát hiểm trên máy bay, mà bây giờ là thiết bị an toàn bắt buộc trên tất cả hàng không lớn. Các slide có thể được sử dụng như thiết bị tuyển nổi nếu máy bay hạ cánh trên mặt nước.

6/. Ống kính Frazier : Năm 1993, ống kính tập trung sâu của Jim Frazier đã được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ. Với chiếc ống kính này cho phép và chủ thể và bối cảnh được focus cùng lúc. Nó cũng có khả năng xoay mà không cần đến sự chuyển động của máy ảnh.

Hiện nay, các ống kính rất thông dụng trong các bộ phim và phim điện ảnh trên khắp thế giới. Jim đã chiến thắng giải Oscar năm 1998 cho những đóng góp của mình.

7/. Camera hành trình : Năm 1997, Channel 7 đã phát sóng chương trình truyền hình trực tiếp từ những chiếc xe đua, cho phép người xem xem cuộc đua từ góc nhìn của người lái xe. Hôm nay, các camera hành trình đã được điều chỉnh để phù hợp với các sự kiện thể thao như trượt tuyết, bóng rổ, cricket. 8/. Tủ lạnh : Năm 1856, James Harrison là người đầu tiên chế tạo một chiếc máy làm đá cục và một tủ lạnh dùng hệ thống hơi nén. Tuy nhiên, chiếc tủ lạnh đầu tiên mà James chế tạo ra lớn hơn tủ lạnh bây giờ rất nhiều. (Minh Tâm theo Australian geographic)

Lan Hương chuyển tiếp

CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

CÓ MÁI TÓC DÀI NHẤT VIỆT NAM

Với mái tóc dài 2.4m, người phụ nữ với biệt hiệu ”Lan tóc dài” (quê Thái Bình) tiết lộ, vì mái tóc của chị mà cả gia đình phải ngủ ngược giường, để mái tóc dài không ảnh hưởng đến giấc ngủ của chồng, con.

Chị Hoàng Thị Lan (TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình) Tổ chức Kỷ lục Guinness Việt Nam trao xác lập là người phụ nữ có mái tóc dài và thẳng nhất Việt Nam vào ngày 27/10/2012.

Theo lời chị Lan chia sẻ với báo chí, chị đã không cắt tóc kể từ 20 năm trước. Bí quyết của chị Lan để giữ mái tóc lúc nào cũng đen, mượt và thẳng, đó là suốt bao nhiêu năm nay, chị không sử dụng dầu gội bên ngoài mà chỉ dùng lá cây như lá chanh, lá bưởi, sả… để gội dầu. Nó làm cho mái tóc của chị chắc khỏe, đen mượt và thơm tự nhiên.

Chị tâm sự, khoảng 3, 4 ngày chị gội đầu một lần, mỗi lần gội cũng phải mất hàng tiếng đồng hồ. Tuy nuôi tóc dài tiêu tốn lượng nước lớn và các loại lá, dầu gội nhưng đổi lại chị thấy vui vì mỗi khi ra đường đều có người ngoái nhìn.

Phương Lan cho biết, vất vả lớn nhất của chị là những khi sấy tóc bằng quạt máy. Chị không dùng máy sấy vì sức nóng máy sấy dễ làm xơ tóc. Mỗi lần sấy tóc bằng quạt chị phải tốn khoảng vài chục phút. Cách sấy cũng cầu kỳ, phải sấy lần lượt từ ngọn tóc đến chân, từ trong đến ngoài nên mái tóc bồng bềnh như một dải lụa.

Mùa hè còn đỡ chứ mùa đông là nỗi cực khổ vô cùng đối với chị khi cái lạnh buốt thấu xương của mùa đông Bắc bộ đổ về mà vẫn phải bật quạt để làm khô tóc. Những người đã biết chị thì gọi chị là “Lan tóc dài”, người không biết lại hỏi có phải chị người Nhật Bản, Trung Quốc hay người dân tộc Thái (Việt Nam) hay không.

Nhiều người tấm tắc khen mái tóc của chị, có người hỏi chị nuôi tóc vậy có vất vả hay không ? chị Lan thật thà tâm sự, chị thấy rất bình thường, chỉ vất vả khi đội mũ bảo hiểm và khi đi ngủ.

Khi đội mũ bảo hiểm hơi khó vì búi tóc quá cao và to, lúc gội đầu phải gỡ bằng tay, nếu dùng lược tóc sẽ gẫy hết nhưng sau nhiều năm, chị Lan cảm thấy những điều khó chịu đó lại rất bình thường. Chị cho rằng, nuôi tóc dài rất gọn gàng vì tóc búi suốt ngày và không mất tiền gội, sấy, nhuộm tóc như những chị em khác.

Chị Lan cũng cho biết thêm, vì mái tóc của chị mà cả gia đình chị phải ngủ ngược giường. Khi đó tóc chị xõa xuống nền nhà, không ảnh hưởng đến giấc ngủ của chồng, con.

Chị bảo, có được mái tóc này là nhờ công chồng chị rất nhiều. Bởi cũng có lúc cảm thấy vướng bận, chị đã tính cắt phăng cho gọn. Nhưng ý nghĩ mới chợt lóe lên đã bị chồng chị phản đối kịch liệt. Chồng chị nói, anh ấy yêu chị vì mái tóc này đây.

Nếu chị cắt tóc đi đồng nghĩa với việc cắt cả tình yêu của chồng dành cho mình suốt bao năm nay. Nói như vậy để thấy rằng, Phương Lan đã nhận được sự ủng hộ hết mình từ phía những người thân yêu nhất của mình.

Hiện tại, thỉnh thoảng chị cắt, tỉa một chút ở phần ngọn cho tóc đỡ mọc dài ra vì chị chỉ muốn để tóc dài như vậy chứ không muốn dài thêm nữa.

Trong khi lớp trẻ ngày nay đang mải miết chạy theo những trào lưu thời thượng, du nhập từ bên ngoài vào thì mái tóc dài của chị Phương Lan là một biểu tượng đẹp duyên dáng về phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Một mái tóc dài tự nhiên, đen bóng, mượt mà thuần túy, mang đậm phẩm chất hiền hậu, thướt tha mà chỉ người phụ nữ Á Đông mới có.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CÒN ĐÂU, MỘT THỜI

XÍCH LÔ MÁY SÀI GÒN

– Trần Tiến Dũng

Một người bạn nay đã ở tuổi trung niên kể : “Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham Taxi, không ham xe bus… mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích lô máy. Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô tô, tiếng pô xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Một người bạn già khác lại nói : “Tài tình nhất là cảnh xe xích lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể. “Trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích lô máy có chút mạo hiểm. Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.” Ở góc độ ký ức đô thị hẳn nhiều người không bao giờ quên hình ảnh xe xích lô máy.

Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc chở khách tỉnh lên Sài Gòn tấp vào tiệm nước làm ly cà phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu. Cảnh phố khuya thanh vắng tiếng xe xích lô máy vang lên.

Một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính nào đó say mèm đang trên đường với xe xích lô máy. Tiếng xe xích lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chúng cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích lô máy túc trực; người ta cũng không quên rằng những bác tài xích lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Theo tìm hiểu thì xích lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Chiếc xích lô máy ngày xưa với nhiều màu sơn sặc sỡ, xe có thể chở với trọng lượng vài trăm ký lô là bình thường. Người chạy xe xích lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích lô đạp, bởi vì sở hữu được một chiếc xe xích lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá.

hành ra bác tài chạy xe xích lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. Ngày xưa xe xích lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu… có những hãng chuyên cho thuê xe xích lô máy.

Ngày nay với chủ trương cấm lưu thông xe cũ nhằm tạo điều kiện để đưa một loại xấu xí nhất thế giới là xe ba-gác Trung Quốc vào chiếm lĩnh thị trường, thì xe xích lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá.

Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự. “Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích lô máy còn zin là được. Cha ơi ! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết !”

Tất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước bị đảo lộn bị đánh tráo dưới chế độ hiện nay; thôi thì níu kéo làm cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích lô máy.

Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm. (theo Trần Tiến Dũng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

THẾ GIỚI QUANH TA (13)

SAIGON VÀ

TUỔI THƠ CỦA TÔI

– Trần Mộng Tú

Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968 Mậu Thân thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười, rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả : Hoa hường phết (phết là dấu phẩy)

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. tôi viết: Qua tường phết.

Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này :

Sài Gòn vòi nước bùng binh

Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên

Trụ đèn, giây thép, tượng hình

Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an

Mặc dầu đường rộng thênh thang

Ngựa xe đi lại luật hành phải thông

Mặc dầu đường rộng mênh mông

Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm

Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…

Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì. Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba. Sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ.

Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, mà bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp. Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra.

Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một trái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa. Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ trái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn. Đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà.

Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 su bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho: Tiết Trực Tâm Hư)

Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambretta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… làm nên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai, với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.

Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh. Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

BIẾT GÌ VỀ SÀI GÒN XƯA?

Sài Gòn xưa vẫn còn nhiều điều chưa tỏ, nhưng chẳng vì thế mà ta nên bỏ ngỏ… Bởi lẽ Sài Gòn là vùng đất đa mang khá nhiều điều thú vị.

1/- Người phụ nữ Sài Gòn đầu tiên được in hình lên tem năm nào ?

Như chúng ta đã biết, năm 1863 ngành bưu hoa ở Nam Kỳ mới phát hành con tem đầu tiên, hình vuông. Theo nghiên cứu của ông Thái Văn Kiểm trong quyển Lịch sử bưu hoa Việt Nam (Sài Gòn 1964) thì mãi đến năm 1920 mới phát hành loại tem có hình phụ nữ miền Nam, tóc búi cao, giá 0,04 đồng.

Trong cuốn Catalogue Thiaude – Timbres – Post ngoài bìa có ghi rõ: 24, rue du 4 – Septembre, Paris 2e-Ric. 14-27, trong mục về tem Indochine, tr. 230 và 231 có in hình ba con tem vẽ phụ nữ miền Nam.

Con tem thứ nhất giá 1 cent là chân dung một phụ nữ hình nghiêng và con tem giá 40 cent vẽ chân dung trực diện, hai con tem này in năm 1907, rồi mãi đến năm 1919 mới có con tem phụ nữ hình nghiêng giá 4 cent. Theo tác giả Sài Gòn năm xưa, thì đó là hình của cô Ba, con thầy thông Chánh.

2/- Điện báo hoạt động lần đầu tiên năm nào ?

Đường dây điện báo Sài Gòn – Biên Hòa dài 28km hoàn thành ngày 27-3-1863 là loại đường dây hữu tuyến đầu tiên; có hai đoạn cáp ngầm qua sông Sài Gòn (ở Bình Triệu) và sông Đồng Nai (gần Biên Hòa) Ngày 17-4-1863, đường dây Sài Gòn – Chợ Lớn dài 7km cũng làm xong. Năm 1884, bắt đầu liên lạc Sài Gòn – Huế – Hà Nội bằng điện báo qua dây cáp ngầm Vũng Tàu – Đồ Sơn.

3/- Người Sài Gòn dùng điện thoại từ khi nào ?

Năm 1878 bốn chiếc máy điện thoại đầu tiên theo kiểu Bell được mua từ Singapore về, đặt đường dây liên lạc giữa dinh Thống đốc với Sở Điện tín Sài Gòn. Lúc bấy giờ chưa hình thành hệ thống phục vụ công cộng. Mãi tới ngày 1-7-1894 hệ thống điện thoại nội hạt ở Sài Gòn mới được lắp đặt, phục vụ cho dân chúng. Sau đó phát triển nối liền với Chợ Lớn – Biên Hòa – Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm sau (1895), hệ thống điện thoại ở Chợ Lớn cũng khai trương (tại Hà Nội hệ thống điện thoại công cộng đến năm 1903 mới có). Tuy nhiên, chưa có hệ thống điện thoại tự động, mỗi máy thuê bao có một số. Ở trung tâm điện thoại luôn luôn có nhân viên thường trực cắm phích liên lạc giữa hai số máy theo yêu cầu.

Đường dây điện thoại Đông Dương liên lạc giữa ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia được đưa vào sử dụng năm 1889.

Mãi đến năm 1936 mới có điện thoại tự động đầu tiên. Trên mỗi máy đều có một bộ phận để quay hoặc bấm số. Người Pháp đã mang điện thoại tự động 2.000 số, kiểu R6 lắp đặt, sử dụng ở Sài Gòn. Như vậy người dân Sài Gòn đã biết sử dụng điện thoại trên 100 năm.

4/- Có phải đường Nguyễn Huệ xưa từng là một con kênh ? Ngôi chợ nào gắn liền với con kênh đó ?

Đường Nguyễn Huệ ngày nay từng là kênh đào lớn đi dọc theo hai con đường Charner và Rigault de Genouilly thông với thương cảng, kênh đào này phục vụ cho các vựa hàng của chợ Charner vốn là một trong những chợ quan trọng nhất của thành phố.

Năm 1860, việc lấp kênh đào này đã phát sinh cuộc tranh cãi ngay giữa Hội đồng thành phố. Một nhóm người đấu tranh cho vệ sinh công cộng – họ xem kênh đào như một ổ nhiễm khuẩn thật sự ở cửa ngõ của thành phố. Nhóm khác là những thương nhân ca ngợi tính hữu dụng của kênh đào. Do đó, dự án lấp kênh đào lớn bị dời lại đến năm 1887 kinh đào mới bị lấp để xây dựng một đại lộ cùng tên “đường Kinh Lấp” nối liền tòa thị chính đến các bờ sông. Ngày nay đó là đại lộ Nguyễn Huệ.

Chợ gắn liền với kênh Lớn là chợ Charner, được xây dựng năm 1860, các vựa hàng tạo nên chợ đầu tiên của thành phố Sài Gòn. Hàng hóa được cung ứng từ con kênh đào lớn mở ra trên thương cảng. Toàn bộ không gian chợ được chia làm ba vùng riêng biệt, đặt dưới sự kiểm soát của viên trị sự thương mại thành phố – người chịu trách nhiệm kiểm tra việc thu thuế môn bài và việc sử dụng hệ thống trọng lượng và đo lường của Pháp. Sau khi lấp con kênh đào năm 1887, hoạt động của các vựa hàng dần dần ngừng hẳn, các vựa hàng này được thay thế bằng chợ Bến Thành xây dựng năm 1912.

5/- Sao gọi là “Nhà Bè nước chảy chia hai” ?

Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía đông nam, rồi chảy ra biển Đông bằng hai ngả chính: ngả Soài Rạp dài 59km, rộng trung bình 2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào cảng Sài Gòn.

6/- Về nguồn gốc tên gọi Củ Chi ?

Huyện Củ Chi phía bắc và đông giáp tỉnh Bình Dương, tây giáp hai tỉnh Tây Ninh và Long An, nam giáp huyện Hóc Môn. Diện tích 428,6km2, dân số 248.044 người (1995) gồm có một thị trấn và 20 xã.

Củ Chi trở thành địa danh hành chính từ năm 1956. Huyện Củ Chi vốn là hai quận Củ Chi (Hậu Nghĩa) và quận Phú Hòa (tỉnh Bình Dương) nhập lại. Củ Chi là tên gọi dân gian của cây mã tiền có nhiều ở vùng này vào thời đó. Cây mã tiền, một loại cây ở rừng, leo bằng móc, lá mọc đối có ba gân, hoa trắng, quả tròn, hạt dẹt như khuy áo, dùng làm thuốc.

7/- Ý nghĩa về mâm ngũ quả mà dân Sài Gòn thường chưng trong những ngày tết ?

Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì “ngũ phước” là ngôn ngữ của “ngũ quả”: phú quý, thọ, khang ninh, khảo, chung mạng (giàu sang, sống lâu, mạnh khỏe, bình yên, chết lành khi về già). Vì lẽ đó người ta đã lựa chọn những loại trái cây có tên đồng âm với ý nghĩa tốt. Ở Nam Bộ dựa vào giọng phát âm tương tự, đồng bào đã chọn mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung. Với mâm trái cây như thế thì ta hiểu rằng: “cầu sung vừa đủ xài”. Sung là sung túc, dừa phát âm như vừa, và xoài là xài !

Thế nhưng, để mâm ngũ quả sinh động, màu sắc rực rỡ thì người ta còn thêm nhiều loại trái cây khác nữa như quýt (đồng âm với kiết có nghĩa là cát, là tốt lành) hoặc trái tắc (đồng âm với đắc là đắc lợi) hoặc bông mai (đồng âm với may, là may mắn) hoặc trái thơm (gợi sự thơm tho) hoặc thêm cả trái lê viết từ chữ lợi (chữ Hán) có thêm chữ mộc v.v… Điều này cho thấy mâm ngũ quả của dân Sài Gòn không chỉ phong phú về các loại trái cây mà còn chú trọng về mặt ý nghĩa như một lời cầu mong tốt đẹp cho năm mới.

8/- Nhạc tài tử lần đầu lên sân khấu ở Sài Gòn lúc nào ?

Vào năm 1915 Nguyễn Tống Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên nghiệp ở Sài Gòn.

9/- Cải lương xuất hiện ở Sài Gòn lúc nào?

Ngày 11-9-1917, vở kịch mô phỏng kịch hài phương Tây Vì nghĩa quên nhà của Lê Quang Liêm và Hồ Biểu Chánh được công diễn ở rạp Eden (Sài Gòn). Ngày 12-9-1917, vở được diễn ở rạp Cô Tám (Chợ Lớn). Vở kịch tạo ra cuộc tranh luận giữa hai phe bảo tồn hát bội và phe cải lương kịch nghệ, báo hiệu sự ra đời của ca kịch cải lương.

Sau đó, gánh hát Lê Văn Thận đã diễn vở Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều. Năm 1919, gánh hát Thầy Năm Tú diễn các vở Hạnh Nguyên cống Hồ, Trang Tử cổ bồn ca ở rạp Moderne (Sài Gòn).

10/- Sài Gòn – Gia Định xưa từng là một trong những nơi phát triển nghệ thuật hát bội ?

Hát bội là loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, manh nha từ đời Lý trong dân gian rồi tiến vào cung đình và được hoàn thiện vào đời Trần dưới đời vua Trần Nhân Tông. Đến đời Lê, hát bội bị cấm đoán, chỉ còn tồn tại trong dân gian.

Đầu thế kỷ XVII, hát bội theo chân các đoàn lưu dân vào Nam và phát triển tột bực dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Riêng ở Gia Định, Tả quân Lê Văn Duyệt đã tạo điều kiện phát triển loại hình nghệ thuật này. Không chỉ dinh tổng trấn có một đoàn hát bội mà các quan xa gần thuộc trấn Gia Định đều tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát trong hàng ngũ quân đội. Nghệ thuật hát bội đã lập cứ địa vững chắc và giao lưu với nghệ thuật hát Trung Quốc của người Minh Hương, người Cao Miên.

Trong thế kỷ XX, ở Sài Gòn có những ban hát bội sau: ban hát Thầy Chánh, ban hát cô Ba Ngoạn, ban hát Cô Tám, ban Tân Thành, ban Bầu Thắng, ban Công Thành, gánh Tân Hưng, ban Kim Thành, đoàn Kim Cương, đoàn Phước Thành, đoàn Minh Tơ, gánh Đại Nghĩa, đoàn Bầu Vàng, ban Biện Vực, nhóm nghệ sĩ Hội khuyến lệ cổ ca… (theo Huỳnh Thị Ngà / Địa chí)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

HÌNH ẢNH QUÊ HƯƠNG

NƯỚC VIỆT TUYỆT ĐẸP

Việt Nam đất nước hữu tình

Cảnh quan tuyệt đẹp nhìn hình ngất ngây,

Tuyệt vời khung cảnh trời mây,

Nước non cảnh vật đắm say lòng người,

Các ảnh thật quá tuyệt vời,

Tô thêm vẻ đẹp góc trời đáng yêu !

Dưới đây là 30 ảnh phong cảnh khắc họa những nét đẹp tuyệt vời của Việt Nam quê hương chúng ta. Những bức ảnh này đã được chọn vào vòng chung kết Cuộc thi Ảnh VnExpress. Nếu xem những bức ảnh này, các bạn sẽ thấy cảnh sắc của nước Việt chúng ta còn đẹp hơn nhiều những nơi được xem là thắng cảnh tham quan của một số nước Châu Á khác. Tiếc rằng ngành Du lịch Việt Nam chưa biết cách khai thác, quảng bá và phát triển để đẩy mạnh du lịch của người dân trong nước và khách nước ngoài.

H1: “Quê ngoại” – Thành Vương. Tác giả chia sẻ : “Quê tôi là một vùng chiêm trũng. Khi mùa gặt xong, bà con thu gom rơm rạ xây thành từng ụ. Đấy là một cách dự trữ thức ăn cho trâu bò khi lũ lụt về và mùa đông đến mà không phải đốt gây ô nhiễm môi trường”.

H2: “Đình Gò Táo” – Nguyễn Dũng. Bức ảnh chụp một ngôi đình cổ ở xã Tân Đông, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

H3: “Mùa thu thác Bản Giốc” – Võ Hoàng Vũ. Tác phẩm được chụp nhân chuyến đi đầu tiên của tác giả, người Đà Nẵng, tới Cao Bằng. “Bức ảnh được chụp tại tầng trên cùng của thác, khi những vạt nắng chiều vàng óng nhuộm lên những mảng cây trên thác. Đó là thời khắc tuyệt vời nhất của mùa thu, khoảnh khắc tuyệt vời và may mắn đối với tôi. Tôi muốn thể hiện sự mềm mại của dòng thác, dịu êm của sắc thu nhưng vẫn lấy hết ngọn núi để thể hiện sự vững chãi và chắc chắn, âm dương hòa hợp”.

H4: “Nhà thờ Đức Bà nhìn từ trên cao” – Huỳnh Thu

H5: “Sài Gòn bừng sáng” Y Ho Nhu. “Bức ảnh được chụp từ tầng 40 của một tòa nhà đang xây dựng, sử dụng len fisheye kết hợp với độ cao tạo ra hiệu ứng hình cầu. Chủ thể bức ảnh này là ánh đèn bừng sáng từ Đại lộ Đông Tây – một con đường đẹp uốn lượn dọc theo bến Chương Dương – đây cũng là một trong những điểm nhấn của Sài Gòn”.

H6: “Vòng vo Sài Gòn” – Dương Hoàng Đăng. Bức ảnh được tác giả chụp vào một buổi chiều nhá nhem tối tại sân thượng của chung cư Cao Đạt (Q5). “Ở góc chụp từ trên cao xuống, tôi đã cố gắng zoom ống kính để đặc tả hình ảnh đại lộ Võ Văn Kiệt lên đèn đang ôm lấy kênh Tàu Hủ uốn lượn hình chữ S”.

H7: “Suối Yến mùa thu” – Hoàng Thị Thu Đông. “Suối Yến nằm trong khu di tích thắng cảnh Chùa Hương, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Trong một chuyến tham quan Suối Yến cùng những người bạn vào trung tuần tháng 9, tôi cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên ẩn trong không gian thanh bình tĩnh lặng. Cảnh sắc Hương Sơn bốn mùa đều đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ vẫn là vào mùa thu, mùa không lễ hội. Cả chiều dài dòng suối được phủ một sắc hồng tím của những bông hoa súng, còn hai bên bờ là những rặng cây tràm lơ thơ lá”, tác giả chia sẻ.

H8: “Mùa no ấm” – Đinh Công Thủy. Bức ảnh được chụp tại thôn Khuổi My, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, trong chuyến đi thực tế của tác giả ngày 25/9/2014.

H9: “Thác Bản Giốc” – Nguyễn Văn Sơn. Bức ảnh được chụp trong một chuyến đi Cao Bằng của tác giả. “Trước khi đến thác Bản Giốc, tôi đã được xem ảnh và nghe một số người bạn kể về thắng cảnh này. Khi đến nơi, tôi thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp và sự hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây”, tác giả chia sẻ.

H10: “Sắc màu” – Cao Quang Trung. Bức ảnh được chụp trong chuyến đi dã ngoại kết hợp khảo sát du lịch của tác giả cùng mốt số đồng nghiệp ở tuyến Ba Bể – Thác Bà – Suối Giàng – Mù Cang Chải. Bức ảnh chụp ở Chế Cu Nha – một trong ba nơi ruộng bậc thang đẹp nhất Mù Cang Chải.

H11: “Hương lúa mới ngày mùa” – Trần Trung Hậu. “Đây là một khu ruộng bậc thang nằm gần một bản nhỏ trên vùng cao Bát Xát – Lào Cai. Các thửa ruộng tầng tầng lớp lớp như quấn vào nhau, ôm lấy bản làng. Khi mùa lúa chín, cả khu ruộng vàng rực bừng sáng dưới nắng chiều, giữa mầu xanh bát ngát của núi rừng tạo nên sự tương phản mạnh về màu sắc, ánh sáng”, tác giả chia sẻ.

H12: “Phố núi lên đèn” – Vũ Ngọc Hoàng. Bức ảnh được chụp mùng 8 Tết Nhâm Thìn, trong chuyến đi một mình lên Sa Pa của tác giả. “Khi trời vừa nhá nhem, nền trời vẫn còn sáng, thị trấn đã bật đèn, đúng lúc đó mây về và tôi bấm máy được kiểu ảnh này”.

H13: “Vươn tới tầm cao” – Nguyễn Thanh Vân. “Gần hết thời gian nộp ảnh dự thi, tôi nhận thấy chưa có cảnh biểu trưng Sài Gòn – đô thị hiện đại, ngày một tiến nhanh trên đường hội nhập. Tôi nghĩ ra còn góc nơi trung tâm tài chính của thành phố tôi chưa chụp, thế là rủ người bạn cùng lên cao ốc MC để chụp”, tác giả chia sẻ.

H14: “Bình minh Mỹ Khê” Hoàng Nam Dương. Bức ảnh được tác giả chụp trong một chuyến đi du lịch với gia đình tại Đà Nẵng. “Tôi đã cố gắng dậy thật sớm để đón được những khoảnh khắc đầu tiên của một ngày mới trên bãi biển Mỹ Khê. Tôi cảm nhận được một vẻ đẹp rất lộng lẫy nhưng cũng rất đỗi bình yên”.

H15: “Xuôi dòng” Nguyễn Hoàng Thanh. Tác giả cho biết, ảnh được chụp tại Bích Động ngày 11/3/2013 với Canon 5d2 24-105. ISO 100 – 105mm – F6.3 – 1/160.

H16: “Xuân về cao nguyên đá” – Trần Anh Tuấn. Tác giả chia sẻ: “Bức ảnh được ghi lại trong chuyến đi sáng tác đầu năm tại Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Ảnh này được chụp khi tôi đến gần Đồng Văn, các cháu bé khi thấy có người lạ đến chạy ùa lên để đón chào, hòa vào với những người phụ nữ, người đàn ông đi về bản. Khung cảnh đó lưu luyến mãi trong tôi”.

H17: “Lập An soi bóng” – Nguyễn Xuân Duy. “Bức ảnh Lập An soi bóng được chụp trong một buổi sáng mùa thu đầy nắng. Tôi cùng nhóm bạn đam mê chụp phong cảnh phải đón chuyến xe sớm để di chuyển từ Đà Nẵng ra Huế. Sau khi chụp bình minh sáng đầm Lập An, cảnh sinh hoạt chợ giữa đầm, cảnh các em bé theo cha mẹ ra đầm lượm lặt cá vụn… nhóm chuẩn bị ra về.

Bất chợt, tôi nhìn lại, những đám mây trên cao như ùa xuống ôm trọn dãy núi phía sau đầm, mặt nước trong xanh và tĩnh lặng hơn khi không còn khuấy động bởi các loại tàu cá của ngư dân, một chiếc thuyền nan nằm trơ trọi giữa đầm lọt vô khung hình làm tiền cảnh cho một không gian mênh mông của núi, của đầm phía sau. Tự nhiên thấy con người cũng nhỏ bé, lẻ loi trước vẻ hùng tráng kỳ vĩ của thiên nhiên…”.

H18: “Làng gốm Vĩnh Long” – Phạm Trí Nhân. Tác phẩm chụp tại làng gốm Nhơn Phú thuộc huyện Mang Thít, Vĩnh Long.

H19: “Thắng cảnh Gành Đá Đĩa” – Huỳnh Lê Viễn Duy. “Tôi về Phú Yên trúng vào đợt mưa bão, suốt một tuần lễ mưa gió, nhưng sáng nào tôi cũng chạy xe máy quãng đường 40km ra Gành Đá Đĩa để chụp ảnh. Suốt sáu ngày đi rồi về mà không chụp được gì vì thời tiết quá xấu, đến ngày thứ bảy, ngày cuối cùng ở Phú Yên, tôi vẫn quyết tâm đi lại nơi này. Hôm đó là ngày bão tan, khung cảnh nơi đây đã cho tôi một bình minh không thể tuyệt vời hơn.

Thật tình cờ những đám mây trên trời cũng xếp hình vảy cá giống hình dạng của đá nơi đây, trong tích tắc tôi phát hiện mảng mây màu đỏ rất đẹp, tôi xếp những chiếu thúng đối xứng với đám mây và tạo thành một bức ảnh với nhiều thứ đối xứng nhau: Mây hình vảy cá đối xứng với Gành đá, thuyền thúng đối xứng với mảng mây màu đỏ”, tác giả chia sẻ.

H20: “Nghỉ ngơi” – Phạm Văn Tỵ. “Trong chuyến đi sáng tác ở biển Tân Thành, Gò Công, sau khi chụp no nê với một bình minh tuyệt đẹp, tôi quay lại thấy con thuyền của ngư dân nằm nghỉ ngơi trên bãi biển khi nước rút. Ánh sáng xiên chiếu vào thân tàu được buộc chặt vào sợi dây neo cùng những vân cát nhờ ánh sáng chiếu vào nổi bật cả tiền cảnh. Một cảm xúc thanh bình về cảnh vật mang lại cú bấm máy nhanh chóng và bức ảnh ra đời”.

H21: “Phố cổ bên sông Lạch Tray” – Vu Dung Pham. Ảnh chụp phong cảnh một dãy nhà cổ bên sông Lạch Tray, Hải Phòng.

H22: “Chiều muộn” – Nguyễn Ngọc Quỳnh. “Tấm hình chụp tại Ba Sao, Hà Nam, gần thành phố Phủ Lý trong một buổi chiều muộn đầy cảm xúc. Nơi đây thắng cảnh hữu tình, buổi chiều đầy sương giăng làm khung cảnh trở nên mờ mờ ảo ảo. Trên mặt nước có một thân cây lâu năm đang bị ngập, nó đã bị chết khô vì nước lũ về, nhưng vẫn đứng sừng sững và người đánh cá với ngọn đèn leo lét lặng lẽ giăng lưới trên mặt nước. Tất cả đã tạo cho tôi một cảm xúc thật khó tả. Tôi đã bấm máy hoàn thành tác phẩm này”, tác giả kể.

H23: “Một góc biển Cổ Thạch” – Lê Xuân Thoại. Ảnh được chụp tại biển Cổ Thạch, Bình Thuận.

H24: “Thiên đình Hoàng Su Phì” – Nguyễn Minh Tân. “Tác phẩm được thực hiện khi cơn bão số 3 (Kalmaegi) vừa đi qua miền Bắc để lại bầu không khí lạnh, mây sương kéo dài bao trùm toàn khu vực miền núi. Một chuyến săn ảnh mùa vàng kéo dài hơn 10 ngày đã đưa tôi đến những vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc.

Cả buổi chiều rong ruổi trên những con đường đèo và tôi quyết định dừng chân nơi đây chờ cơ hội, hy vọng một tia nắng mong manh… Và rồi ông trời đã ban thưởng cho tôi một tia nắng hoàng hôn tuyệt đẹp. Mọi thứ đã làm nên cảnh thần tiên hùng vĩ y như thiên đình hạ giới khiến tôi đặt tên cho tác phẩm là Thiên đình Hoàng Su Phì“.

H25: “Non nước hữu tình” Đỗ Tuyết Trinh. Bức ảnh được thực hiện cuối tháng 5 năm nay, trong chuyến thăm Tam Cốc – Bích Động với quyết tâm chinh phục góc chụp đẹp nhất và khó chụp nhất. Tác giả đã phải đi thuyền, lội qua nhiều thửa ruộng, con mương để tới cửa hang, sau đó bám vách đá vừa trơn, vừa nhọn để leo lên điểm cao nhất của quả núi.

Tại đây, tác giả bắt gặp “vẻ đẹp vừa nên thơ vừa hùng vĩ của con sông Ngô Đồng, uốn lượn như dải lụa mềm giữa những thửa ruộng đang bắt đầu vào vụ gặt. Những dãy núi đá vôi nhấp nhô hai bên như bức thành đồng che chắn cho những thửa ruộng và dòng sông hiền hòa đón đưa những chiếc thuyền của du khách ghé thăm”. (theo VnExpress)

VÌ SAO NGƯỜI XƯA

KHI ĐƯỢC MỜI TRÀ

LẠI GÕ XUỐNG BÀN 3 CÁI ?

Trà không chỉ là thức uống thanh nhiệt mà còn chữa được bệnh. Đối với người xưa, thưởng trà đã trở thành nét văn hóa đặc sắc tự bao đời.

Văn hóa uống trà 

Trà thịnh hành ở Trung Quốc từ hàng nghìn năm trở về trước. Lịch sử ghi chép rằng, trước năm 280, ở miền Nam nước này có một nước nhỏ gọi là Ngô. Nhà vua thường ép các đại thần uống rượu say mỗi khi có yến tiệc. Có một vị đại thần tên là Vĩ Siêu không uống được nhiều rượu, vua bắt ông uống trà thay rượu.

Từ đó, các quan văn bắt đầu dùng thức uống này để tiếp khách thay vì rượu. Sự phát triển của trà được chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn 1: Từ thời nhà Ngô đến thời nhà Đường. Giai đoạn 2: Sau Đường đến thời Tống. Giai đoạn 3: Sau thời Tống đến thời Minh – Thanh.

Lịch sử trồng trà của người Trung Quốc có cách đây 2.000 năm. Những vùng trồng trà nổi tiếng nhất là tỉnh Giang Tô, An Huy, Hồ Nam, Chiết Giang, Hà Nam, Giang Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Thiểm Tây… Trung Hoa cũng có 3 loại trà là trà xuân, trà hạ, trà thu.

Người phương Đông nói chung đã uống trà trong hơn 4.000 năm lịch sử. Trà được xếp trong danh sách 7 thói quen không thể thiếu trong cuộc sống. “Khách đến kính trà” là phong tục lễ nghi hiếu khách trọng tình của người xưa, cho dù là ở nơi thành thị hay chốn thôn quê.

Đối với người dân ở nhiều nơi, pha trà, uống trà là thói quen, là niềm vui và là nghệ thuật. Pha trà cũng có nhiều cách pha. Đơn giản nhất là cho trà vào tách, đổ nước sôi vào ly trà thủy tinh, chờ vài giây là uống được. Cầu kỳ hơn là có các công đoạn rửa trà, tráng ly, lọc trà và rót trà. Trong nghệ thuật trà, mùi và hương vị của trà là điều quan trọng nhất.

Chén dùng để uống trà chỉ nên dùng loại chén nhỏ chứa được khoảng 2 ngụm nước. Ấm pha trà thường được làm bằng đất sét tráng men. Lượng trà dùng để pha không nên dùng nhiều quá mà cũng không nên dùng ít quá. Nhiệt độ của nước pha trà phải căn cứ vào từng loại, có loại cần nước thật nóng nhưng có loại chỉ cần nước đủ ấm, có loại phải để ngấm mới uống nhưng cũng có loại không cần để ngấm lâu.

Văn hóa trà hay còn gọi là trà đạo là nền văn hóa truyền thống có lịch sử lâu đời. Uống trà thưởng trà cũng là một quá trình tu dưỡng của bản thân, những người có thể ẩm trà, thưởng trà chắc chắn là những người có du dưỡng cả bên trong và bên ngoài.

Nghi lễ gõ bàn 

Ở mỗi vùng miền và địa phương khác nhau lại có sở thích uống trà, cách pha, cách thưởng thức khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều có điểm chung là rất coi trọng những lễ nghi trong trà đạo.

Trong lễ nghi của người xưa, khi được mời trà, khách sẽ đứng dậy, tay đỡ chén trà, cảm ơn rồi mới uống. Đặc biệt, khi được mời trà, khách phải khum bàn tay lại, gõ gõ 3 lần xuống bàn. Tại sao người xưa lại có thói quen này ? Kỳ thực đó chính là một loại lễ nghi trong trà đạo của người Trung Hoa. Đây là một nghi lễ thưởng trà mang những nét đặc sắc và thú vị đáng để chúng ta tìm hiểu.

1/- Khi các bậc trưởng bối rót trà : Khi bậc cha chú rót trà cho mình, là thế hệ sau (thế hệ hậu bối) họ cần dùng tay phải để đỡ lấy chén trà, lưng hơi khom xuống. Sau khi đỡ lấy chén trà thì dùng năm ngón tay gõ xuống bàn, thông thường gõ ba cái để thay việc hành lễ dập đầu cảm ơn người đối diện.

2/- Khi người bằng tuổi rót trà : Chỉ cần dùng ngón cái và ngón giữa gõ nhẹ xuống bàn ba cái bày tỏ sự tôn trọng với người đối diện.

3/- Khi các bậc vãn bối rót trà cho trưởng bối : Bậc trưởng bối có thể dùng một ngón tay bất kỳ gõ nhẹ vào miệng chén trà bày tỏ tôn trọng và cảm ơn. Hoặc nếu bậc trưởng bối gặp được vị vãn bối mà mình yêu mến có thế dùng ngón giữa gõ nhẹ ba cái vào chén trà của mình, bày tỏ sự yêu mến.

Càng ở những nơi trang trọng và càng là những người có địa vị cao quý, người xưa rất chú ý tới những nghi lễ này. Họ sẽ chủ động hành lễ và luôn làm đối phương cảm thấy mình được tôn trọng, từ đó sẽ làm cho quan hệ của hai người dần tốt đẹp hơn.

Những người thực hành lễ nghi trà đạo thường là những người có nội tâm tu dưỡng sâu sắc, và là người tôn trọng người khác. Những người như vậy mới được nhiều người yêu mến và mang lại nhiều vận khí may mắn cho mình.

Thưởng thức 3 chén trà, cảm ngộ 3 giai đoạn nhân sinh

Tại vùng đất Đại Lý, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nổi tiếng với phong tục “Tam đạo trà”, đây là cách thức mà người dân tộc Bạch dùng để tiếp đón khách, trong đó cũng ẩn chứa những cảm ngộ sâu sắc về nhân sinh.

Sự tinh tuý của “Tam đạo trà” này nằm trong câu : “Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”, nghĩa là thưởng thức lần đầu thấy đắng, lần thứ hai thấy ngọt, lần thứ ba khiến người ta phải ngẫm nghĩ về ý nghĩa cuộc đời.

Thưởng trà ngon, cần chú ý 3 dư vị về thể chất và tinh thần: Thứ nhất lưỡi phẩm vị ngọt thanh khiết; thứ hai răng má thấm vị ngọt thuần; thứ ba dưới cổ họng tràn đầy vị ngọt dễ chịu, khí mạch thông suốt, tinh thần thư thái, tâm tư khoáng đạt.

Phong tục “Tam đạo trà” của dân tộc Bạch tại Vân Nam giúp người ta thưởng thức được ba dư vị khác nhau của trà. Họ thường dùng 3 chén trà cầu chúc cho hậu bối được thuận lợi, bình an, mỹ mãn. Trong khi thưởng thức “đạo trà” thì cũng cảm ngộ được đạo lý nhân sinh đọng lại trong từng hương vị.

Tam đạo trà, trà kính 3 chén, mỗi chén có mùi vị và ý vị khác nhau, ngụ ý gửi gắm 3 cảnh giới nhân sinh: “Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”. Mỗi ly tựa như một tầng, mỗi ly thưởng thức triết lý nhân sinh ở cảnh giới khác nhau.

Chén thứ nhất là “trà đắng”, ý nói đời người bắt đầu từ gian khổ. Muốn lập nghiệp, thì cần chịu khổ trước, gây dựng sự nghiệp gian khổ để tạo dựng chỗ đứng, chữ “đắng” luôn ở vị trí đầu tiên.

Chén thứ hai là “trà ngọt”, ngụ ý là đời người “khổ tận cam lai”, cay đắng qua đi thì ngọt bùi sẽ đến, không trải qua một chút khổ cực thì làm sao có hương hoa mùa xuân thơm ngát. Có nếm trải đau khổ, thì về sau hưởng thụ được hương vị ngọt ngào sẽ càng tăng thêm mỹ hảo trong cuộc sống.

Chén thứ ba là “trà hồi vị”, cũng là trà suy ngẫm, tạo cảm giác suy ngẫm vô cùng, tượng trưng cho giai đoạn bình lặng của đời người. “Trà hồi vị” – ngũ vị (ngọt, chua, cay, đắng, mặn) trong một chén trà, giống như cuộc sống thực tế, hiểu được đời người khi đến ngã rẽ, đừng quên bài học kinh nghiệm từng trải qua.

“Tam đạo trà”, ba mùi vị khác nhau, khổ trước sướng sau, có nghĩa là cuộc đời đầy cảm xúc, mang ngụ ý sâu xa.

Đại tài tử Viên Mai đời nhà Thanh đối với việc thưởng thức trà luôn có cách thức độc đáo, ông nói: “Thưởng thức trà cần phải nghiền ngẫm, đồng thời từ từ cảm nhận”.

“Tam đạo trà”, từ thưởng thức trà đến cảm ngộ nhân sinh, “nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”, đậm đà ý vị làm xao động lòng người. Trong chén trà có cay đắng ngọt bùi, trăm vị trong “chén”, ý nói nhân sinh uyển chuyển.

Nhân sinh trong chén trà nhắc con người trong thế giới nên làm một người có thể chịu được cực khổ, có thể bao dung hòa hợp, phẩm hạnh thành thật chất phác.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

GIÀU KHÔNG CHỈ TẠI SỐ,

CÒN NGHÈO LÀ DO MÌNH

Giàu nghèo không phải chỉ là do số định, mà còn bởi thói quen quyết định ! Câu chuyện nhỏ dưới đây sẽ cho bạn thấy rằng giàu hay nghèo cũng là do chính mình.

Thói quen là cái máy ATM, và cũng có thể là chủ nợ muôn thủa của chúng ta

Trước tiên hãy nghe câu chuyện này : Trên một  hòn đảo nhỏ ở Đông Nam Á, những người giàu có kiếm được tiền, phát tài đều là người Hoa, người bản địa ở đây thì vẫn nghèo rớt mồng tơi.

Nguyên nhân là vì sao ? Là do người bản địa ở đây quá lười nhác, chỉ ham món lợi trước mắt mà không biết nhìn xa trông rộng !

Chẳng hạn, có một người dân bản địa trên đảo này làm thuê cho gia đình ông chủ người Hoa, đã làm được hơn 10 năm. Một ngày nọ anh ta nhìn thấy bà chủ cất tiền vào trong tủ quần áo, số tiền khoảng cỡ 2.000 USD. Việc này khiến người bản địa nọ động tâm, vì thế đêm đó anh ta đã mang dao tới giết chết gia đình nhà ông chủ, tổng cộng 5 người.

Cướp tiền xong, anh này đốt nhà rồi bỏ đi. Không lâu sau hung thủ bị bắt, và bị xử tử hình. 2.000 USD, kỳ thực không phải là một số tiền lớn, nhưng lúc đó người bản địa kia trong đầu chỉ có một suy nghĩ là chiếm được 2.000 USD, hoàn toàn không nghĩ tới mối ân tình hơn 10 năm giữa nhà chủ với mình, và hậu quả thế nào anh ta cũng không lường trước.

Câu chuyện này cho chúng ta thấy kiểu người sống không có ngày mai, không muốn thay đổi thói quen, rất đáng sợ !

Trong giới trẻ hiện nay, có rất nhiều người cũng giống như vậy. Có người từ đầu tháng đến cuối tháng chỉ ăn mì gói, có người người sống dựa dẫm vào cha mẹ, có người la cà khắp nơi hết ăn rồi lại uống, sống một cuộc sống nhu nhược tẻ nhạt. Về bản chất là giống với người bản địa trên đảo kia, khác biệt chỉ là ở chỗ, không vì 2.000 USD mà giết người.

2 kiểu người này đều không dựa vào thực lực của bản thân, cũng không có đủ động lực để bứt phá ra khỏi cái khung hiện tại của mình.

Những điều mà người đi làm thường xuyên phải đối mặt trong công việc

Lương thấp, bận rộn, thời gian làm việc dài, cho dù tăng ca đến kiệt sức, tiết kiệm từng khoản tiền nhỏ, nhưng mục tiêu tự do về tài chính chỉ là xa vời vợi.

Nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn, câu nói “hài lòng chính là hạnh phúc, nỗ lực sẽ được hồi đáp” cũng tương đương với nói dối, tương đương với bán mạng cho công việc và không dám nghĩ mình sẽ thoát ra khỏi cái lồng bận bịu khốn khó.

“Hài lòng là vui vẻ” chỉ là một câu nói dối, hài lòng không phải là vui vẻ, mà ngược lại “hài lòng” lạị khiến bạn rơi vào cảnh khốn khổ “một đời nghèo khó”.

Thực tế khi bạn ở trong trạng thái không hài lòng, mới có thể có quyết tâm lột bỏ được sự nghèo khó, mới có động lực theo đuổi tài phú, dám dũng cảm thay đổi hành động của mình.

Giàu hay nghèo cũng không phải hoàn toàn do số định, nó còn là do thói quen tạo thành, chỉ cần bạn dám thay đổi từ bây giờ, thì mỗi người chúng ta đều có cơ hội trở mình thoát khỏi sự nghèo khó, trở thành một người giàu có đích thực. (Lê Hiếu, dịch từ Cmoney)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

THẾ GIỚI QUANH TA (12)

ĐƯỜNG MÒN OREGON

Đã kể bạn nghe về Đường mòn nước mắt của người da đỏ, Những người rừng huyền thoại dẫn đường, về những vó câu của Pony Express và Đường hỏa xa thiên lý, những chàng Cao-Bồi, Về Miền Viễn Tây, về tiểu bang “vàng” California và Thành phố “bạc” Tombstone…

Thì phải kể về Đường mòn Oregon. Bởi đó là con đường lót mình cho nước Mỹ hoàn thành chủ thuyết Manifest Destiny – Vận mệnh hiển nhiên.

The Oregon Trail – Ðường mòn Oregon, kéo dài từ Illinois về Oregon phía Tây, xuyên chiều ngang nước Mỹ, bắt đầu từ những năm 1840. Thực sự thì chẳng phải là một con đường mòn, mà là những lối băng rừng, qua sông, lội suối, vượt ngàn; khi thì bát ngát thảo nguyên, khi thì thăm thẳm hoang mạc, khi thì cheo leo dốc đèo… Hành trình ấy kinh hoàng và cũng đẫm huyền thoại, để kể lại cho người đời sau.

Từ 1823, những người thợ bẫy thú rừng và buôn lông thú cùng những nhà thám hiểm đã sớm đi trên con đường này. Ðến năm 1830 thì những người can đảm ấy đã dẫn dắt các vị Cha Cố và quân đội đi tiền phương. Sau nhiều thất bại thì cũng có vài nhóm nhỏ đến được Ðồn Vancouver, Washington mạn Tây Bắc. Lời đồn theo gió bay xa, tin vui theo vó ngựa và những chuyến hải hành đường biển ròng rã tháng trời, cuối cùng cũng đến tai các người dân ở phía Ðông, nơi cư dân thuộc 13 tiểu bang đầu tiên của đất nước.

Thư của người đi trước nói rằng đất đai ở Oregon màu mỡ, thung lũng xanh, cỏ mượt, mưa thấm ruộng nương. Quốc hội lại ban hành đạo luật cho đất hoặc được mua với giá rất rẻ. Và hơn hết là tin đồn về những thỏi vàng rải rác ven sông suối ở California.

Và thế là ngày 16 tháng 5, 1842 nhóm di dân đầu tiên gồm 100 gia đình bắt đầu lên đường bỏ xứ về miền Tây lập nghiệp. Họ chọn người trưởng nhóm đi trước, người già cả và trẻ em ngồi xe bò wagon, đồ đạc cá nhân được mang theo, phần lớn là bột mì, cà phê, đường, muối, soong chảo… Có gia đình mang theo cả đàn piano, violin. Các thanh niên phụ nữ đa phần đi bộ theo bánh xe bò, đi trung bình 1 dặm một giờ, ngày đi 15 dặm.

Khi đến chiều tối họ quây xe bò thành vòng tròn để giữ bò ngựa, các tay đi săn bò rừng trở về đốt lửa trại nướng thịt nấu ăn. Các tay súng được chia phiên canh gác thú dữ, đề phòng người da đỏ tấn công. Các trẻ em và người già nghỉ ngơi cho ngày mai lê gót, trong khi vài cặp tình nhân hẹn hò nhảy múa bên tiếng đàn violon, nhiều người nên duyên vợ chồng cho cuộc sống ngày mai đầy hứa hẹn ở vùng đất mới.

Sáu tháng sau hơn một nửa số người đó đến được Oregon.Và một năm sau thì chuyến thứ 2 gồm một ngàn gia đình cùng gia súc lên đường. Tin tức về miền đất hứa ở Viễn Tây đã làm dậy lên làn sóng di dân. Hàng trăm ngàn sau đó nối bước, nhất là sau khi vàng được tìm thấy ở California năm 1849.

Thoạt đầu các đoàn di dân này bắt đầu từ Missouri và dự tính đến Oregon City, thủ phủ của Oregon thời ấy. Những chuyến xe bò ban đầu được dùng gọi là Conestoga, một cỗ xe bốn bánh bằng gỗ có hình dạng như chiếc thuyền, có khung niềng sắt, trét nhựa để có thể lội sông, có mui bằng vải bạt để che mưa, xếp lại khi nắng nóng, do 4 đến 12 con ngựa hay bò kéo.

Nhưng hành trình quá nhọc nhằn do địa hình đá sỏi, đèo núi và kéo dài nhiều tháng. Có khi họ phải chặt cây phá rừng mở đường, có khi phải làm bè cây qua suối, có khi phải dàn hàng ngang đi để khỏi cuốn bụi mù cho người đi sau. Hầu hết họ đi vào mùa xuân và đến đích vào tháng 8, trễ hơn thì mùa giông bão và mưa tuyết sẽ khó khăn muôn phần.

Mưa bão làm các con đường trở nên lầy lội ngập bánh xe, hầu hết các con bò ngựa đều kiệt sức, xe gãy trục, sút bánh, hơn 2/3 các xe bị hư hỏng, nên tất cả phải bỏ xe đi bộ, bỏ những đồ đạc bên đường và ngay cả những di dân xấu số không chịu đựng nổi hành trình. Người ta gọi con đường mòn Oregon là nghĩa trang dài nhất nước Mỹ.

Trong suốt hàng tháng trời rong ruổi, một số người mệt mỏi đã tách riêng ra hay đi theo những con đường tắt, những con đường quyết định may rủi và số phận của chuyến đi. Bệnh tật, tai nạn, kiệt sức, thời tiết bão tố bất ngờ, địa hình hiểm trở cùng người da đỏ tấn công. Và họ định cư rải rác quanh các lối rẽ, một trong những lối đi tắt và ngoài dự tính ban đầu lại làm nên sự khám phá bất ngờ của các vùng đất danh tiếng như Yellowstone và thành phố sau này như Salt Lake City, Utah.

Cũng có những lối đi tắt xuyên qua núi rừng hoang dã đã kết thúc một hành trình.Ðó là câu chuyện bi thương của đoàn Donner trong lộ trình đi đến California mùa đông 1846.

Tháng 4, 1846 đoàn Donner gồm 9 cỗ xe bò rời Springfield, Illinois. Dẫn đầu bởi James Reed một thương gia giàu có, mộng làm giàu từ vàng ở California.Người vợ thường xuyên bị nhức đầu và tin rằng khí hậu miền Tây sẽ chữa lành bệnh. Reed thì dựa vào cuốn sách “The Emigrants’ Guide to Oregon and California – Cẩm nang về miền đất hứa Oregon và California” của Landsford W. Hastings, trong đó nói rằng có một đường tắt làm rút ngắn 400 dặm với địa hình thuận lợi.

Thực sự thì lộ trình trong sách chỉ là giả định và chính tác giả cũng chưa từng đặt chân qua.Reed cùng một nhóm 32 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em trong đó có anh em Donner và nhiều người. Mẹ vợ của Reed 70 tuổi bị lao và phải chống gậy vì rất yếu.

Bà lại không muốn xa con gái. Reed lại tin rằng với cỗ xe ngựa 2 tầng hiện đại thời bấy giờ, có bếp lò xây trong xe, có ghế nệm với lò xo nhún, có giường ngủ, chiếc xe đắt tiền này có thể giúp họ đến California an lành. Con gái Reed 12 tuổi gọi cỗ xe là “Cung điện tiên phương”. Cùng 9 xe ngựa wagon khác mới toanh, đoàn dự trù chỉ mất 4 tháng. Gia đình của Donner thì có George là chủ nhà 62 tuổi, từng 5 lần di cư trước đây. Với kinh nghiệm lang bạt, hai anh em và vợ con tự tin cho chuyến đi cuối cùng trong đời của họ.

Đường mòn Oregon, kéo dài từ Illinois về Oregon phía Tây, xuyên chiều ngang nước Mỹ,

Ngẫu nhiên trong thời gian ấy, Lansford Hastings tác giả của cuốn sách chỉ đường cũng bắt đầu từ California, đi về hướng Ðông để xác minh thêm con đường tắt mà ông đã viết. Ðoàn của Donner sau 3 tuần đến  Independence, Missouri để mua thêm dụng cụ, thức ăn. Ngày sau họ lên đường thì gặp bão lớn. Cùng đi thì họ gặp và nhập thêm vài nhóm khác, số đoàn viên lên đến 87 người. Ngày 25 tháng 5, 1846 đoàn dừng trại trong nhiều ngày bởi nước lũ lớn bên sông Big Blue gần Kansas. Bà mẹ 70 tuổi chết vì không kham nổi, xác chôn dọc bờ sông. Họ ghép một bè qua sông và xuôi theo dòng Platte tháng sau đó. Họ đến đồn Laramie phía Ðông dãy núi Rocky 1 tuần sớm hơn dự kiến.

Ở đó họ được cảnh báo về mối hiểm nguy và trắc trở vì đường sỏi đá, không phù hợp cho xe bò, nhiều đèo dốc và vực cao… Dù vậy, Reed bỏ qua tai vì mong rút ngắn thời gian và khoảng cách bằng con đường tắt. Một phần vì hơn tuần sau, đoàn lại gặp được người đưa thư báo tin rằng chính Hasting, tác giả cuốn sách sẽ gặp và dẫn đoàn ở đồn Bridger ở chân dãy núi Rocky.

Ngày 19 tháng 7 đoàn đến sông Little Sandy, Wyoming. Từ đây chia ra 2 nhánh, một nhánh đi theo đường cũ về phía Bắc và nhánh kia đi đường tắt về phía Nam. Khi đến đồn thì Hasting đã dẫn đoàn khác đi trước sau khi để lại thư cảnh báo về sự nguy hiểm và khuyên không nên đi con đường tắt. Phần lớn đoàn đi theo đường cũ vòng quanh núi ngoại trừ nhóm Donner và chục người. Sau khi nghỉ ngơi 4 ngày, họ bắt đầu con đường tắt 7 tuần định mệnh vì tin rằng rút ngắn gần 400 dặm quả đáng để thử thách.

Khi đoàn qua được dãy núi Wasatch thì họ gặp một nhóm khác.Từ đó họ nhìn xuống hoang mạc lớn Salt Lake, Utah và đoán là sẽ mất hơn 2 tuần nữa để xuống núi.Vài gia đình nghèo đã cạn thực phẩm và nước uống. Bấy giờ là cuối tháng 8, 1846 nắng nóng như điên ở sa mạc Salt Lake, nhiều con bò, ngựa khát nước bứt dây thừng, hất lật xe, chạy như điên dại.

Tháng 10, 1846 thì cả đoàn đến chân dãy núi Sierra Nevada.Trong đoàn đã xảy ra vài vụ đâm chém xô xát vì bất đồng. Một nhóm người thổ dân Paiute đã tấn công giết bò, bắt đi và làm bị thương một số, gần 100 con bò của cả đoàn bị mất từ khi khởi hành.

Tháng 11 thì họ qua đèo vào mùa bão tuyết. Họ buộc phải dừng lại cắm lều trên dốc đèo ngập 3 mét tuyết ở dãy núi Sierra Nevada. Ðây chính là đoạn đường khó khăn nhất cho hành trình, dù chỉ chừng 100 dặm. Rặng núi đá này gồm hơn 500 đỉnh, cao hơn 3km. Với độ cao, nơi này đón những trận bão tuyết dày đặc hơn bất cứ nơi nào ở Bắc Mỹ. Sườn núi phía Ðông lại dựng đứng.

Sau khi đã trải qua ngàn dặm ở vùng Trung Mỹ thì các ngựa bò đã gần như kiệt lực. Ðến chân dãy núi này vào mùa Ðông thì bùn lầy và tuyết ngập gối cùng mưa bão, trong khi cỏ khô và thức ăn cạn kiệt. Các xe bò phải được chèn bánh để khỏi trượt dốc. Các thanh niên tình nguyện đi tìm thức ăn và cứu nạn đã không trở về. Ðói quá họ phải ăn cả lều bạt bằng da, hầm xương bò, xương ngựa để cầm cự và cuối cùng cả ăn thịt người vừa chết.

Chỉ có 45 người trong số 89 người sống sót sau khi các đoàn đi cứu nạn tìm thấy vào mùa xuân năm sau. Nơi ngọn đèo xấu số đó được đặt tên là Ðèo Donner, nằm trong dãy Sierra Nevada ở mạn Bắc California, nối liền San Francisco với Reno.

Suốt thời kỳ di dân về miền Viễn Tây từ năm 1840 đến 1860 bằng con đường Oregon Trail này có chừng 400 ngàn người. Trong đó chỉ có khoảng 80 ngàn đến Oregon, một số khác dừng lại định cư ở các tiểu bang sau này như Wyoming, Idaho; 70 ngàn người theo đạo Mormon đến Utah và phần lớn 250 ngàn đến California theo giấc mộng “vàng”. Trong con số di dân vĩ đại về miền đất hứa Exodus này có chừng 20 ngàn người chết vì bệnh tật, chỉ có 400 người chết bởi cung tên thổ dân. Xác họ chôn dọc theo con đường mòn.

Ðường mòn Oregon vẫn còn được dùng trong suốt những năm của cuộc nội chiến và thưa dần cho đến năm 1869, khi con đường hỏa xa thiên lý Ðông Tây hoàn tất.Ðến năm 1890 khi hệ thống xa lộ Mỹ bắt đầu xây dựng thì các đường trải nhựa đã dần dà thay thế các lối mòn.

Ngày nay xa lộ 26 chạy song song phần lớn đường mòn huyền thoại này. Xuyên suốt hơn 2,170 dặm ngày nay vẫn còn những dấu tích, tên họ của người di dân lưu lại trên những núi đá lớn gọi là Register Rocks ở Nebraska, Idaho và Independence Rock ở Wyoming, những hòn núi cao vót lạ kỳ được di dân nhắm hướng mà đi. Di dân cũng để lại dấu tích trong các hang núi, ven hồ, các nơi cắm trại dọc đường.

Những lối đi lún mòn trên đường suốt 20 năm di dân, ngày nay vẫn còn hằn vết bánh xe bò trong lòng đất xuyên qua 6 tiểu bang. Nơi qua bao năm tháng biển dâu, cỏ xanh chừng như bị giẫm không mọc lên nổi.Nơi những giai thoại, câu chuyện và hồn thiêng của những tiền nhân như còn phảng phất đâu đây. Một thuở di cư mở nước đầy bi tráng, hoàn thành “Vận mệnh hiển nhiên” bằng Ðường mòn Oregon.

KHÁM PHÁ ‘CỖ MÁY BÍ MẬT’

GIÚP BẢO VỆ KIM TỰ THÁP GIZA

Kỳ quan nổi tiếng bậc nhất thế giới

Kim tự tháp Giza vẫn mang trên mình những bí ẩn đến nay chưa được giải đáp, trong đó phải nhắc đến hệ thống bẫy rập vô cùng tinh xảo.

Khufu – vị Pharaoh vĩ đại cùng công trình hầm mộ vĩnh hằng với thời gian

Pharaoh Khufu (hay còn gọi là Cheops), một trong những vị Pharaoh vĩ đại nhất của thời cổ Vương quốc Ai Cập, trị vì Đế chế Ai Cập từ năm 2551 TCN tới năm 2528 TCN. Ông là người đã cho khởi công xây dựng Đại Kim tự tháp Giza – nơi an nghỉ vĩnh hằng của mình. Với chiều cao 147 mét, thi công trong vòng 20 năm với 10 vạn nô lệ trên công trường xây dựng, đây có thể xem là công trình vĩ đại bậc nhất thời cổ đại. Đây là kì quan duy nhất trong 7 kì quan thế giới cổ đại còn tồn tại nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay.

Kim tự tháp Giza không chỉ đơn thuần là lăng mộ kì vĩ của vị Pharaoh mà còn ẩn chứa bên trong muôn vàn những điều bí ẩn. Người ta nói rằng đặt hai cốc sữa giống hệt nhau, một cốc bên ngoài, một cốc bên trong kim tự tháp, khi cốc bên ngoài đã trở nên chua và nổi mốc thì cốc bên trong vẫn tươi ngon. Đặt một đồng xu bị gỉ sét vào lòng kim tự tháp, nó sẽ trở nên sáng bóng trở lại… và muôn vàn câu chuyện kì bí khác mà các nhà khoa học vẫn chưa lí giải được.

Khám phá bên trong lăng mộ vĩ đại của Khufu

Hiện tại, đã phát hiện ra ba phòng lớn trong Kim tự tháp Giza – phòng nền nằm trên nền móng đá, hỗ trợ toàn bộ cấu trúc lớn của toàn bộ kim tự tháp, hai phòng trên được gọi là phòng Pharaoh và phòng Hoàng hậu. Vươn ra từ tường phía Bắc và phía Nam của phòng Hoàng hậu là hai đường hầm rộng, cao 20cm, được chặn bởi cửa đá. Không ai biết đường hầm này có công dụng gì, nhưng có những giả thuyết cho rằng chúng dẫn tới một phòng bí mật khác.

Nhà khảo cổ Mark Lehner (Mỹ), người đã khám phá bí ẩn tại lăng mộ lớn này 30 năm ròng, cho biết người Ai Cập cổ sẵn sàng bỏ rất nhiều công sức để ngăn chặn những kẻ đào mộ đến cướp bóc và phá phách.

Một trong những hệ thống an ninh phức tạp nhất là “chiếc máy cổ đại”, giữ những viên đá tảng cực lớn trong bức tường của kim tự tháp cho tới khi thi hài vua Khufu được đặt xuống yên nghỉ.

Về cơ bản, phía bên trong của kim tự tháp, những tảng đá lớn chứa tại trần lăng mộ Pharaoh Khufu, được dẫn đường bởi các đường rãnh khắc bên trong tường. Khi Pharaoh Khufu chính thức được đặt xuống, những viên đá lớn này sẽ rơi xuống, chặn hết những đường hầm dẫn vào khu lăng mộ.

Dù vậy, các nhà khảo cổ học nghĩ rằng việc hiểu được hệ thống an ninh của kim tự tháp sẽ dẫn họ đến với những phòng bí mật được giấu kín hàng nghìn năm. Thực tế, một vài nhà nghiên cứu nghĩ rằng lăng mộ thực sự của Pharaoh Khufu vẫn còn nằm sâu bên trong kim tự tháp, tất cả những phòng ngoài đều chỉ là chiêu trò đánh lừa của các kiến trúc sư cổ xưa.

Cho đến lăng mộ của Pharaoh Tutankhamun

Pharaoh Tutankhamun là vị vua của Vương triều thứ 18 thời kì Tân Vương quốc Ai Cập cổ đại. Có lẽ, Tutankhamun là một trong những vị Pharaoh nổi tiếng nhất trong lịch sử, không phải vì các công lao ông đóng góp cho Đế chế Ai Cập Cổ đại (ông mất rất trẻ khi chưa có nhiều cống hiến cho Đế chế) mà bởi vì khu lăng mộ lẫy lừng của ông.

Ngoài đồ tùy táng cực kì quý giá, đặc biệt là cỗ quan tài bằng vàng ròng; lăng mộ của Pharaoh Tutankhamun còn nổi tiếng với các câu chuyện huyền bí về lời nguyền của vị Pharaoh trẻ tuổi gieo rắc lên đầu những ai dám đột nhập nơi an nghỉ của ông.

Các nhà khoa học nghiên cứu lăng mộ Tutankhamun đã tìm thấy những bằng chứng cho rằng đằng sau bức tường của chính phòng chứa thi hài vua Tut còn tồn tại một căn phòng bí mật khác. Họ vẫn đang tìm kiếm câu trả lời và đang dần dần vén được bức màn bí ẩn nơi lăng mộ vị vua xấu số.

Vương quốc Ai Cập Cổ đại luôn chứa đựng những điều bí ẩn làm đau đầu giới khoa học. Càng đi sâu vào nghiên cứu, những bí mật mới lại xuất hiện, khiến qua bao thế kỉ nay, sức hút của nền văn minh Ai Cập Cổ đại đến thế giới vẫn chưa bao giờ là suy giảm.

BÍ ẨN PHÍA SAU LOGO

CÁC HÃNG PHIM HOLLYWOOD

Có thể bạn rất quen thuộc với logo của các hãng phim Hollywood nổi tiếng nhưng liệu bạn đã hiểu hết ý nghĩa ẩn đằng sau chúng ? Hãy cùng điểm qua những logo đình đám dưới đây để cùng khám phá nhé!

1/- DreamWorks : DreamWorks ra đời vào năm 1994.Hãng phim được điều hành bởi đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg, cựu chủ tịch hãng phim Disney – Jeffrey Katzenberg và nhà sản xuất David Geffen.

Các bộ phim nổi tiếng của hãng gồm có Kung Fu Panda 1 2, Bí kíp luyện rồng, Sherk 1, 2 3, Quái vật ác chiến người ngoài hành tinh.

Chữ viết tắt SKG bên dưới logo của hãng chính là ba chữ cái đầu tên của 3 người sáng lập. Ban đầu, logo được thiết kế trên máy tính: một người ngồi trên cung trăng, buông cần câu xuống bầu trời, giữa một không gian tĩnh lặng, kì ảo. Thế nhưng giám chế hiệu ứng hình ảnh Dennis Muren cho rằng một biểu tượng được vẽ thủ công trông sẽ tuyệt hơn nên đã nhờ bạn mình là họa sĩ Robert Hunt thực hiện điều này. Và hình mẫu cậu bé này không ai khác chính là William, con trai của Robert Hunt.

2/- MGM : Năm 1924, chuyên gia thiết kế quảng cáo studio Howard Dietz đã thiết kế biểu tượng “Sư tử Leo” cho tập đoàn truyền thông Goldwyn. Tác phẩm của Dietz dựa trên biểu tượng sư tử của đội thể thao trường đại học Columbia nơi ông theo học.

Kể từ đó đến nay, đã có năm chú sư tử trở thành biểu tượng của hãng phim. Đầu tiên là Slats, mở đầu và đồng hành cùng thời kì phim câm của MGM từ năm 1924 đến năm 1928. Tiếp theo là Jackie vào năm 1932, Tanner và một chú sư tử thứ tư không rõ tên tuổi. Từ năm 1957 đến nay hãng MGM đã chọn Leo là chú sư tử thứ năm như bạn vẫn thường thấy.Ngoài ra, dòng chữ “Ars Gratia Artis” – “Nghệ thuật vị nghệ thuật” chính là phương châm của hãng.

Trước đây trên mạng xã hội từng lan truyền hình ảnh một chú sư tử bị trói gô trên bàn, đằng trước là phông nền của MGM, với chú thích rằng đây là cách MGM tạo ra logo huyền thoại của họ. Tuy nhiên điều này chỉ là một trò lừa ác ý mà thôi.

Hình ảnh chú sư tử bị trói này thực ra là sắp được các bác sĩ làm phẫu thuật (bằng chứng là túi nước biển được đặt ngay bên cạnh) và phông nền MGM chỉ là được Photoshop thêm vào mà thôi.

3/- Warner Bros : Warner Bros. (Anh em nhà Warner) được thành lập năm 1923 bởi 4 anh em người Ba Lan, gồm Harry, Albert, Sam và Jack Warner và là hãng phim đứng thứ ba về lịch sử hoạt động lâu đời nhất nước Mỹ. Những bộ phim kinh điển làm nên tên tuổi của hãng là Gone With The Wind (Cuốn theo chiều gió), Tom and Jerry, Flintstones, Harry Potter...

Biểu tượng của Warner Bros. là chiếc khiên vàng WB (chữ viết tắt của hãng) bay giữa bầu trời đầy mây mù. Logo này của Warner Bros. đã được cải tiến và chỉnh sửa tổng cộng 11 lần để có được hình ảnh hoàn thiện như hiện nay.

4/- Paramount Pictures : Paramount Pictures là một tập đoàn truyền thông Mỹ chuyên sản xuất, phát hành phim và các sản phẩm truyền thông. Tiền thân của hãng phim Paramount là hãng phim Famous Players, được sáng lập bởi Adolph Zukor cùng hai anh em nhà Frohman vào năm 1912. Những bộ phim nổi tiếng góp phần vinh danh tên tuổi của hãng gồm có Bố già, Giải cứu binh nhì Ryan, Người vận chuyển, Kỳ nghỉ của Ferris Bueller…

Biểu tượng ngọn núi tuyết hùng vĩ của Paramount xuất xứ ban đầu từ một bức vẽ phác thảo nguệch ngoạc của nhà sản xuất W. W. Hodkinson trong cuộc họp với Zukor, dựa trên hình ảnh ngọn núi Ben Lomond từ quê hương Utah của ông. Sau này, hình mẫu mới cho logo đổi thành ngọn núi Antesonraju của Peru.Đây là biểu tượng lâu đời nhất Hollywood.

5/- Walt Disney : Walt Disney là tập đoàn giải trí và truyền thông đa phương tiện lớn nhất thế giới được thành lập ngày 16/10/1923 bởi anh em Walt và Roy Disney từ một xưởng ảnh động nhỏ. Có thể kể đến những bộ phim nổi tiếng do hãng sản xuất như Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Pinocchio, Cô bé Lọ Lem, Alice lạc vào xứ sở thần tiên, Người đẹp ngủ trong rừng, 101 chú chó đốm...

Logo của Walt Disney có sự hiện diện của một tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ. Được biết đây là tòa lâu đài Neuschwanstein ở Đức do vua Ludwig II của Bayern xây dựng năm 1869.

6/- Columbia Pictures : Columbia là xưởng phim được thành lập năm 1919 bởi anh em Jack Cohn và Harry Cohn cùng với Joe Brandt và được chính thức đổi tên thành Columbia Pictures năm 2004.Columbia Pictures hiện là một phần của Columbia TriStar Motion Picture Group.Biểu tượng của hãng là thiếu nữ cầm đuốc,một hình tượng văn học tượng trưng cho nữ quyền ở Hoa Kỳ.

Thời đó, đã có hàng tá nữ diễn viên đã tự nhận mình chính là người mẫu cho biểu tượng đó, nhưng không thông tin nào được xác nhận chính thức.Đến nay, thông tin duy nhất được hãng xác nhận chính là người mẫu cho biểu tượng là một cô gái nội trợ kiêm họa sĩ tranh tường Jenny Joseph.Tuy nhiên, thay vì dùng nguyên mẫu gương mặt của cô, Micheal Deas đã vẽ lại một gương mặt hoàn mĩ hơn từ máy tính.

7/- 20th Century Fox : 20th Century Fox được thành lập năm 1935 bởi sự kết hợp của Twentieth Century và công ty rạp chiếu bóng Fox. Những bộ phim nổi tiếng nhất của 20th Century Fox gồm có Chiến tranh giữa các vì sao, Ở nhà một mình, Die Hard, Kỷ Băng Hà, X-men…

Logo của hãng nhìn khá đơn giản, chữ 20th Century Fox nằm trên 1 đỉnh tháp và có những ngọn đèn pha quay chậm xung quanh. Ban đầu, biểu tượng này được họa sĩ tranh phong cảnh nổi tiếng Emil Kosa Jr. thiết kế trên nền kiếng và một số ảnh động. Đến năm 1994, hãng phim đã sử dụng kĩ thuật ảnh ba chiều CGI để “tân trang” lại logo cho hoành tráng hơn. (Lê Trúc theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

THẾ GIỚI QUANH TA (11)

PÉTRUS KÝ

NGÔI TRƯỜNG CỦA

THẦY TRÒ SÀI GÒN

Năm 1925, kiến trúc sư người Pháp là Hebrard de Villeneuve được chỉ định lập bản đồ thiết kế Trường Collège de Cochinchine tại Chợ Quán, Sài Gòn.  Ngôi trường ban đầu là một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat (hiện nay là Lê Quý Đôn) dành cho học sinh người Việt Nam, do ban giám đốc Trường Chasseloup Laubat quản lý.

Khi trường mới xây dựng xong, ngày 11-8-1928, Trường cao đẳng tiểu học Pháp mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký được thành lập cho năm học đầu tiên 1928-1929, với hơn 200 học sinh.  Tháng 12-1929, sau khi khánh thành tượng đồng của nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký ở công viên trước dinh Norodom (nay là dinh Thống Nhất), trường chính thức mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký. Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi tắt là Pétrus Ký và tên này được sử dụng trong gần 50 năm.

Bí ẩn vết thủng trên má trái tượng Petrus Ký

Ngày 6-12-1937, nhân lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của nhà văn hóa, nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký, trường đã đặt tượng bán thân bằng đồng của ông Pétrus Trương Vĩnh Ký tại giữa sân trường. Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc Sylve Raffegeard (Pháp) thực hiện từ năm 1889, khi nhà bác học Trương Vĩnh Ký còn tại thế. Hiện tượng này được trưng bày tại phòng truyền thống của Trường THPT Lê Hồng Phong. Tên nhà điêu khắc và năm thực hiện vẫn còn ghi rõ ở vai trái của tượng.

Khi thăm nơi đây, chúng tôi thấy rõ bên má trái của tượng, gần hàm dưới có một vết tròn lõm vào. Cô hiệu phó Trương Thị Lệ Hà của Trường Lê Hồng Phong cho biết đó là vết đạn có thể đã có từ trước 1975.

Có ý kiến cho đó là vết đạn trong cuộc chiến giữa lực lượng Bình Xuyên và chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1955 khi lực lương Bình xuyên đóng ở Trường Pétrus Ký…

Ngôi trường hầu như nguyên vẹn với thời gian

Những năm trước 1945, Chợ Lớn và Sài Gòn còn là hai thành phố riêng biệt, khoảng giữa là vùng ngoại ô ít người. Khu Nancy, góc Nguyễn Văn Cừ – Trần Hưng Đạo ngày nay, khi ấy còn là đầm lau sậy.

Khu Nguyễn Trãi bán hoa còn là đồn lính Cây Mai. Một trong những bức ảnh xưa nhất chụp ngôi trường này là không ảnh chụp năm 1929, cho thấy ngôi trường khang trang nằm nổi bật trên một vùng đồng trống mênh mông rộng lớn, nằm ở giữa hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn.

Bốn con đường bao quanh khi ấy, nay là đường Nguyễn Văn Cừ, An Dương Vương, Trần Bình Trọng, Trần Phú. Phía sau trường và bên hông là sân vận động Lam Sơn, khu nội trú cho học sinh và khu nhà tập thể cho các giáo viên, có nhiều dãy nhà. Hai góc của công trình là hai tháp nước.

Thập niên 1950, một số cơ sở và đất đai của Trường Pétrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để dùng cho những cơ quan giáo dục khác như Trường Quốc gia Sư phạm, Trường trung tiểu học Trung Thu, Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục…

Ba dãy lầu lớn của Trường Pétrus Ký được dùng cho ĐH Khoa học và ĐH Sư phạm. Nhà tổng giám thị Pétrus Ký được dùng làm Trung tâm Thính thị Anh ngữ, một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số viên chức Bộ Giáo dục SG.

Tuy bị cắt xén nhiều nhưng Trường Pétrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam.

Trường Pétrus Ký là một tổng hòa công kiến trúc đẹp, gói gọn trong khuôn viên xanh, rộng rãi lên tới 8ha. Với những hàng cây cổ thụ, tháp đồng hồ hay những dãy hành lang lát gạch ca rô ẩn nấp phía dưới những mái vòm cong độc đáo được xem là những điểm nhấn đặc biệt của ngôi trường.

Có thể nói đây là tiêu biểu cho phong cách kiến trúc phương Tây tổng hòa với nền giao thoa văn hóa bản địa Á Đông, tạo ra lối kiến trúc Đông Dương, đặc trưng cho một thời kỳ lịch sử Việt Nam. Năm 2015, Trường Lê Hồng Phong được công nhận là di sản kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố

Mặt bằng Trường Pétrus Trương Vĩnh Ký gồm ba dãy nhà dài. Khu A của trường gồm: cổng ngoài (giáp đường Nguyễn Văn Cừ ngày nay), cổng chính vào sân trường, trên có tháp chuông đồng hồ, ba dãy phòng học hình chữ U một trệt, một lầu với hành lang rộng, cửa vòm, cột vuông, tường gạch, mái ngói đỏ, đầu hồi trang trí hoa văn… nay vẫn còn được giữ gìn gần như nguyên vẹn.

Bốn dãy này bao quanh thành kiểu hình vuông, bao sân lớn ở chính giữa có nhiều cây xanh tạo bóng mát cho sân trường.

 Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu học tập, trường đã xây dựng thêm khu B, khu C và khu luyện tập thể thao. Các công trình mới xây dựng vẫn đảm bảo sự hài hòa với các công trình đã có.

Ngôi trường lớn của nhiều thế hệ thầy trò Sài Gòn

Muốn vào học Trường Pétrus Ký, học sinh ưu tú, xuất sắc của Sài Gòn và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy nên học sinh Pétrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi.

Trở thành học sinh của Pétrus Ký đã là ước mơ của biết bao thế hệ học sinh ở Sài Gòn và miền Nam Việt Nam. Phần đông giáo viên Pétrus Ký là thầy cô được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo viên Pétrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục Sài Gòn sau khi dạy ở trường.

Sau khi tái chiếm Sài Gòn ngày 23-9-1945, người Pháp cho mở cửa lại các trường học, học sinh Pétrus Ký lúc bấy giờ dời về học tại Trường tiểu học Tân Định rồi tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse, đến năm 1947 mới dời về học tại trường cũ và cũng từ năm học này hiệu trưởng của Trường Pétrus Ký là người Việt Nam.

Ngày 9-1-1950, các trường đồng loạt hẹn nhau đi biểu tình và cử phái đoàn đại điện trực tiếp yêu cầu giám đốc Nha học chánh và Thủ hiến giải quyết. Pháp đưa lính đến giải tán và đàn áp cuộc biểu tình, nổ súng vào đám đông học sinh làm bị thương nhiều người và giết chết anh Trần Văn Ơn – học sinh lớp Seconde của Trường Pétrus Ký. Ngày 12-1-1950, gần cả triệu người ở Sài Gòn và nhiều tỉnh về dự đám tang người học trò Trần Văn Ơn.

Mãi đến mùa hè năm 1960, chương trình học bằng tiếng Pháp chấm dứt, Lycée Pétrus Ký trở thành Trường trung học đệ nhị cấp Pétrus Trương Vĩnh Ký và chương trình dạy tiếng Việt trong nhà trường mới bắt đầu, đúng như nguyện vọng của đông đảo thế hệ học sinh của nhà trường từng đấu tranh từ năm 1949.

Câu đối trước cổng trường nhiều người vẫn nhớ

Vào năm 1950, thầy Ưng Thiều, giáo sư môn Hán văn của trường viết hai câu đối, được ông hiệu trưởng Phạm Văn Còn cho khắc trước cổng trường để nêu rõ quản điểm giáo dục cho học sinh của trường về đạo đức và trí dục như sau: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt (trái); Tây Âu khoa học yếu minh tâm (phải)” (tạm dịch nghĩa: (Tam) cương (ngũ) thường Khổng Mạnh nên khắc cốt – Khoa học Tây Âu ghi tạc trong lòng).

CHUYỆN HUẾ :

TRƯỜNG ANH, TRƯỜNG EM

QUỐC HỌC & ĐỒNG KHÁNH

– Phanxipăng

Ở hữu ngạn dòng Hương thơ mộng, có 2 trường trung học nổi tiếng: trường nam sinh Quốc Học và trường nữ sinh Đồng Khánh. Hai ngôi trường kề cận nhau, gắn bó với nhau, tạo nên nét dễ thương “rất Huế”

QUỐC HỌC – KHẢI ĐỊNH – NGÔ ĐÌNH DIỆM

Theo chỉ dụ ngày 17 tháng 9 năm Bính Thân (23-10-1896) của vua Thành Thái, và nghị định ngày 18-11-1896 của toàn quyền Armand Rousseau, Pháp tự Quốc Học trường đã xuất hiện “tại Thuỷ sư tả doanh công thổ”. Quốc sử quán triều Nguyễn từng ghi rõ trong Đại Nam nhất thống chí như vậy. Đó là pho sách đầu tiên đề cập đến trường Quốc Học. Di tích bình phong Long Mã được dựng vào năm thành lập trường, ngay mặt tiền đường Jules Ferry, nay là đường Lê Lợi, hiện vẫn còn nguyên trạng.

Ban sơ, “trường trung học quốc gia, cái trường Pháp – Việt chính của toàn cõi An Nam” chỉ gồm cổng gỗ có gác treo chuông đồng và mấy dãy nhà tranh tre tuềnh toàng : một tòa “giám đốc đường” 3 gian 2 chái; ba dãy nhà, mỗi dãy gồm 3 gian để các nhà giáo cùng học sinh nội trú; hai dãy lớp học, dãy trước 30 gian, dãy sau 16 gian. Cổng trường làm kiểu gác gỗ, có treo chuông đồng. Hình ảnh Quốc Học thuở ấy được ghi lại khá chi tiết bởi thầy giáo Le Bris, đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) năm 1916.

Từ tháng 5-1915, dưới sự chỉ huy của thầu khoán Le Roy, trường Quốc Học được tái thiết bằng gạch ngói khang trang trên mặt bằng rộng hơn 5ha. Riêng cổng chính xây bằng xi măng theo lối tam quan dân tộc cổ truyền đang hiện hữu, hình ảnh thường được dùng làm biểu tượng cho trường Quốc Học, được thiết kế và thi công từ bao giờ ? Không ít kẻ nhầm tưởng cổng đó xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Trong một chuyến về Huế sưu tập tư liệu để thực hiện hợp tuyển thơ-nhạc-hoạ-ảnh nghệ thuật Quốc Học trường tôi (NXB Thuận Hoá, Huế, 1996), Phanxipăng gặp nhà giáo Nguyễn Đình Hàm. Lúc ấy, đã 85 tuổi, thầy Hàm vẫn tường thuật khúc triết:

– Năm 1933, cổng trường được xây mới theo lối kiến trúc Nhật Bản, hai cột có khắc đôi câu đối chữ Hán của Nguyễn Đức Đôn :

Vạn lý xa thư lai hỗn nhất

Bách niên sơn thuỷ kiến cao thanh

(Vạn dặm xa thư về một mối / Trăm năm sông núi thấy cao xanh).

 Đến thời tôi làm hiệu trưởng (1956 – 1958), xét thấy cần chỉnh lý lại cổng chính cho phù hợp với vẻ uy nghi và rộng lớn của toàn bộ công trình, chính tôi đã vẽ kiểu và thuê thợ xây lại cổng như hiện nay. Cổng có 2 tầng mái, lợp ngói thanh lưu ly và hoàng lưu ly, là nghệ thuật kiến trúc Huế rất đặc trưng. Trước cổng, tôi cho gắn biển xi măng cốt thép có đắp nổi 3 chữ quốc ngữ Trường Quốc Học, lại chua thêm 2 chữ Hán 國學 hai bên. Năm 1979, có người cho rằng chữ nho là “đồ ngoại” nên đục bỏ.

Đất nước “trải qua nhiều cuộc bể dâu” thì trường Quốc Học cũng bao phen thay tên, đổi hiệu. Từ năm 1932, trường được gọi Lycée Khải Định. Đến năm 1955 – Collège Quốc Học. Sang năm 1957 – Collège Ngô Đình Diệm. Và từ năm 1958 đến nay, lại trở về “tên cúng cơm” : Quốc Học.

Cũng cần thêm rằng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khu vực trường bị giặc chiếm đóng và biến thành trại lính khiến một bộ phận thầy trò Quốc Học phải tản cư ra Hà Tĩnh, lập trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng từ năm 1946 đến năm 1949. Mãi đến ngày 29-4-1955, toàn bộ thầy trò Quốc Học mới trở về dạy và học tại ngôi trường thân yêu của mình bên bờ Hương.

Khi Quốc Học mới thành lập, Ngô Đình Khả – một trung thần triều Nguyễn, nguyên phán sứ Toà Khâm ở Huế – được vua Thành Thái thưởng hàm Thái Thường Tự Khanh và bổ nhiệm làm chưởng giáo (tức hiệu trưởng) từ năm 1896 đến năm 1902.

Giai đoạn 1902 – 1945, việc điều hành trường đều do người Pháp đảm nhiệm, mà đầu tiên là hiệu trưởng Nordeman (tên Việt hoá là Ngô Đê Mân) và cuối cùng là hiệu trưởng Vincenti. Vị hiệu trưởng Việt Nam kế nhiệm tiếp đó là giáo sư Phạm Đình Ái – người đã chỉ đạo việc dạy và học bằng tiếng mẹ đẻ lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước ta (gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn được áp dụng từ năm 1945).

Các nhà giáo tiếp nối nhau làm hiệu trưởng trường Quốc Học từ ấy đến nay: Hoàng Ngọc Cang, Phạm Văn Nhu, Nguyễn Hữu Thứ, Huỳnh Hoà, Nguyễn Văn Hai, Nguyễn Đình Hàm, Đinh Quy, Dương Thiệu Tống, Nguyễn Ký, Nguyễn Văn Lâu, Phan Khắc Tuân, Nguyễn Văn Bổn, Nguyễn Xuân Tự, Đặng Xuân Trừng, Nguyễn Chơn Đức, Nguyễn Phước Bửu Tuấn.

Đầu tháng 9-1996, trong lễ hội kỷ niệm 100 năm thành lập trường Quốc Học, hiệu trưởng lúc ấy là nhà giáo ưu tú Đặng Xuân Trừng đã phát biểu :

– Qua một thế kỷ thành lập và phát triển, trường Quốc Học thân yêu rất xứng đáng là “chiếc nôi văn hoá của dân tộc”. Dù trải bao chế độ chính trị khác nhau, mục tiêu và phương pháp đào tạo từng thời kỳ cũng khác nhau, nhưng học sinh Quốc Học luôn tìm cho mình con đường đi đúng: học để thành người, học để giúp đời. Trong nhiều hoạt động ở trong nước và cả quốc tế, nhiều thầy cô giáo và học sinh Quốc Học đã trở nên vô cùng kiệt xuất, vô cùng vinh dự.

Quả vậy, chỉ cần điểm qua một số tên tuổi từng xuất thân từ mái trường này cũng đủ thấy kỳ tích giáo dục của Quốc Học. Về chính trị và quân sự có : Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Hà Huy Tập, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Mai Chí Thọ, Cao Văn Khánh, v.v. Ghi thêm: cả hoàng thân Xuphanuvông và quyền chủ tịch nước CHDCND Lào là Phumi Vôngchichit cũng từng học Quốc Học.

Về khoa học tự nhiên – công nghệ và khoa học xã hội – nhân văn có: Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Khánh Toàn, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Tạ Quang Bửu, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Bửu Hội, Nguyễn Thiệu Lâu, Võ Quang Yến, Cao Huy Thuần, Đặng Văn Ngữ, Lê Viết Khoa, Nguyễn Đình Tứ, Đinh Ngọc Lâm, Thanh Nghị, Thái Văn Trừng, Lâm Quang Huyên, Huỳnh Hữu Tuệ, Hoàng Tuệ, Hoàng Tuỵ, Hoàng Thị Châu, v.v. Về văn học nghệ thuật có: Lê Văn Miến, Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, Võ Liêm Sơn, Tôn Thất Đào, Nguyễn Hữu Ba, Điềm Phùng Thị, Khương Hữu Dụng, Nam Trân, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Xuân Tâm, Thúc Tề, Tố Hữu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Xuân Thâm, TchyA, Nguyễn Văn Thương, Phan Văn Dật, Tế Hanh, Trần Thanh Địch, Lê Cao Phan, Trần Hoàn, Văn Giảng, Nhị Hà, Lê Mộng Nguyên, Lê Mộng Hải, Hoàng Nguyên, Hoàng Thi Thơ, Hoàng Trọng Miên, Phạm Mạnh Cương, Đào Xuân Quý, Đặng Nhật Minh, Ngô Kha, Trần Quang Long, Châu Kỳ, v.v.

Về giáo dục có: Hồ Đắc Hàm, Sảng Đình Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Ưng Quả, Nguỵ Như Kontum, Trần Đình Gián, Đinh Xuân Lân, Hoàng Thiếu Sơn, Vân Bình Tôn Thất Lương, Nguyễn Dương Đôn, Cao Văn Luận, Hà Như Chi, Đinh Xuân Lâm, Lê Trí Viễn, Hoàng Thiếu Sơn, Lê Hải Châu, v.v.

Hiện nay, thầy trò Quốc Học bao thế hệ vẫn luôn tự hào về ngôi học đường uy nghiêm có bề dày lịch sử – văn hóa đáng kể. Tình nghĩa ấy được thể hiện qua hợp xướng Quốc Học trường tôi do Trần Ngọc Tĩnh sáng tác năm 1978 mà học sinh của trường vẫn thường trình diễn:

Trường hỡi ! Ta mến yêu

Trường ơi ! Ta tự hào

Dù cách xa muôn trùng

Vẫn hoài thương nhớ

Trường ơi !

ĐỒNG KHÁNH – TRƯNG TRẮC – HAI BÀ TRƯNG

21 năm sau khi trường Quốc Học khai giảng niên khoá đầu tiên, trường Đồng Khánh mới được khởi lập ngay bên cạnh. Chiều 27 tháng 5 năm Đinh Tị (15-7-1917), đích thân vua Khải Định cùng toàn quyền Albert Sarraut đặt viên đá đầu tiên để xây dựng trường nữ sinh Đồng Khánh. Ngay trong buổi lễ, nhà vua đã cho đặt xuống móng một số kỷ vật trong hộp kim loại gồm 10 đồng bạc “Khải Định thông bảo” và đôi biên bản buổi lễ ghi bằng chữ quốc ngữ cùng chữ Pháp. Từ đó, dưới sự chỉ huy cũng của thầu khoán Le Roy, ngôi trường xinh xắn dần hình thành trong thời hạn chưa đầy 2 năm.

Với Collège Đồng Khánh, những vị hiệu trưởng đầu tiên là phụ nữ Pháp: Yvonne Lebris, Dubois, Boudron Damasy, Crayol, Mauriège, Gabrielle Martin. Từ năm 1945 đến nay, điều hành trường này là các hiệu trưởng người Việt: Võ Thị Thể, Hồ Thị Thanh, Đào Thị Xuân Yến (quả phụ Nguyễn Đình Chi), Nguyễn Thị Quýt, Nguyễn Thị Tiết, Đặng Tống Tịnh Nhơn, Tôn Nữ Thanh Cầm, Thân Thị Giáng Châu, Lê Thị Tường Loan, Phan Thị Bích Đào, Lê Thị Vui, Ngô Thị Chính, Phan Thị Thái Hà, Nguyễn Thị Ngọc Bích, Hà Thúc Định, Lê Huy Linh, Ngô Thị Thủy, Nguyễn Phước Bửu Tuấn, Nguyễn Chơn Đức, Nguyễn Thị Hoài Thu, Ngô Đức Thức.

Suốt thời gian dài, trường Đồng Khánh chỉ dạy bậc tiểu học và trung học đệ nhất cấp (tương đương bậc trung học cơ sở hiện nay), do đó các nữ sinh đủ điều kiện học trung học đệ nhị cấp (tương đương bậc trung học phổ thông hiện nay) phải qua trường Quốc Học. Niên khóa 1963 – 1964, trường Đồng Khánh bắt đầu mở lớp đệ nhất (tương đương lớp 12 sau này). Đặc biệt, trong chương trình giảng dạy và học tập, cùng các môn mà ngành giáo dục quy định, trường Đồng Khánh còn chú trọng nữ công gia chánh là môn chế biến thức ăn, may vá, thêu thùa, cắm hoa, trang hoàng nhà cửa, v.v., nhằm giúp nữ sinh vẹn toàn công-dung-ngôn-hạnh.

Niên khóa 1975 – 1976, trường trung học Đồng Khánh đổi tên thành trường cấp III Trưng Trắc, đến niên khóa 1981 – 1982 lại chuyển thành trường THPT Hai Bà Trưng.

Tính đến nay, ngôi trường này đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh tài năng, có những đóng góp tích cực đáng kể. Đó là Trần Thị Như Mân từng đại diện thầy trò trường Đồng Khánh, thảo điện thư gửi toàn quyền Alexandre Varenne đòi ân xá nhà ái quốc Phan Bội Châu; về sau, Trần Thị Như Mân trở thành hiền thê của học giả Đào Duy Anh (1904 – 1988). Đó là Lê Thị Kinh, bí danh Phan Thị Minh, cháu ngoại của chí sĩ Phan Châu Trinh, con của đốc học Lê Ấm và Phan Thị Châu Liên, chị ruột của Lê Khâm tức nhà văn Phan Tứ, chị em bạn dì của chính khách Nguyễn Thị Bình; Lê Thị Kinh từng giảng dạy trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, hiệu phó trường Đại học Công nghiệp nhẹ Hà Nội, tham gia đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại Paris, công tác trong Bộ Ngoại giao, làm đại sứ Việt Nam tại Ý kiêm nhiệm một số nước vùng Địa Trung Hải.

Đó là nha sĩ Phùng Thị Cúc tức điêu khắc gia Điềm Phùng Thị. Đó là nữ tiến sĩ triết học Thái Kim Lan. Đó là các nhà thơ, nhà văn Tôn Nữ Thu Hồng, Trần Thị Thu Vân tức Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Nguyệt Tuệ tức Nguyệt Tú, Nguyễn Khoa Bội Lan, Thân Thị Ngọc Quế, Nguyễn Thị Cẩm Thạnh, Hoàng Thị Thương tức Quế Hương, Nguyễn Thị Thiếu Anh, Hồ Đắc Thiếu Anh, Tôn Nữ Thu Thủy, Trần Thùy Mai. Đó là các ca nhạc sĩ Trần Thị Lục Hà tức Hà Thanh, Trương Thị Nhân tức Tân Nhân, Đoàn Lan Hương. Vân vân và vân vân.

Giai đoạn ngôi học đường này mới thành lập, nữ sinh trường Đồng Khánh mặc đồng phục áo dài màu tím. Điều đó giúp màu tím Huế tạo ấn tượng quá dễ thương, đã được thơ-văn-nhạc-vẽ-ảnh ghi nhận. Nguyễn Bính sáng tác bài thơ Màu tím Huế. Phạm Xuân Luận cũng soạn bài hát trùng nhan đề Màu tím Huế. Hoàng Nguyên thì soạn ca khúc Tà áo tím.

Sau đó, nữ sinh Đồng Khánh mặc đồng phục áo dài xanh nước biển. Từ năm 1955, đồng phục áo dài trắng. Màu trắng khơi gợi bao cảm hứng tuyệt vời cho nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Tranh lụa Trắng của Tôn Thất Văn diễn tả 5 nữ sinh trường Đồng Khánh tản bộ trên đường rợp bóng cây trong Thành Nội – Huế. Bài thơ Trắng của Phanxipăng gồm 3 khổ, đây là khổ đầu :

Áo em trắng quá ôi trắng quá !

Làm sao anh đủ sức nhìn ra ?

Dẫu vận cả nghìn thành công lực

Hàn Mạc Tử kia cũng quáng gà !

TRƯỜNG ANH BÊN CẠNH TRƯỜNG EM

Quốc Học và Đồng Khánh sóng đôi bên nhau trông ra dòng sông từng được thi hào Nguyễn Du ghi nhận:

Hương giang nhất phiến nguyệt

Kim cổ hứa đa sầu.

Mặt tiền đều là rue Jules-Ferry, nay gọi đường Lê Lợi. Mặt hậu đều là rue Rheinard, nay gọi đường Ngô Quyền.

Ngăn giữa hai trường là avenue Monseigneur d’Adran / đại lộ giám mục Bá Đa Lộc, sau đổi thành đường Phủ Cam, từ năm 1960 đến nay gọi đường Nguyễn Trường Tộ. Đó là nơi gặp gỡ các cô cậu học trò giờ tan trường, bãi lớp. Nam thanh nữ tú bao thế hệ gọi con đường này bằng lắm cái tên ngồ ngộ: ngõ Tỏ Tình, lối Chờ Đợi, đường Đưa Đón, đại lộ Tương Tư, phố Cây Si, đường Long Não, v.v.

Cây Si chắc chắn nghĩa bóng. Còn Long Não? Nghĩa bóng ắt đừng nên. Nghĩa đen thì quả thật, lề đường Lê Lợi có trồng nhiều cây long não được thế giới định danh khoa học Cinnamomum camphora (L.) Sieb. thuộc họ Lauraceae, chứ vệ đường Nguyễn Trường Tộ bấy lâu nay râm mát nhờ tán bao cây phượng vỹ trổ hoa màu đỏ Delonix regia (Bojer ex Hook.) Raf. thuộc họ Fabaceae, gần đây có điểm xuyết mấy cây phượng vỹ trổ hoa tím Jacaranda mimosifolia thuộc họ Bignoniaceae.

Tầng lầu Đồng Khánh bên nớ. Dãy lớp Quốc Học bên ni. Giờ ra chơi, hai phái tóc dài tóc ngắn đứng bên cửa sổ vẫy tay mà í ới:

– Trường em ơi hỡi trường em,

Chớ nhai me ổi lem thèm trường anh.

– Trường anh ơi hỡi trường anh,

Thương nhau dễ sợ nhưng đành ngó lơ.

Nhiều mối tình trường anh, trường em đã đến. Rồi đi. Như những dòng sông nhỏ (Trịnh Công Sơn). Cũng không hiếm những mối tình trường anh, trường em đã thành chồng nên vợ, hạnh phúc vô ngần.

Không chỉ là hai cơ sở giáo dục cổ kính, uy nghi, bề thế, giỏi giang, xinh đẹp, uy tín, Quốc Học và Đồng Khánh còn là hai công trình tiêu biểu trong hệ thống di tích tạo nên vùng văn hóa Huế đặc trưng. Nhắc đến Huế tất nhớ Quốc Học, càng không thể quên Đồng Khánh, và ngược lại.

Bộ sách Quốc Học Huế xưa và nay gồm 2 tập do Trần Phương Trà chủ biên (NXB Văn Hóa Thông Tin, 2013) cùng đặc san Kỷ niệm 100 năm thành lập trường Đồng Khánh – Hai Bà Trưng (1917 – 2017) vừa ấn hành có nhiều bài đề cập trường anh, trường em long lanh muôn vàn kỷ niệm, ở đây chỉ ghi nhan đề những tác phẩm nhắc hai trường với tên người viết trong ngoặc đơn :

Les deux collèges voisins / Hai ngôi trường bên nhau (Phạm Quất Xá)

– Một thời để nhớ rất lâu [Về Quốc Học – Đồng Khánh] (Tôn Thất Lan)

– 100 năm Quốc Học – Đồng Khánh và sứ mệnh canh tân đất nước từ giáo dục (Trần Đình Hằng và Thanh Biên)

– Quốc Học – Đồng Khánh dễ ghét và dễ thương (Dương Thị Điểu và Thân Thị Vân Hà)

– Cặp đôi Quốc Học – Đồng Khánh (Nguyễn Xuân Hoa)

Xuôi ngược xa gần, nhà thơ Huy Cận cũng thường xuyên hồi tưởng về Huế với trường anh, trường em gắn bó:

Hai trường tình nghĩa láng giềng,

Nhớ nhưng nào có nhớ riêng trường nào.

Dặm trường biển thẳm, trời cao,

Nhớ về Huế những năm nào tuổi xuân.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

THẾ GIỚI QUANH TA (10)

KHUÔN MẶT SÁNG GIÁ

TRONG KỲ BẦU CỬ

TỔNG THỐNG PHÁP 7/5/2017

Mối tình với người vợ hơn 24 tuổi của ứng viên tổng thống Pháp

Theo Bộ Nội vụ Pháp, kết quả kiểm 46 triệu phiếu cho thấy ông Emmanuel Macron dẫn đầu với 23,7% số phiếu giành được, trong khi bà Le Pen về thứ hai với 21,9% số phiếu ủng hộ.

Ông Emmanuel Macron, 39 tuổi, lãnh đạo đảng Tiến lên (En Marche), và bà Marine Le Pen, 48 tuổi, thủ lĩnh đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia, vừa giành chiến thắng vòng một cuộc bầu cử tổng thống Pháp. Hai người sẽ trực tiếp đối đầu vào ngày 7/5 tới đây khi vòng hai cuộc đua tranh chiếc ghế lãnh đạo nước Pháp diễn ra.

Nếu giành thắng lợi cuối cùng, ông Macron sẽ trở thành tổng thống trẻ tuổi nhất của Pháp. Ông Macron có quan điểm mở cửa với người tị nạn, chủ trương tăng ngân sách quốc phòng và cam kết duy trì mối quan hệ giữa Pháp với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Dù thừa nhận việc bản thân kém vợ đến 24 tuổi là chuyện không mấy phổ biến, song ứng viên tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết ông vẫn tự hào và cảm thấy ổn với cuộc sống hôn nhân.

Ngoài sự nghiệp thành công, ông Macron còn có một mối tình đặc biệt gây chú ý đối với công chúng Pháp. Vợ ông Macron, bà Brigitte Trogneux, là một phụ nữ trang nhã với mái tóc vàng và nụ cười ấm áp. Họ biết nhau khi ông Macron còn học cấp ba ở thành phố Amiens, miền bắc nước Pháp. Trogneux là cô giáo của chàng trai trẻ Macron, khi ấy mới 15 tuổi. Bà hơn ông 24 tuổi.

Lúc bấy giờ, Trogneux đã lập gia đình và có ba con. Bà đang dạy môn văn học Pháp và kịch khi lần đầu tiên gặp ông Macron. Hai người cùng nhau viết một vở kịch. Nhưng sau đó, cha mẹ Macron gửi ông tới học tại thủ đô Paris. Hai người thỉnh thoảng vẫn liên lạc. Đến năm Macron 18 tuổi, bà Trogneux thời điểm này đã ly dị chồng và chuyển tới Paris sống. Họ gặp lại và yêu nhau. Hai người làm đám cưới vào năm 2007.

Dù mối quan hệ giữa hai người bắt đầu như thế nào, nếu ông Macron chiến thắng, họ dường như vẫn sẽ là một trong những cặp đôi có cuộc sống hôn nhân yên ả và truyền thống hơn cả tại Điện Elysee. Tổng thống Pháp đương nhiệm Fancois Hollande đã chia tay người bạn đời khi mối quan hệ giữa ông với một diễn viên Pháp bị tiết lộ. Trong khi đó, cựu tổng thống Pháp Francois Mitterrand được cho là có mối tình bí mật với một nhà sử học nghệ thuật suốt 30 năm.

Tại Pháp, mối quan hệ giữa Macron và Trogneux được dư luận chú ý chủ yếu bởi sự hiếu kỳ, tò mò chứ không phải vì gây tranh cãi, cây bút Gabby Kaufman từ Yahoo News bình luận.

Cảm nghĩ của ông Macron về mối tình với bà Trogneux có thể được gói gọn trong vài câu trích từ bài phát biểu ông đọc tại lễ cưới và đã trở nên nổi tiếng trong quá trình ông vận động tranh cử.

Cảm ơn cha mẹ bà Trogneux vì chấp nhận mối quan hệ giữa họ, Macron thừa nhận ông và bà Trogneux “không phải một cặp đôi bình thường như bao cặp đôi khác. Dù không thích cách miêu tả đó nhưng chúng tôi thực sự là một cặp và chúng tôi có tồn tại”. (theo Vũ Hoàn)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA

CHỢ BẾN THÀNH

& CHỢ ĐỒNG XUÂN

Không phải ngẫu nhiên mà đến chợ Bến Thành (Sài Gòn), người ta sẽ dễ dàng bắt gặp rất nhiều du khách nước ngoài đến đây “tham quan”, mua sắm.

Tất cả đều có lý do, và lý do ấy có thể sẽ khiến bạn ngạc nhiên.

Lớn lên ở phố cổ, quá thân thuộc với văn hoá chợ Đồng Xuân (Hà Nội), thấy mọi người cứ hay so sánh Hà Nội có chợ Đồng Xuân, thì Sài Gòn có chợ Bến Thành, tôi đã không mặn mà gì lắm với việc thăm thú ngôi chợ này một lần cho biết, bởi nghĩ “nó cũng có khác gì chợ Đồng Xuân” đâu ?

Vậy mà lần đầu tiên đặt chân vào chợ Bến Thành, ở một thành phố nhộn nhịp như Sài Gòn, tôi cứ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.

Những người bán hàng “kỳ lạ”

Cũng như chợ Đồng Xuân, chợ Bến Thành thanh lịch rất lâu đời, trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành.

Khu chợ ngay đó cũng có một cái tên tương tự. Nhìn từ bên ngoài, chợ Bến Thành cũng có nhiều nét tuơng đồng so với chợ Đồng Xuân bởi cả hai ngôi chợ đều có ảnh hưởng nhiều từ kiến trúc của Pháp.

Ngay từ khi bước vào cổng chợ, tôi quan sát thấy có rất nhiều khách du lịch nước ngoài ghé thăm, nhiều hơn hẳn chợ Đồng Xuân và đặc biệt hơn, những lời chào mời của những người bán hàng tại đây đã khiến tôi cảm thấy vô cùng thú vị.

Từ anh bán đồng hồ, cô bán vải, hay em gái bán chè, bánh, mứt… đều có thể nói rành rẽ đến mấy thứ tiếng. Chỉ cần thấy một vị khách nước nào đi qua, họ sẽ gọi và chào mời bằng đúng thứ tiếng nước đó (Anh, Pháp, Nhật, Trung, Thái…).

Hẳn nhiên họ không thể đọc thông viết thạo tất cả những ngôn ngữ này một cách chuyên môn, bài bản, nhưng chỉ riêng việc họ có thể chào mời, trả giá và thậm chí là nói chuyện xã giao với khách hàng bằng đúng thứ tiếng của khách thôi cũng đủ để tôi kính nể và thầm thán phục.

Để kiểm chứng “trình độ ngoại ngữ” của họ, tôi vội ghé vào một tiệm bán giày dép, nơi có một anh chủ tiệm đang có vẻ rất bận rộn vì đông khách. Vốn cũng biết đôi chút tiếng Trung, tôi vờ làm một người khách Trung Hoa muốn hỏi mua giày. Thật thú vị, anh chủ tiệm đang liến thoắng chào mời các vị khách người Thái bằng tiếng Thái, vội quay sang hỏi tôi không chút ngập ngừng: “Anh muốn mua loại nào ?” (bằng tiếng Trung). Quả thực lúc đó tôi không còn nhịn được cười nữa, đành hỏi chuyện anh ta bằng tiếng Việt. Anh còn rất trẻ, và những câu chuyện được nói bằng nhiều thứ tiếng của anh còn cho thấy anh là một người trẻ rất năng động nữa.

Tôi vừa chọn một đôi giầy ưng ý, vừa hỏi thăm: “Những người bán hàng ở đây đều có khả năng nói nhiều ngoại ngữ như anh à ?”. Anh cười: “Chuyện bình thường ở chợ mà, ngày nào cũng phải bán hàng cho hết Tây, đến Tàu, rồi cả Nhật, Hàn, thỉnh thoảng có một hai ông Thái Lan nữa… Dân bán hàng, không cố mà học tiếng người ta thì bán cho ai ?”… Và anh tiếp: “Hỏi tui nói giỏi tiếng gì hả ? Tiếng ‘tùm lum’, ‘tá lả’, tiếng gì cũng biết hà…”. (anh cười l

Trong lúc đang đi ngắm các gian hàng, tôi chợt giật mình bởi tiếng chào hàng bằng tiếng Pháp khá chuẩn của cậu bán hàng trẻ này với du khách.

…Chợt nhớ chợ Đồng Xuân 

Ngày còn ở Hà Nội, nhớ mỗi khi có việc phải đi chợ Đồng Xuân, tôi rất lấy làm ái ngại. Bởi chỉ cần đặt chân đến cổng chợ thôi, tôi đã bị cả đội quân đánh giày, kẹo cao su và thậm chí cả trà nóng thuốc lào ùa vào “thăm hỏi”. Cũng may về sau này, tình hình an ninh, trật tự ở chợ cũng đã khá hơn nhiều. Nhưng những hình ảnh buôn bán không đẹp ở chợ Đồng Xuân thì vẫn xuất hiện mỗi ngày khiến khách hàng như tôi phải ít nhiều ái ngại.

Thật dễ dàng nhận thấy một điểm khác biệt rất rõ ràng giữa những người bán hàng tại chợ Đồng Xuân với chợ Bến Thành. Đó là cung cách phục vụ khách hàng. Nếu như những người bán hàng ở chợ Bến Thành luôn vui vẻ chào mời, cố gắng học thêm nhiều ngôn ngữ để dễ dàng giao tiếp mọi đối tượng khách hàng, vẫn giữ thái độ thân thiện, hòa nhã dù khách hàng chỉ ghé vào hàng của mình xem, rồi đi… Thì tại chợ Đồng Xuân hoàn toàn ngược lại.

Nếu bạn vào bất kỳ một gian hàng nào trong chợ Đồng Xuân, người bán hàng ban đầu cũng vui vẻ chào đón, thậm chí là đon đả đến thái quá. Tuy nhiên khi thấy bạn có vẻ không muốn mua, hay chê bai những món hàng của họ, thì ngay lập tức thái độ vui vẻ vừa rồi đã vội nhường chỗ cho sự chanh chua, cáu gắt, thậm chí chửi bới. Và sẽ là tệ hại hơn nữa nếu bạn ghé đúng vào gian hàng nào chưa mở hàng, họ sẽ dùng đủ mọi ngôn ngữ để rủa xả bạn, sau đó sẽ là màn xé báo đốt vía không chút thiện cảm gì.

Việc một người bán hàng có thể thông thạo nhiều ngoại ngữ để giao tiếp với khách nước ngoài tại chợ Đồng Xuân dường như là vô cùng hiếm hoi. Tôi đã từng chứng kiến không ít cảnh các bạn Tây phải dùng đến “tiếng tay” (body language) để diễn đạt sản phẩm mình cần, và tất nhiên là hiện tượng “ông nói gà, bà hiểu vịt” sẽ dễ dàng xảy ra trong hoàn cảnh đó.

Không cần biết văn hoá chợ nào hay ho hơn chợ nào, chỉ riêng việc so sánh lưu lượng khách du lịch nước ngoài đến thăm 2 khu chợ sẽ biết đâu lợi, đâu thiệt? Việc người bán biết lắng nghe, giao lưu với khách hàng bằng chính ngôn ngữ của họ, sẽ khiến khách hàng thấy họ được coi trọng. Và tất nhiên, họ sẽ biết ngôi chợ nào mới là nơi họ muốn quay lại ghé thăm một lần nữa…

…Ghé Bến Thành, chợt nhớ Đồng Xuân mà…chạnh lòng ! (theo Vân Phong)

“XƯA EM

GẮP MIẾNG THỊT GÀ !”

– Đoàn Xuân Thu

Thưa bà con ! Giống như người Tàu ở Hong Kong, ở Macau, người Tàu ở miền Nam Việt Nam mình, nhứt là ở Chợ Lớn, đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese), kế đến mới tới tiếng Triều Châu; chứ không nói tiếng Quan Thoại, (Mandarin), tiếng Phổ Thông, trừ ra những ai có đi học trường Tàu mới biết.

Dân Sài Gòn thường chê những người ưa nói Thánh nói Tướng; nói Trời nói Đất; nói không đâu vào đâu là : “Đồ nói Quảng nói Tiều !

Bà con người Việt rặt ri mình vốn tánh xởi lởi, không xét nét nhỏ mọn, chi li: ai là người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam hay Khách Gia (người Hẹ) gì hết ráo. Mà gọi chung là : Các Chú, Chệt hoặc Ba Tàu.

Đất lành chim đậu mà !

Đến đây thì ở lại đây…

Bao giờ bén rễ xanh cây… hết về…

Đàn ông thì mình gọi là Chú Ba; đàn bà thì mình gọi là Thiếm Xẩm. Chú Thiếm hết ráo coi như ai cũng bà con hết trơn hết trọi hè !

Thưa sau nầy lưu lạc tới những nước nói tiếng Anh, câu chào hỏi đầu tiên là về thời tiết như Good morning ! Good afternoon ! Good evening ! Úc (vua làm biếng) chỉ Gday (Good day) khỏi cần sáng trưa chiều gì cho nó mắc công ! Người Việt mình thì chú trọng về sức khỏe về tinh thần cũng như về vật chất nên gặp nhau thì : “Độ rày có phẻ hông ?

Phẻ nầy cũng nhiều nghĩa, phẻ là có đau bịnh gì không ? Mà phẻ cũng có nghĩa là làm ăn có đồng vô đồng ra đều đều hay không ? Riêng người Tàu (đâu cũng vậy) : “Ăn cơm chưa ?” Có thể suốt từ thời lập quốc tới giờ, người Tàu bị nạn đói cơm rách áo hoành hành nên bị ám ảnh triền miên về cái ăn hay chăng ?

Và chắc cũng chính vì vậy mà người Tàu luôn để cái thú ẩm thực đứng hàng đầu, “số dzách” Nên mới có câu : “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh đẹp cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông đó !

Như vậy người Quảng (Đông) là trùm về ăn uống. Vô Chợ Lớn ghé một tiệm ăn là : “Hầm bà lằng kỷ tố ?” (Tất cả hết bao nhiêu ?) (broken Cantonese!), là phổ ky nó biết mình xạo… Dốt mà bày đặt nói tiếng của ngộ nhe ! He he !

Ôi nhớ xưa ! Tía của người viết có lần trúng xổ số kiến thiết quốc gia (giúp đồng bào ta xây cửa xây nhà)… bèn dắt lóc nhóc một đám vợ cùng con đi ăn cơm Tàu trong Chợ Lớn. Gọi là ăn cơm thố (chưng cách thủy gạo trong thố). Canh hàng chục loại khác nhau, chỉ khác rau cải, heo gà nhưng có cùng chung một loại nước súp cho nó tiện, gọn bân hè !

Sau nầy, qua Úc, biết bao lần đi ăn đám cưới, trong thực đơn bao giờ cũng có món cơm chiên Dương Châu cũng từ Quảng Đông. Khởi thủy đây chỉ là đồ dư thừa của bữa tiệc hôm trước được gom vô, chiên lại. Cơm là cơm nguội, thêm lạp xưởng, trứng chiên, đậu Hòa lan, hành lá… còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên !

Bà con người Việt mình cũng có cái tánh tằn tiện như người Quảng đó thôi. Sau đám cưới, đám giỗ quảy gì đó, thịt thà còn sót lại đổ hết vô một nồi gọi là xà bần… để dành ăn dần… cho tới Tết Congo… mới hết !

Thưa mới đây tui đọc báo thấy bài về Elizabeth Phu, cố vấn cho Tổng Thống Mỹ về an ninh Đông Á đã tháp tùng Barack Obama trở lại đất Sài Gòn mà 36 năm trước đã từng là một thuyền nhân mới lên 3 tuổi… Phu mà có báo viết là Phú nên người viết tò mò muốn tìm hiểu thêm. Thì ra là Phù, viết tiếng Mỹ nên bị văng mất cái dấu huyền thành Phu ! Mấy tay nhà báo bá xí ba tú thêm vô dấu sắc thành Phú !

Họ Phù gốc Đường Sơn trong lục địa Trung Quốc, rồi ra đảo Hải Nam, sống cũng không nỗi nên phải tha phương cầu thực qua nước Việt của mình và các nước khác trong vùng Đông Nam Á ! Họ Phù coi tên lót rất quan trọng; vì cho biết người ấy thuộc đời thứ mấy, vai lớn nhỏ, có tôn ti trật tự đàng hoàng trong giòng họ.

Tên lót hiện thời là Phù Khí hay Phù Thọ là đời thứ 32. Phù Chí hay Phù Quốc là đời thứ 33. Tức cả ngàn năm nữa mới tới đời thứ 66 là hết. Sau đó nếu chưa tận thế thì bà con họ Phù họp lại tại bản thổ là Đường Sơn để làm thơ, đặt tiếp… Cái chuyện đó còn lâu mà !

Nhưng lý thú hơn là, người Hải Nam, họ Phù, có món cơm lừng danh trên chốn giang hồ từ Hải Nam tới Hong Kong, Ma Cau, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai cho tới tận Singapore (coi món cơm nầy là quốc bảo). Đó là cơm gà Hải Nam. Dân Hải Nam thì mùng Hai và Mười Sáu âm lịch thường cúng gà, cúng bà La Sơn Thánh Mẫu. Không có thịt gà là không thành yến tiệc !

Cơm gà là phải có gà. Mà gà Văn Xương mới được, thả trên đồi cho ăn hạt cây, sâu bọ và cùi dừa ! Sau 4 tháng thì bắt về nuôi trong chuồng thêm 2 tháng nữa để vỗ béo bằng bã đậu phọng, gạo và khoai nấu lẫn với nhau. Gà ú nu nhưng ít mỡ, ít cholesterol.

Gạo tám thơm vo sạch đổ vào nồi, sau đó cho thêm một ít mỡ gà, tỏi phi thơm vào khuấy đảo cho đều, rồi đổ nước luộc gà vào nấu, khi nấu chín hạt cơm săn chắc, bóng dầu, chớ không có nở tòe loe, thơm phức…

Nước chấm được pha chế với nấm đông cô, tỏi băm nhuyễn, gừng cà nhuyễn, gia vị thêm tiêu, ớt đường, dấm, các vị mặn, ngọt, chua tùy ý thích mà nêm nếm ! Dưa chua ăn dặm thêm cho đỡ ngán gồm su hào, đu đủ và dưa cải…

Cơm gà Hải Nam theo đầu bếp họ Phù cũng tha phương cầu thực ! (Bán cơm để có cơm mà ăn !). Đến mỗi nơi đổi một chút cho hợp với khẩu vị của người địa phương !

Đến Sài Gòn, vào Chợ Lớn, Cơm gà Siu Siu Hải Nam cũng danh trấn giang hồ trên đường Nguyễn Duy Dương (tức Thiên hộ Dương, một đầu lĩnh nghĩa quân kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười) gần Chợ An Đông. Những dĩa thịt gà vàng óng, những dĩa cơm gà nóng bốc khói, một dĩa đùi gà thêm vài ba cái phao câu và một dĩa gồm gan, mề, lòng, mươi quả trứng non bé bé xinh xinh màu vàng ngậy!

Thực khách (hơi có tiền một chút) uống lave đầu con cọp hay bia 33 là cha thiên hạ rồi!

Nghề chặt thịt, ông chủ tiệm kiêm đầu bếp tiệm cơm đã quen tay, coi giống như là ông đang múa võ; còn hay hơn là Vương Vũ hay Khương Đại Vệ, Địch Long, Trần Tinh hay Sơn Điền Bảo Chiêu múa mã tấu Tàu hay kiếm Nhựt trong phim kiếm hiệp Hong Kong thuở ấy.

Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao chặt cái bụp trên bụng, phân hai. Rồi phập phập ! Hai cái đùi gà văng ra. Bốn đầu ngón tay trái chặn cái đùi gà ! Rồi Phập ! Phập ! Bốn ngón tay lùi tới đâu con dao phập sát tới đó. Phập ! Phập ! Phập ! Xong !

Xúc bằng yếm dao những miếng gà đều đặn, sắp hàng gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên cùng với những chén cơm gà nóng vàng ngậy, bốc khói, thêm hai thứ nước chấm: một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm.

(Nghề chặt thịt siêu đến nổi có thằng nhỏ bị tật nói lắp, tức cà lăm, đến: “Bán… cho tui… ui… một dĩa cơm gà… à…!” Phập phập. Thằng nhỏ chưa dứt câu là mấy cái đùi gà đã xếp hàng ngay ngắn như lính sắp hàng chờ duyệt binh trên dĩa cơm còn bốc khói “Xong rồi Tửng ! Hà cái lầy rinh về cho Tía mầy nhậu đi !”

Thưa bà con ! Ông bà mình thường nói nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh ! Bất cứ nghề nào mà giỏi là giàu có mấy hồi. Nhất là nghề ẩm thực. Chỉ cần vốn ít, ngày nào cũng xoay xong một vòng hết ráo. Sáng mua, bán tới chiều. Tối gom tiền lại, gấp 2, 3… hồi sáng !

Nên xin đừng nghĩ kiểu xưa là : “Sĩ, Nông, Công, Thương”. Anh thương mãi bao giờ cũng đứng chót mà trật bàn đạp…

Người Tàu tha hương giờ đi khắp thế giới nhiều đến nỗi bà con mình thường nói : “Đâu có khói là nơi đó có người Tàu!” Khói là từ bếp của một tiệm ăn nào đó của họ, vươn lên trời xanh mời gọi khách đường xa trong một buổi chiều đói bụng quá ta!

Ghé một tiệm cơm gà Hải Nam trên dọc đường gió bụi, ăn một mình. Gọi dĩa cơm, kèm theo một chai bia ! Ăn xong, no bụng rồi mới xực nhớ là em yêu ở nhà phải ăn cơm với nước mắm kho quẹt quanh năm suốt tháng mà cảm thấy lương tâm mình cắn rứt! Nỡ lòng nào: Hột muối chia hai; mà cục đường anh lủm hết vậy cà?

Làm ăn chí thú, nên dầu chiến tranh ì ì như vậy mà ông chủ tiệm cơm gà Hải Nam Siu Siu nầy phất lên thấy rõ. Từ một cái quán nhỏ tí teo như trái dưa leo giờ ông hết nghèo, chơi trèo, mua một hơi 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương thành một nhà hàng bán cơm gà Hải Nam thật lớn.

Khá rồi nhưng vẫn không phụ nghĩa tình xưa, cái quán cơm Siu Siu thuở đầu hẻm, bàn ghế phải bày ở hàng hiên, vẫn còn nơi mà những khách quen từng lui tới biết chỗ để tìm về kỷ niệm, dắt em yêu hay má bầy trẻ cùng sắp nhỏ đi ăn thuở ấy.

Theo như người biết chuyện, nhà văn Nguyễn Tường Thiết (con trai út của nhà văn Nhất Linh) vốn là hàng xóm sát vách với tiệm cơm Siu Siu, bùi ngùi kể lại ! Tháng Sáu, năm 1978, ông chủ quán cơm gà Hải Nam Siu Siu và toàn gia đình vợ con đành đứt ruột bỏ tất cả để ra đi.

Ra khơi, tàu chìm. Gần trăm người trên tàu không một ai còn sống; chỉ sót một mình ông Siu Siu, bám vào một tấm ván theo sóng biển bập bềnh trôi, tấp vào bãi biển Bến Tre. Ông Siu Siu sau đó nghĩ quẩn riết rồi… thành người mất trí. Không còn vợ con; không còn nhà cửa; không còn quán cơm Siu Siu ngày cũ. Xưa ông bán cơm để làm người ta ăn no. Giờ cay nghiệt thay ông lại đói !

Phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống lây lất trước hàng hiên của chính căn nhà mình năm cũ.

Quán cơm gà Hải Nam Siu Siu gần Chợ An Đông ngày xưa đã không còn nữa nhưng trong kỷ niệm của người Sài Gòn, của người viết đây, vẫn còn sống riết, bám chặt vào tâm tưởng!

Nhớ ngày nào đôi ta còn rất trẻ, mới quen nhau, anh dắt em yêu ra quán cơm Siu Siu (ngày cũ). Em yêu khẽ khàng vén nhè nhè tay áo dài, gắp miếng thịt gà vàng ươm từ trên dĩa, chấm miếng nước mắm gừng bỏ vào chén cho anh.

(Dẫu bây giờ sau biết bao năm mặn nồng hương lửa, giờ em chỉ gắp cho em. Còn anh ? Anh đành gắp cho anh vậy !) Nhưng kỷ niệm thời mới yêu nhau tràn về như sóng làm anh độ lượng mà tha thứ cho cái tật bỏ bê tình cũ của em yêu !

Xưa em gắp miếng thịt gà.

Gừng cay muối mặn tình già cũng (hổng quên !)”

Hu hu! (theo Đoàn Xuân Thu – Melbourne)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

THẾ GIỚI QUANH TA (9)

KHU MỘ CỔ BỊ VUA GIA LONG

XIỀNG VÀ TRU DI TAM TỘC

Khu mộ cổ bị xiềng bí ẩn này được xây dựng bằng chất liệu vôi và ô dước, “hợp chất huyền thoại” nổi tiếng về độ vững bền. Quanh ngôi mộ có nhiều giai thoại…

H1: Trên địa bàn xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ngay nay vẫn tồn tại một khu mộ cổ vợ chồng phú nông Lê Phước Tang, thường được gọi là mộ ông Tang. Tuy vậy, ngôi mộ này cũng được biết đến bằng một cái tên khác: Ngôi mộ cổ bị xiềng xích.

H2: Quanh ngôi mộ bị xiềng có nhiều giai thoại, nhưng phổ biến nhất chính là câu chuyện con trai ông Tang mặc áo vua đi thăm ruộng, khiến cả dòng họ bị tru di tam tộc.

H3: Theo giai thoại này, lúc chúa Nguyễn Phúc Ánh bị nhà Tây Sơn truy đuổi qua vùng đất này đã cùng đoàn người chạy loạn tìm đến nhà ông Tang xin tá túc. Ông Tang không những sẵn lòng giúp đỡ mà còn tận tụy nuôi giấu khiến chúa Nguyễn Phúc Ánh hết lòng tin cẩn. Đến lúc rời đi, chúa Nguyễn đã giao lại một số hành lý nhờ Lê Phước Tang trông giữ.

H4: Khi sắp qua đời do lâm bệnh, ông Lê Phước Tang có kể lại với con cháu việc chúa Nguyễn gửi lại hành lý cho gia đình. Hai con trai ông là Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa (tục gọi là cậu Gương và cậu Sen) liền tò mò mở ra xem thì thấy bên trong có triều phục của chúa.

Do chúa Nguyễn đang bị nhà Tây Sơn đánh tan tác, nên Gương và Sen tỏ ý coi thường triều phục của Nguyễn Ánh. Họ còn lấy áo của nhà vua mặc vào rồi ngang nhiên ra khỏi nhà đi thăm ruộng

H5: Người dân nhìn thấy thì thất kinh, kẻ hầu người hạ lo sợ nên cũng hết mực khuyên can, rằng “nếu sau này chúa Nguyễn phục quốc, hai cậu sẽ mang trọng tội”. Nhưng Gương và Sen chỉ cười lớn, ví von bằng những lời tục tĩu, và cho rằng chúa Nguyễn sẽ không bao giờ đánh bại được nhà Tây Sơn. Sau này, khi ông Tang mất, hai cậu Gương và Sen còn dùng triều phục của chúa Nguyễn để khâm liệm cho cha.

H6: Điều mà Gương và Sen không thể ngờ là Nguyễn Ánh lại đủ sức đánh bại được Tây Sơn và lên ngôi vua. Nhớ ơn xưa, vua Gia Long liền ban chiếu chỉ sai đi tìm gia đình Lê Phước Tang để đền ơn.

Biết tin Lê Phước Tang qua đời, vua định phong tước hầu cho các con trai của ông Tang. Nhưng một số kẻ ganh ghét đã tâu lên nhà vua hành động hỗn xược, khi quân phạm thượng của Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa.

H7: Ngay lập tức, vua Gia Long nổi trận lôi đình. Quá giận, nhà vua không còn coi trọng những ân tình ngày trước. Ông đã ban hình phạt nặng nề và tàn nhẫn nhất dành cho gia tộc họ Lê: lệnh tru di tam tộc, tịch thu toàn bộ gia sản của dòng họ Lê Phước. Cả dòng họ tưởng chừng đến thời vinh hiển, phút chốc bị xóa sổ.

H8: Về phần vợ chồng ông Lê Phước Tang, những tưởng đã chết sẽ được yên, nào ngờ vua còn truy tội “dưỡng bất giáo”, nghĩa là nuôi con mà không dạy dỗ, để chúng làm chuyện đại nghịch. Con dại cái mang, vua phạt đánh roi và xiềng xích cả khu mộ nơi chôn cất vợ chồng ông Lê Phước Tang.

Dân gian còn kể lại, hai cây thị to trong khu mộ ông Tang chính là thị do vua trồng mang hàm ý miệt thị đến muôn đời về sau.

H9: Ngày nay, khu mộ của vợ chồng ông Lê Phước Tang tuy đã trải qua hàng trăm năm nhưng hiện vẫn còn khá nguyên vẹn. Cạnh khu mộ có hai cây thị cổ thụ hình thù cổ quái. Mộ nằm trong khu đất 200 mét vuông, cây cối cỏ dại mọc um tùm, từ lâu đã bị bỏ hoang phế, không người coi sóc

H10: Về tổng quan, khu mộ được chôn theo nguyên tắc truyền đời từ xưa đến nay là nam tả, nữ hữu, có quynh thành bao quanh và 4 trụ hình búp sen, nhưng hiện đã bị gãy mất hai trụ. Ngoài ra còn có bình phong hậu và bình phong tiền. Các dấu tích cho thấy, trước kia các tấm bình phong này có thể được điêu khắc và vẽ hình rất tinh xảo, nhưng thời gian và thời tiết khắc nghiệt đã bào mòn đi.

H11: Mộ phần xây hình kiều ngựa, vốn chỉ dành cho giới quý tộc xưa. Trên mộ phần trang trí hình đường gân lá sen úp. H12: Đặc biệt, khu mộ được xây dựng bằng chất liệu vôi và ô dước, “hợp chất huyền thoại” nổi tiếng về độ vững bền.

H13: Sau hơn 200 năm tồn tại, giai thoại về ngôi mộ cổ bị xiềng đang nhận nhiều nghi vấn từ giới nghiên cứu lịch sử.H14: Theo một số chuyên gia, chuyện “mặc áo vua đi thăm ruộng” của hai con trai nhà Lê Phước Tang chỉ là giai thoại dân gian, chứ chưa có gì gọi là xác thực. Việc gia đình ông Tang bị vua trị tội, một vài tư liệu lịch sử có ghi chép, nhưng giải thích nguyên nhân vì đâu thì chưa rõ ràng.

H15: Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường phân tích, rất có thể gia đình Lê Phước Tang bị trị tội là do Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa có mối liên hệ mật thiết với nhà Tây Sơn, đã hỗ trợ hoặc cung cấp lúa gạo cho quân Tây Sơn. Việc làm của hai người con ông Tang đối với chúa Nguyễn Ánh là hành động bất trung, khiến ông Tang bị vua Gia Long kết tội dưỡng bất giáo…

H16: Một số bậc cao niên sống gần khu mộ cũng cho rằng, chuyện vua cho trồng cây thị với hàm ý miệt thị là không chính xác. Vì trước đây, khu mộ được bảo vệ bằng một hàng rào cây ăn trái. Sau đó do thời gian, lũ lụt, đa phần cây ăn trái trong hàng rào bảo vệ chết hết, chỉ còn lại cây thị có sức sống mãnh liệt đến bây giờ. (theo Kiến Thức)

Sang Huỳnh chuyển tiếp

GIẢ NGHÈO LÀM ĂN MÀY,

MỚI BIẾT RÕ TÌNH NGƯỜI

SAU NỬA NĂM GIẢ ĂN MÀY KÝ GIẢ NEW YORK TIMES VIẾT BÀI GÂY CHẤN ĐỘNG NƯỚC MỸ

William James – ký giả của tờ báo New York Times đã cải trang thành một người lang thang, nghèo khổ và què một chân. Anh đã trà trộn và sống với những người vô gia cư ở Miami, một thành phố ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ khoảng nửa năm để tìm hiểu cuộc sống của họ.

Ngay ngày đầu tiên, nhìn thấy James tàn tật, ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu, từ trong đáy mắt của những người vô gia cư này đã lập tức biểu lộ ra một sự quan tâm; một người đàn ông trong nhóm đã bước đến, đưa cho James một cây gậy gỗ và nói với anh rằng : “Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều”.

James đưa tay đón lấy cây gậy, dùng tay vuốt ve cây gậy này hết lần này đến lần khác, trong lòng không khỏi cảm kích. Đúng lúc đó, một bóng dáng loang loáng phản ánh trên mặt dường, dáng đi không bình thường, ngẩng lên nhìn, trong lòng James cảm thấy như bị cái gì đó thiêu đốt : người đàn ông đưa gậy lúc nãy đang đi cà nhắc…

Chống cây gậy này, James dường như cảm thấy có một loại sức mạnh vô hình từ nó truyền đến; rất mau, anh đã giành được tín nhiệm của những người vô gia cư này. Họ dẫn James đi đến nơi đặt những chiếc thùng rác ở các siêu thị, đến khu dân cư để thu lượm thức ăn và phế liệu bị người ta vứt đi. Họ còn nói cho James biết nơi nào có nhiều đồ phế liệu, những phế liệu nào đáng tiền và nên đi lượm vào khung giờ nào, .v.v…

Trong một lần trông thấy James bước đi khập khiễng một cách vất vả để lật tìm phế liệu, một anh chàng thanh niên da đen với hàm răng trắng bóng đã bước đến, vỗ nhẹ lên vai của James, đưa cho anh túi phế liệu và nói : “Này người anh em, anh hãy đi sang bên cạnh nghỉ ngơi một chút, túi đồ phế liệu này anh hãy cầm lấy đi !”.

James nghe xong, đứng ngẩn ra đó, như thể không tin vào tai mình : “Vậy làm sao được ? Những thứ này cậu vất vả lắm mới lượm được mà !”

Người lang thang đó nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói một cách rất vui vẻ : “Tôi dễ dàng hơn anh một chút”. Nói xong, liền quay người bỏ đi. James xách túi phế liệu đó, nhớ lại câu mà anh chàng da đen vừa nói khi nãy, trong tâm cảm thấy vô cùng ấm áp và cảm động.

Tới buổi trưa, trong lúc đang cảm thấy đói đói, một người đàn ông bị còng lưng trong nhóm đi đến trước mặt James, đưa cho anh hai ổ bánh mì và nói : “Này người anh em, hãy ăn đi !“.

James nghe xong, cảm thấy có chút ngại ngùng : “Nếu anh cho tôi, thế thì anh ăn gì đây ?”. Người đàn ông nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút !”. Nói xong, liền lảng sang bên cạnh bỏ đi.

James cầm hai ổ bánh mì trong tay, nước mắt lã chã rơi, phải rất lâu sau đó mới bình tĩnh lại được. Đến tối, James cùng vài người vô gia cư rủ nhau co rúc dưới chân cầu. Nhìn thấy James ngủ ở nơi ngoài rìa chân cầu, một ông lão đầu tóc bạc trắng chầm chậm đi đến, vỗ nhẹ vào vai anh rồi nói : “Này người anh em, cậu hãy đến ngủ ở chỗ tôi, ở đó thoải mái hơn một chút”.

James nghe xong, cảm thấy nghi hoặc nói:  “Nếu tôi ngủ chỗ ông, thế thì ông ngủ chỗ nào ?” Ông lão đó nghe xong, nhoẻn miệng cười, nói : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút !”

Lại là “tôi dễ dàng hơn cậu một chút !“, James nghĩ, những người vô gia cư sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội này, tuy cuộc sống vô cùng gian khổ, thế nhưng khi họ nhìn thấy người khác khó khăn, đều luôn chìa tay giúp đỡ, họ luôn thấy bản thân mình có một phương diện mạnh hơn người khác.

James sống chung với những người vô gia cư này hơn nửa năm, trong khoảng thời gian hơn nửa năm đó, sớm chiều ở chung đã khiến anh sinh ra tình cảm thân thiết sâu sắc.

Chàng trai vô gia cư người da đen tên Ali luôn thích nói đùa kia, một tay bị tàn tật, nhưng cậu vẫn luôn thích giúp đỡ những người bị tật cả hai tay. Khi người này bày tỏ cảm kích, cậu luôn thích nói một câu : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư tên Bobby, thính giác ở hai lỗ tai không được tốt lắm, mỗi lần nhặt được thứ gì tốt, luôn thích chia sẻ một chút cho người bạn vô gia cư có tật ở mắt; khi người này bày tỏ sự cảm kích, anh luôn nói một câu, chính là: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư thân thể ốm yếu tên Chater ấy, luôn thích giúp đỡ người bạn vô gia cư thân thể béo phì kia của mình; khi nhận được sự cảm kích, câu mà Chater thích nói nhất cũng chính là : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” …

Không lâu sau đó, James có một loạt bài viết trên trang New York Times với tiêu đề : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút.” Loạt bài báo đã gây sự chấn động lớn đối trái tim và tâm hồn hàng triệu độc giả thân thiết của tờ báo. James ngập trong những bình luận bất tận đầy xúc động của độc giả gửi về. Một nhà bình luận nói, đó thực sự là một loạt bài đánh thức những trái tim đã ngủ quá lâu trong sự thờ ơ, lạnh nhạt ở một đất nước quá coi trọng sự riêng tư.

Bất kỳ ai đọc loạt bài đó đều muốn ngả mũ chào những người vô gia cư mà họ gặp, với sự kính trọng thực sự. Tuy họ sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng họ luôn có thể nhìn thấy bản thân mình có ưu thế hơn người khác, và dùng ưu thế nhỏ nhoi ấy để giúp đỡ những người yếu hơn, mang cho người khác một loại cảm giác ấm áp và dũng khí để tiếp tục sống.

Hàng triệu độc giả của tờ báo danh tiếng hàng đầu thế giới bàng hoàng nhận ra, sự rách rưới, bẩn thỉu, tàn tật hay nghèo khó, không ngăn cản con người trở nên tôn quý và cao cả. Và không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương, nỗi đồng cảm, thậm chí cả một chút vật chất vốn không có mảy may ra gía trị gì đối với hầu hết mọi người… như là một cây gậy…

James đã viết trong loạt bài gây chấn động của mình rằng : “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”, là câu nói kỳ lạ nhất lưu truyền trong những người vô gia cư, câu nói kỳ lạ nhất mà anh từng đươc nghe thấy trong đời, bời vì mỗi khi nó được thốt ra từ một người vô gia cư tàn tật, rách nát mà với anh là không thế nào khốn khó hơn, nó bỗng biến thành một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt khiến hết thảy những quan niệm cố hữu về người khác, sự lạnh nhạt, vô tình, sự hãnh tiến và ích kỉ của một người ở tầng lớp trên như anh tan biến. Nó cho anh một thứ niềm tin về cuộc sống mà anh chưa bao giờ cảm thấy khi đến những toà nhà tráng lệ nhất New York, giữa những chính khách, nhà tài phiệt, hay ngôi sao đỉnh cao thế giới..

Và chúng ta, những con người chắc chắn giàu có hơn rất nhiều những người vô gia cư khốn khổ, lại thường là những kẻ kêu ca than phiền nhiều nhất về số phận. Thực ra cuộc đời sẽ đơn giản và hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chúng ta có thể nói “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” với bất kì ai đó mà bạn gặp trên đường đời. Bời vì như những người vô gia cư kia, bạn luôn có thể nói câu nói đầy cảm hứng đó ngay cả khi bạn không có gì cả, ngoài… một trái tim. (theo Aboluowang)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG TÌNH KHÚC TANGO

ĐỂ ĐỜI

Có tài liệu cho rằng điệu Tango xuất phát từ Châu Âu vào thế kỷ 19, nhưng sau đó phát triển mạnh ở Nam Mỹ, đặc biệt là hai quốc gia Argentina và Uruguay. Nói đến Tango, người ta nghĩ đến những bản nhạc với tiết điệu độc đáo, hay sử dụng kỹ thuật đảo phách đặc trưng. Người ta cũng hình dung ra những điệu nhảy quyến rũ, thể hiện sự đam mê nóng bỏng. Hay là những ca khúc với giai điệu lãng mạn, du dương, thu hút người nghe.

Một trong những bản Tango được cho là hay nhất của mọi thời đại, đó là La Cumparsita. Đó là một bản nhạc không lời, được nhạc sĩ Uruguay Gerardo Matos Rodríguez sáng tác vào năm 1916. Ca khúc này có đầy đủ những đặc điểm đã khiến điệu Tango chinh phục giới yêu nhạc toàn thế giới.

Ở Việt Nam, La Cumparsita được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời thành ca khúc với tựa đề Vũ Nữ Thân Gầy. Đây cũng là một trong những ca khúc Tango nổi tiếng nhất ở Miền Nam trước 1975, đặc biệt trong phiên bản do ca sĩ Khánh Ly hát trước 1975. Nhiều người cho rằng Khánh Lý hát Vũ Nữ Thân Gầy là quyến rũ nhất, phù hợp nhất. Nghe ban nhạc Phạm Mạnh Cương đệm cho Khánh Ly hát Vũ Nữ Thân Gầy, người nghe cảm nhận được hết nét đẹp của điệu Tango, trong lời tâm tình của một người vũ nữ:

– Vũ Nữ Thân Gầy

– Khánh Ly : https://youtu.be/dV2iWZ21vFQ

– Thanh Hà : https://youtu.be/EvJaHG2FB48

Đàn đã khơi rồi

Trong lúc đêm tàn rơi, đàn khóc ai hoài

Cho héo hoa lòng tôi, đàn nhớ nhung người

Như sắc hương tàn phai đàn cũ nuôi lời

cho giấc mơ còn lời, Ôi!

nghe tiếng đàn réo mà thương người

Nghe tiếng cười reo xót xa đời

Nhớ nhung đau thương mà thôi…

Giọng hát của Khánh Ly thật liêu trai trong Vũ Nữ Thân Gầy, cho nên đã diễn tả được hết tâm trạng của người con gái chốn vũ trường, say trong men rượu, quay cuồng trong vòng tay kẻ lạ, mà ân tình thường chỉ là trong một đêm : Ta ghì cho tan vỡ trái tim này / Cho người ăn chơi nhíu đôi chân mày / Ta cười cho xanh ngát kiếp lưu đày / Cho người vũ nữ khóc tấm thân gầy / Chưa nói yêu nhau mà lòng đã đau / Chưa nói mê say mà tình đã bay / Chưa biết môi em mà lòng đã quên / Đã qua một đêm…

Những ca khúc Tango do nhạc sĩ Việt Nam sáng tác rất đa dạng. Có khi sang trọng, quí phái kiểu Tây Phương như ca khúc Chiều của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ thơ Hồ Dzếnh. Nhưng cũng có khi trở về với những khu phố đô thị nghèo, giống như thời kỳ khởi đầu của Tango, thường xuất hiện trên đường phố tại Nam Mỹ. Phố Buồn của Phạm Duy là một ca khúc Tango đã diễn tả rất tượng hình một khu phố nghèo Sài Gòn trong một đêm mưa :

– Phố buồn – Phạm Duy – Khánh Ly

https://youtu.be/AkswNKs8EGk

– Khánh Ly và những bài hát Tango (2:14’)

https://youtu.be/oQ745XKSQqo

List nhạc : 1/- Tango Dĩ Vãng 2/- Phố Buồn – 3/- Thung Lũng Chim Bay 4/- Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ 5/- Giáng Ngọc 6/- Bài Tình Ca Mùa Đông- 7/- Vũ Nữ Thân Gầy 8/- Kiếp Nghèo 9/- Bài Tango Cho Em 10/- Tình Yêu Đến Trong Giã Từ

11/- Bắc Một Nhịp Cầu 12/- Bóng Chiều Xưa – 13/- Caminito – 14/- Cánh Buồm Xa Xưa – 15/- Cánh Hoa Xưa 16/- Chờ Đợi Ai – 17/- Chờ – 18/- Đẹp Giấc Mơ Hoa – 19/- Hờn Ghen 20/ Kiếp Ve Sầu

21/- Làm Sao Em Khóc 22/- Mộng Ban Đầu 23/- Ngỡ Ngàng 24/- Nguyện Cầu Cho Người 25/- Qua Bến Năm Xưa 26/- Tango Điên 27/- Tango Xanh 28/- Tango Xanh 29/- Tiếc Thu 30/- Tiếng Đàn Tôi

31/- Tình Cho Không 32/- Tình Trăng 33/- Tơ Sầu 34/- Trở Về Huế 35/- Vườn Hồng Dưới Trăng

Ðường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em

Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên

Qua mấy gian không đèn, Những mái tranh im lìm

Ðường về nhà em tối đen.

Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen

Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm

Em bước chân qua thềm, Mưa vẫn rơi êm đềm

Và chỉ làm phố buồn thêm…

Phải công nhận là ít có người  “tả chân” cái cảnh nghèo bằng âm nhạc mà hay đến thế ! Nghèo nhưng không chỉ có cảm giác u uất, mà vẫn pha chút hương vị lãng mạn. Như ở đoạn điệp khúc, khi giai điệu chuyển từ thứ sang trưởng, điệu Tango của Phạm Duy như làm sống động thêm những giọt mưa rơi trên mái, rơi xuyên qua mành, rơi chạm xuống những con ngõ lầy lội :

Hạt mưa, mưa rơi tí tách / Mưa tuôn dưới vách / Mưa xuyên qua mành / Hạt mưa, mưa qua mái rách / Mưa như muốn trách / Sao ta chạy quanh. / Hạt mưa, mưa yêu áo rách / Yêu đôi sát nách / Mưa ngưng không đành / Hạt mưa, mưa gieo tí tách / Mưa lên tiếng hát / Ru cơn mộng lành…

Dùng nhạc để tả cảnh, giúp người nghe hình dung ra như xem một bức tranh vẫn là điểm độc đáo nhất của nhạc sĩ Phạm Duy. Và Tango cũng rất “mùi mẫn” khi diễn tả những mối tình buồn, thường gặp trong những ca khúc Nhạc Vàng ở nhiều tiết điệu khác nhau. Bài Tango Dĩ Vãng của nhạc sĩ Anh Bằng (xem và nghe danh mục trên) là một ca khúc “Tango mùi” được yêu chuộng  bậc nhất:

Em khóc tơ duyên bẽ bàng nằm ôm sầu nhớ mênh mang

Anh xót xa cho thân người lữ khách nơi phương trời

buồn hơn lá thu rơi.

Em ngóng quê hương xa mờ gọi ân tình quá bơ vơ

Anh ngóng chim bay thẫn thờ thương nhớ hơn bao giờ

Tình thiên thu đứng chờ.

Bài Tango hôm nào bước đi Tango người yêu

Thành kỷ niệm ngàn sau,

Thành vết thương tình yêu, thành những cơn cuồng bão.

Bài Tango xa rồi bước đi Tango lẻ loi

Ðường năm xưa hoang tàn lòng cô đơn muôn phần

Thành phố vắng đi đôi tình nhân…

Sự đa dạng của những ca khúc Tango Việt lại một lần nữa minh chứng cho sự thành công của một nền văn hóa tự do, đầy sáng tạo của Miền Nam trước 1975. (theo Cung Mi)

Phan Tất Đại chuyển tiếp